“Lạm phát đáng lo hơn chuyện doanh nghiệp phá sản”

LÊ HƯỜNG

08/08/2008 10:02 (GMT+7)

picture "Chống lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng là hai vấn đề mang tính đánh đổi".
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Ông Hisatsugu Furukawa, chuyên gia chính sách tiền tệ, Văn phòng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) bày tỏ quan điểm về chính sách tiền tệ của Việt Nam.

Phá sản là kết quả tự nhiên của thắt chặt tiền tệ

Ông đánh giá như thế nào về nhận định cho rằng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ đứng trước một lựa chọn khó khăn, đó là nới lỏng chính sách tiền tệ và chịu tình trạng lạm phát cao, hay vẫn thắt chặt tiền tệ và chấp nhận rủi ro tín dụng của các ngân hàng?

Quan sát tình trạng hiện tại cho thấy, đúng là Ngân hàng Nhà nước đang gặp tình huống khó khăn trong việc kiềm chế lạm phát và nhu cầu thanh khoản của lĩnh vực ngân hàng, doanh nghiệp, cũng như khó khăn giữa kiềm chế lạm phát và đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế.

Đây là hai vấn đề mang tính đánh đổi. Lãi suất và tăng trưởng tín dụng là các phần của chính sách tiền tệ. Tăng lãi suất và hạ tỷ lệ tăng trưởng tín dụng đều nhằm mục đích thắt chặt tiền tệ.

Hiện nay, mục tiêu hàng đầu của Việt Nam là kiềm chế lạm phát bằng chính sách tiền tệ và tài khóa. Tỷ lệ tăng trưởng là mục tiêu thứ hai sau kiềm chế lạm phát. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ nên tiếp tục chính sách thắt chặt tiền tệ này.

Một điều đáng chú ý nữa, quyết định của Chính phủ về cho phép tăng giá xăng dầu có thể lại đẩy lạm phát tăng cao. Không ai có thể biết được chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng 8 và tháng 9 sẽ là bao nhiêu. Vì vậy, phải rất cẩn thận trước sự biến động của chỉ số giá tiêu dùng.

Sự thật là mọi người vẫn lo ngại về khả năng mất thanh khoản của các ngân hàng và doanh nghiệp. Nhưng thắt chặt tiền tệ và tài khóa nhằm mục đích làm chậm lại các họat động kinh tế một khi đã bị thúc đẩy quá mạnh mẽ, nếu không, lạm phát không thể được kiểm soát. Để tiếp tục kiềm chế lạm phát, chúng ta cần khôi phục sự cân bằng tốt giữa cung và cầu.

Trong tình huống hiện nay, giảm cầu hoặc làm chậm các hoạt động của nền kinh tế, có phần phù hợp. Vì vậy, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục chính sách thắt chặt tiền tệ và lãi suất cho đến khi rõ ràng là tình trạng lạm phát đã được kiểm soát.

Thế nhưng, nếu tiếp tục thắt chặt tiền tệ, không chỉ ngân hàng mà nhiều doanh nghiệp sẽ rất khốn đốn trong nửa cuối năm nay?

Tôi mạnh dạn cho rằng, phá sản là kết quả tự nhiên của chính sách thắt chặt tiền tệ.

Đây là một sự điều chỉnh vĩ mô và nền kinh tế phải chấp nhận kết quả này. Nhiều doanh nghiệp vẫn đang duy trì được công việc của họ. Chúng ta phải hiểu rằng, những doanh nghiệp không thể quản lý hiệu quả hoạt động của họ theo sự thay đổi của tình huống có thể gặp khó khăn và cần phải đóng cửa công việc của họ.

Việt Nam cần kiểm soát lạm phát vì tăng trưởng kinh tế ổn định dài hạn. Trong năm ngoái và nửa đầu năm nay, Việt Nam đã trải qua một hiện tượng bong bóng trong các hoạt động kinh tế.

Hoạt động kinh tế quá nóng đã làm tốc độ tăng trưởng tín dụng gia tăng mạnh mẽ trong năm 2007. Để hiện thực hóa sự tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, chúng ta cần phải làm mát nền kinh tế vốn đang bị quá nóng. Vì vậy, hiện nay, Việt Nam cần điều chỉnh tốc độ mở rộng tín dụng mặc dù điều này có thể đẩy một số doanh nghiệp vào tình trạng khó khăn về tài chính.

Chính sách thắt chặt tiền tệ và tài khóa, nếu tiếp tục được áp dụng trong một thời gian nhất định có thể tạo được sự thay đổi về cấu trúc cho nền kinh tế Việt Nam. Nhưng đấy là một bước đi cần thiết để nền kinh tế Việt Nam tăng năng lực và hiệu quả quản lý của các doanh nghiệp Việt Nam.

Nếu Việt Nam cứ cố gắng giữ những doanh nghiệp không hiệu quả trong thị trường, điều đấy có nghĩa là, nền kinh tế sẽ tiếp tục chấp nhận sự tồn tại của một phần không hiệu quả và sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng dài hạn.

Để “sống sót” trong môi trường cạnh tranh thế giới, nền kinh tế Việt Nam cần trở nên mạnh mẽ và hiệu quả hơn. Để thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam hoạt động hiệu quả hơn, Việt Nam cần tái cơ cấu hệ thống sản xuất và cách thức kinh doanh.

Nếu chúng ta mong muốn xây dựng cấu trúc kinh tế hiệu quả hơn cho đất nước, sự thay đổi về cơ cấu là cần thiết, mặc dù nó có thể gây ra những hậu quả không mong muốn chẳng hạn như phá sản. Nếu bạn muốn nhảy, bạn cần phải hạ thấp người xuống một chút để lấy đà, đây là hành động chuẩn bị cần thiết.

Lo ngại nhiều hơn về áp lực lạm phát

Nếu tiếp tục duy trì chính sách thắt chặt tiền tệ, các doanh nghiệp gặp khó khăn, liệu chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế năm nay có đạt được không, thưa ông?

Tôi lo ngại nhiều hơn về áp lực lạm phát hơn là tình trạng phá sản hay giảm sút tăng trường kinh tế trong ngắn hạn.

Lạm phát ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế trong dài hạn. Lạm phát ảnh hưởng đến người dân và đặc biệt những người có thu nhập thấp bị ảnh hưởng trầm trọng hơn những người giàu. Nếu chúng ta cho phép lạm phát, tiềm năng tăng trưởng kinh tế sẽ bị hủy diệt.

Tiếp tục lạm phát sẽ làm đồng VND yếu đi so với các ngoại tệ khác, điều này sẽ ảnh hưởng đến cán cân thương mại và có thể dẫn đến tình trạng đầu cơ tiền tệ. Vì vậy, nếu tỷ lệ lạm phát gia tăng, nhà đầu tư nước ngoài sẽ phải hứng chịu và có thể cắt giảm các nguồn đầu tư FDI và thoái vốn khỏi Việt Nam.

Nhiều ý kiến cho rằng, chính sách tiền tệ lúc “thắt”, lúc “mở” gây khó cho doanh nghiệp trong việc hoạch định những chiến lược dài hơi. Ông nghĩ sao về nhận định này?

Điều này cho thấy rằng có thể sự không nhất quán và thiếu minh bạch đã làm gia tăng sự biến động trên thị trường.

Vấn đề này xuất phát từ lĩnh vực tài chính và hệ thống tài chính chưa phát triển của Việt Nam. Vì vậy, rất cần thiết hiện thực hóa càng sớm càng tốt việc cải cách hệ thống ngân hàng theo định hướng của Nghị định 112 của Chính phủ.

Việt Nam cần chiến lược phát triển dài hạn, để chuẩn bị cơ sở hạ tầng tốt. Nếu các bạn có cơ sở hạ tầng tốt, sẽ tạo điều kiện cho đầu tư dài hạn và các họat động kinh tế hiệu quả hơn. Đầu tư dài hạn, cũng cần thiết phải có các nguồn lực vốn dài hạn.

Tại Việt Nam, kênh huy động vốn trong nước dài hạn còn khá hạn chế. Phần lớn nguồn vốn dài hạn là FDI và ODA từ nước ngoài. Vì vậy, rất cần phải giới thiệu cơ chế huy động tiền tiết kiệm hiệu quả từ dân chúng để tạo nguồn vốn trung và dài hạn.

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Lương Minh Trí

    19:09 (GMT+7) - Thứ Bảy, 9/8/2008

    Trong tình hình hiện nay, lãi suất huy động của các ngân hàng quá cao làm cho tất cả các người dân đều thích gửi tiết kiệm, còn hệ thống ngân hàng chỉ huy động để đảm bảo tính thanh khoản của họ không dám cho vay ra nhiều vì cho vay sẽ lỗ.

    Nhưng cho dù không cho vay thì các ngân hàng đến nay vẫn lời do các hợp đồng tín dụng cũ đã bị điều chỉnh lãi suất theo giá mới là 21%/năm nên các ngân hàng đã có các con nợ cũ gồng gánh lãnh trả lãi huy động tiết kiệm cao dùm họ, họ không lo lắng gì đâu và bằng chứng là các ngân hàng vẫn báo cáo lãi cao đó sao.

    Vậy là cho dù họ có sai lầm trong kinh doanh trước đó, nhưng họ còn có cơ hội có quyền sửa chửa sai lầm bằng cách bảo toàn mọi hoạt động của họ chuyển gánh nặng về cho các doanh nghiệp và cuối cùng là người dân có vay ngân hàng, và người tiêu dùng cả nước.

    Vậy trong tình hình này ai được lợi?

    Tôi cho rằng đó là các nhà đầu cơ giá xuống, các công ty tài chính, các quỹ đầu tư, các ngân hàng và các doanh nghiệp có vốn nước ngoài tại Việt Nam vẫn sống khoẻ, thậm chí họ còn được lợi nhiều hơn, trong tình hình hiện nay vì các lý do sau:

    - Họ đang thừa tiền rủng rỉnh, và đang mừng thầm vì không có dịp nào tốt hơn là thời điểm này để chờ thôn tính các doanh nghiệp cùng ngành nghề ở Việt Nam và bành trướng thị trường với giá rẻ so với chi phi quảng cáo, tiếp thị hàng năm để có được thị phần và cơ sở vật chất như vậy.

    - Họ được vay vốn ở nước ngoài với lãi suất thấp khoảng 4%/năm, và với tình hình tỉ giá ổn định như hiện nay, họ đem tiền USD đổi ra tiền Việt NamD gửi ngân hàng thì cũng lời rất cao. Vì thế vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp đều có thể yên tâm giải ngân vì chưa đầu tư vẫn có các ngân hàng Việt Nam trả lãi cho họ vì các ngân hàng này thiếu thanh khoản phải huy động tối đa, lãi suất ngắn hạn qua đêm cũng đến 13%/ngày, 1 tháng17,3%.

    - Các quỹ đầu tư chứng khoán có giải ngân đồi ra Việt NamD mà không mua chứng khoán được thì cũng được hưởng lãi suất qua đêm cực cao ở Việt Nam, do đó họ rất ăn ngon ngủ yên chờ cơ hội các doanh nghiệp sụt đổ sẽ tung tiền ào ra mua với giá rẻ, vì ở nước ngoài các quỹ mà lãi 18%/năm là trên cả tuyệt vời.

    - Trong khi các ngân hàng trong nước giảm tăng trưởng tín dụng thì các ngân hàng và các công ty tài chính nước ngoài với nguồn tài chính dồi dào, đang ung dung, tranh thủ mở rộng thị phần mà không gặp bất cứ sự cạnh tranh nào như HSBC, Standard Charter, ANZ, Prudential, SG Finance …

    Họ vẫn cho vay tiêu dung với lãi suất 12%/năm tính gộp 36 tháng, họ tăng cường tiếp thị cho các cá nhân có tiền ở Việt Nam, các doanh nghiệp làm ăn có lãi có tương lai , và hiện nay tốc độ cá nhân và doanh nghiệp mở tài khoản giao dịch tại các tổ chức này ngày càng tăng.

    - Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, vay vốn của các công ty, tập đoàn, các ngân hàng ở nước ngoài giá thấp mang vào Việt Nam kinh doanh, khi có doanh thu họ gửi qua đêm ở các ngân hàng nuớc ngoài ở Việt Nam, các ngân hàng này lại cho các ngân hàng Việt Nam vay qua liên ngân hàng để hưởng lợi vì lãi suất cao.

    Không có bất cứ doanh nghiệp nào gặp khó khăn ở thị trường Việt Nam trong tình hình hiện nay vì với ưu thế có thị phần, nhãn hiệu riêng, nên tất cả các các chi phí họ sẽ cộng vào giá bán cho người tiêu dùng. Rốt cục các doanh nghiệp và ngân hàng Việt Nam phải trả lãi suất quá cao cho các doanh nghiệp và các tổ chức tài chính nước ngoài. Họ bất chiến tự nhiên thành, ngồi mát ăn bát vàng ở thị trường tài chính Việt Nam.

    - Vì thế, các ngân hàng, các doanh nghiệp trong nước càng khó khăn họ càng mừng.

    Bằng chứng là các doanh nghiệp nước ngoài vẫn ào ạt vào Việt Nam, các doanh nghiệp sẵn có thì tranh thủ mởi rộng để chuẩn bị bành trướng thị trường kinh doanh phân phối vào năm 2009, trong khi các doanh nghiệp trong nước phải trả mặt bằng đẹp, thu hẹp sản xuất...

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Tài chính

Mai Thiên Bình

18:52 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

Những hợp đồng tín dụng với lãi suất không theo luật ngân hàng thì sẽ xử lý ra sao?...

Trong bài: Sự thật của trần lãi suất cho vay (31 ý kiến)

H

18:25 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

Ai khó khăn đâu không thấy. Tôi chỉ thấy quán nhậu vẫn đông. Ở đó toàn giám đốc, trưởng phòng hoặc nhân viên công ty...

Trong bài: Sự thật của trần lãi suất cho vay (31 ý kiến)

GFGO

18:20 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

Vàng là thứ được đào dưới đất lên sau đó lại đào lổ chôn xuống ! Không có tác dụng gì nhiều. Trang sức ư?...

Trong bài: Vì sao nhà đầu tư thế giới “chán” vàng? (1 ý kiến)

Mai Thiên An

16:33 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

nếu Luật ngân hàng quy định mọi lãi suất không quá 150% lãi suất cơ bản thì hóa ra lâu nay luật ngân hàng chưa...

Trong bài: Sự thật của trần lãi suất cho vay (31 ý kiến)

Lê Anh Quang

15:53 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

Rất hay, nêu rõ ràng sự hạn chế của Thông tư 14....

Trong bài: Sự thật của trần lãi suất cho vay (31 ý kiến)