Lạm phát giảm tốc: Vừa mừng vừa lo...

NGUYỄN HOÀI

08/08/2008 10:53 (GMT+7)

picture Có lý do để lo khi lạm phát giảm.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
“Khi lạm phát bắt đầu giảm, khó khăn thanh khoản hồi phục, cũng chính là lúc doanh nghiệp gặp khó vì nội lực cạn kiệt trong khi nợ nần đến hạn. Và đó là cơ hội của các nhà đầu tư nước ngoài trong một chiến lược dài hơi”, một chuyên gia cảnh báo về những thua thiệt của nền kinh tế sau khi bất ổn kinh tế vĩ mô được giải quyết.

Theo ông Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Chiến lược và Phát triển ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước), trong giai đoạn hiện nay, mặc dù nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn gay gắt nhưng doanh nghiệp vẫn cầm cự được do nội lực tích tụ từ trước và tiếp tục huy động sức dân.

Khó khăn vẫn chưa hết

“Nhưng giai đoạn tiếp theo, nhiều doanh nghiệp sẽ đối mặt với những thách thức không dễ vượt qua, lợi nhuận không còn, nợ nần ngân hàng đến hạn, khả năng thanh toán bị tổn thương và chuyện phá sản là khó tránh”, ông Nghĩa nói.

Vị chuyên gia này cũng dự đoán, 6 tháng cuối 2008 đến nửa đầu 2009, nền kinh tế sẽ còn khó khăn hơn và chỉ có thể phục hồi vào nửa cuối năm 2009 để đà tăng trưởng trở lại vào năm 2010.

Cùng với hành trình đó, khi kinh tế vĩ mô tốt hơn thì dường như kinh tế vi mô lại xấu thêm bởi khoảng cách giữa vĩ mô và vi mô thường có độ trễ ít nhất 6 tháng.

Trên thực tế, theo công bố của Tổng cục Thống kê, tốc độ tăng CPI tháng 7/2008 so với tháng liền kề chững lại ở mức 1,13%. Theo các chuyên gia, có 2 nguyên nhân.

Một là, tốc độ tăng trưởng tín dụng giảm rất mạnh. Bảy tháng đầu năm, tốc độ tăng trưởng cho vay nền kinh tế là 18,36% và dự kiến, con số này trong những tháng còn lại của 2008 chỉ 12%. Như vậy, tốc độ tăng trưởng tín dụng cả năm nhiều nhất là 30% và so với 54% của năm ngoái thì đây là một “cú” thắt chặt tiền tệ có thể nói là “hà khắc”.

Hai là, tổng phương tiện thanh toán năm ngoái tăng gần 44% nhưng năm nay dự kiến chỉ tăng 11%, bằng 1/4 năm ngoái.

Với hai lý do này, ông Nghĩa cho rằng, lạm phát những tháng tới sẽ giảm rất mạnh, nhưng kèm theo đó là cái giá phải trả vô cùng đắt đỏ đối với các doanh nghiệp.

Với chính sách thắt chặt tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, hầu như việc tiếp cận vốn ngân hàng của doanh nghiệp chỉ dừng ở vốn vay lưu động, rất thiếu vốn để đầu tư sản xuất do chi phí vốn quá cao. Ông Trần Bắc Hà, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), nói: “Hiện tại, hầu hết vốn vay ngân hàng là vốn lưu động ngắn hạn dưới 12 tháng. Rất ít ngân hàng giải ngân vốn cho trung hạn, dài hạn vì họ không dám mạo hiểm”.

TS. Vương Quân Hoàng cho rằng, theo logic thông thường, khi doanh nghiệp khó khăn, lại thiếu nguồn vốn bổ sung trong khi chu kỳ trả nợ đang đến gần thì đương nhiên, câu chuyện vỡ nợ là khó tránh khỏi và bài toán lúc đó là sáp nhập, hợp nhất, mua bán nợ. Vậy ai bán, ai mua và sẽ mua gì?

“Vó” đang giăng ra (!?)

Chưa biết những quan điểm trên đúng sai đến đâu nhưng theo phân tích của ông Nguyễn Mạnh, Giám đốc Ban nguồn vốn BIDV thì, kinh nghiệm những quốc gia thời kỳ đầu gia nhập WTO cho thấy, do trình độ quản lý còn hạn chế, khả năng hấp thụ nguồn vốn ngoại của nền kinh tế chưa tốt nên lạm phát xảy ra là điều khó tránh. Một khi chính phủ các nước đó tập trung chống lạm phát thì hậu quả là doanh nghiệp bị suy thoái, những thị trường nhạy cảm như chứng khoán, bất động sản sẽ đình trệ và suy thoái theo.

Đó là cơ hội cho các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài mua lại những tài sản Có, đặc biệt là chứng khoán và bất động sản. Ông Mạnh dẫn chứng: qua theo dõi báo cáo thị trường chứng khoán châu Á của một tổ chức kinh tế nổi tiếng nước ngoài thì mặc dù trong 7 tháng qua, dòng vốn ngoại đổ vào các nước Nhật Bản, Hàn Quốc cùng một số nước trong khu vực đang “âm” thì ngược lại, thị trường chứng khoán Việt Nam đón nhận thêm 439 triệu USD từ dòng vốn đầu tư gián tiếp (FII).

Còn đối với thị trường bất động sản thì sao? Số liệu từ Viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế TW (CIEM) cho thấy, nếu như năm 2006, vốn FDI đăng ký vào lĩnh vực bất động sản chỉ 480 triệu USD thì con số này của năm 2007 là 4,7 tỷ USD với 28 dự án.

Sự bất thường tiếp tục gia tăng khi 7 tháng đầu năm 2008, vốn FDI là 45,2 tỷ USD thì bất động sản chiếm tới 51% và sự gia tăng này diễn ra đồng thời với thị trường bất động sản trong nước đang đóng băng ở mọi phân khúc: bất động sản du lịch, nhà ở cho người thu nhập thấp và cả bất động sản cao cấp.

“Có một thực tế là các chủ dự án bất động sản Việt Nam đã chuyển dự án cho nhà đầu tư nước ngoài và với tình trạng này, khó có thể nói là thị trường bất động sản đóng băng”, ông Trần Bắc Hà nói. Thực tế này càng rõ hơn khi một khu phức hợp khách sạn - văn phòng - căn hộ của nhà đầu tư nước ngoài rộng mấy hecta trên trường đường Phạm Hùng, hiện đang rao bán với giá 3.000 USD/m2 trong khi giới xây dựng cho biết giá vốn chỉ 1.000 USD/m2!

Những diễn biến trên thị trường bất động sản hiện nay lại càng thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài bởi theo ông Trần Bắc Hà, trong những dự án bất động sản, thông thường vốn tự có của chủ đầu tư chỉ chiếm 20% - 30% và chủ yếu là để giải quyết vấn đề thủ tục pháp lý, giải phóng mặt bằng, lập dự án, còn phần triển khai dự án (chiếm 70% - 80% tổng vốn) phải đi vay ngân hàng và hiện nay đã đến chu kỳ trả nợ.

Ông Hà cũng cho rằng, trước mắt, rất cần thiết phải có sự phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính và Bộ Xây dựng để có những phân tích đầy đủ, đề ra biện pháp tháo gỡ thế bế tắc cho thị trường bất động sản trong thời gian gần đây và giảm sự lệ thuộc của thị trường vào tay các nhà đầu tư nước ngoài.

Làm được điều này không chỉ hạn chế sự thua thiệt đã nhìn thấy trước (do lợi nhuận thay vì chảy vào ngân sách và người dân thì lại bị chuyển ra nước ngoài trong khi chúng không tạo thêm việc làm đáng kể) mà ngoài ra, còn tháo gỡ cả khó khăn cho hệ thống ngân hàng.

Bởi theo chuyên gia ngân hàng Kiều Hữu Dũng, các ngân hàng hiện đang nắm giữ tổng giá trị bất động sản là tài sản thế chấp của doanh nghiệp rất lớn.

Nếu thị trường bất động sản suy thoái kéo dài, không những doanh nghiệp kinh doanh trong thị trường này bị đổ vỡ mà nền kinh tế còn bị thiệt đơn thiệt kép do một phần lớn lợi ích quốc gia sẽ bị chảy vào túi nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời ngân hàng muốn bán bất động sản để thu hồi nợ cũng không dễ dàng và nguy cơ ngân hàng mất luôn cả “gốc lẫn củ” không thể không xảy ra.

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Nguyễn Trí Dũng

    02:09 (GMT+7) - Thứ Năm, 14/8/2008

    Việc không tạo thêm việc làm đáng kể từ các nguồn đầu tư nước ngoài taị các dự án bất động sản cũng là điều đã rõ. Ở quê tôi, đất đai bờ xôi ruộng mật đã hết. Người dân không có việc làm. Cùng lắm được bố trí làm ông bảo vệ nhà máy, bà tạp vụ khu vực ngoài của khu nhà cao cấp.

    Tôi nghĩ, không sợ thị trường bất động sản đóng băng, chỉ sợ mất đất rồi thì không còn cách nào gỡ lại được. Đã đành trình độ của các nhà đầu tư các dự án bất động sản trong nước còn quá non yếu, nhưng không vì thế mà "rước" một cách quá vội vàng, thiếu cân nhắc các đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực này.

  • Trần Quang Huy

    16:49 (GMT+7) - Thứ Tư, 13/8/2008

    Tôi đồng ý quan điểm và nhận định của bạn Hiếu. Tôi cũng muốn bổ sung thêm rằng việc tăng lãi suất cao hấp dẫn người gửi nhằm hút tiền VND đang lưu thông.

    Đây là một biện pháp rất hữu hiệu để giảm lạm phát, giảm mức tiêu dùng của người dân. Như vậy sẽ không phải như bạn Trí nói là người nghèo sẽ thiệt thòi hơn.

  • Hoàng Nam

    16:41 (GMT+7) - Thứ Ba, 12/8/2008

    Tôi có ông chú định cư ở nước ngoài, vừa rồi ông về nước và mang theo 100.000 USD. Ông có dự định đầu tư một chút gì đó tại Việt Nam, nhưng cuối cùng ông đã đổi toàn bộ USD ra VND và gửi vào ngân hàng với lãi suất 18,2%/ năm.

    Theo ông chú tôi, ở bên đó, các doanh nghiệp như của ông ấy có thể tiếp cận nguồn vốn khá lớn với lãi suất cho vay khoảng 5%/năm. Nếu chỉ cần mang số tiền đó về gửi tại ngân hàng Việt Nam với lãi suất 7%/năm như hiện nay thôi thì ông ấy đã có dư 2% mà không phải làm gì. Tuy nhiên, nếu đổi ra tiền VND, gửi ngân hàng sau đó mua lại USD sẽ mang lại lãi suất còn cao hơn.

    Đơn cử: nếu cho vay bằng USD, mỗi năm ông ấy bỏ túi 2.000 USD. Nhưng nếu đổi ra VND (với tỷ giá 16.500 đồng/USD). mang đi gửi với lãi suất 18,2%/năm (tại một số ngân hàng) và mua lại USD sau 1 năm với tỷ giá dự đoán là 17.500 đồng/USD, ông ấy sẽ bỏ túi hơn 12.000 USD sau khi đã trả cả vốn lẫn lãi. Nếu tỉ giá được kìm không lên đến 17.500 đồng/USD, ông ấy còn bỏ túi nhiều hơn.

  • Phuong

    09:44 (GMT+7) - Thứ Hai, 11/8/2008

    Theo tôi, quan điểm của ông Trí về giải quyết vấn đề lạm phát có nhiều điểm rất hay. Việc duy trì lãi suất thực dương trong giai đọan này chỉ giống như cho bệnh nhân uống thuốc giảm đau.

    Nếu so sánh với các nước trong khu vực thì lãi suất thực của Việt Nam vẫn còn quá hấp dẫn, không chỉ huy động được vốn của nhà đầu tư trong nước mà ngay cả các tổ chức nước ngoài cũng sẽ cân nhắc.

    Theo tôi, Việt Nam sẽ dần vượt qua giai đọan khó khăn này vì nội lực và tiềm năng của Việt Nam vẫn còn tương đối, nhưng nền kinh tế cũng sẽ phải trả một giá không nhỏ trong dài hạn. Đó là quy luật.

  • Nguyễn Trung Hiếu

    10:25 (GMT+7) - Chủ Nhật, 10/8/2008

    Theo ý kiến của tôi, bạn Trí đưa ra nhiều ý kiến rất là chủ quan:

    -Thứ nhất, lãi suất cao là một công cụ rất hữu dụng để lọc ra các dự án đầu tư có chất lượng, vì chỉ có các dự án "tốt" mới chịu đựng nổi lãi suất cao như hiện nay.

    Khi mà trong nền kinh tế, không phải bất kỳ người dân nào cũng có khả năng đầu tư và kinh doanh tốt thì việc gửi tiền vào ngân hàng là lựa chọn số một, nhất là với người nghèo, những người công nhân, những công chức nhà nước thu nhập thấp, họ chỉ có thể để dành một lượng tiền ít ỏi, nhưng nay do lạm phát cao, lãi suất ngân hàng thấp, không lẽ họ phải đua nhau đi đầu tư.

    Mặt khác, việc thu hút vốn từ người dân nhờ lãi suất cao đã giúp cho hệ thống ngân hàng tập trung một lượng vốn lớn để đầu tư xã hội.

    Thêm vào đó, như đã nói ở trên, lãi suất cao là một công cụ hữu dụng để lọc ra các dự án đầu tư "tốt", khi giảm lãi suất, chẳng phải là mở rộng tín dụng hay sao? Trong thời điểm này mở rộng tín dụng là một điều "điên rồ".

    - Thứ hai, cần phải khẳng định một điều rằng, cuộc đua lãi suất vừa qua, làm lãi suất tăng cao, góp phần lớn không phải là do nhu cầu của người dân muốn lãi suất cao ư? Có "cầu" thì mới có "cung" chứ.

    Mặt khác, ngân hàng là một doanh nghiệp có mục tiêu lợi nhuận là trên hết, vì vậy họ sẽ không bao giờ tăng lãi suất tiền gửi quá cao để rồi lãi suất cho vay quá cao khiến không doanh nghiệp nào vay. Vậy chẳng phải là ngân hàng đó "ôm" một "mớ tiền" phải trả lãi hàng kỳ mà không có đầu ra.

    - Thứ ba, liệu tinh thần dân tộc lớn đến cỡ nào khi bạn gửi tiền vào ngân hàng với lãi suất thấp hơn lạm phát, vốn lên cao tới 25-26%, và tình trạng này kéo dài cả năm trời. Tôi e rằng, không người dân nào có mức thu nhập trung bình hoặc thấp chịu nổi.

    Như vậy, nếu số tiền mà ngân hàng huy động được chẳng là bao nhiêu, điều này có thể là tai họa xã hội, khi cung cầu và chu chuyển vốn bị tắc nghẽn.

    - Thứ tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam luôn có những khoản vốn cung ứng cho các ngân hàng gặp khó khăn về thanh khoản thông qua tái cấp vốn, tái chiết khấu, cho vay cầm cố chứng từ có giá...

  • Nguyễn Cường

    01:18 (GMT+7) - Chủ Nhật, 10/8/2008

    Bạn Quốc Đông à, mình không đồng tình với quan điểm "không nên phân biệt vốn ta vốn tây" của bạn.

    Phải phân biệt chứ. Bởi vì vốn ta sẽ đem lại lợi ích cho người Việt nhiều hơn còn "vốn Tây" sẽ đem lại lợi ích cho người Tây nhiều hơn.

    Một lý do để phân biệt nữa là đặc điểm gần như duy nhất của bản chất đầu tư tư bản là lợi nhuận. Có những quốc gia đã trở nên hoang tàn vì dòng vốn FII trước khi một dòng vốn khác là FDI tàn phá.

    Đặc thù của những nước trong giai đoạn đầu của nền kinh tế mới chuyển đổi là yếu kém tiềm lực tài chính, công nghệ và cả những kinh nghiệm làm ăn. Thế nên mới có sự đánh đổi này và cái giá phải trả không ít đâu bạn à.

    Lắm khi, cũng vì lệ thuộc vào đầu tư nước ngoài mà ngân hàng trung ương của một quốc gia không nằm ở quốc gia đó mà lại ở tận bên Mỹ cơ!

    Bạn có đề cập tới bàn tay vô hình của thị trường, ai chả thuộc điều đó nhưng mà thị trường là gì, nếu bạn biết rằng khi mới chập chững ra biển WTO, nhiều quốc gia đã bị những con sói già chờ đợi cơi hội thâu tóm những tiềm lực đất đai, tài chính và cả công nghệ. Cuối cùng thì người dân nước đó suốt đời đi làm thuê.

    Tôi nghĩ, đối với 2 dòng vốn gián tiếp và trực tiếp, không nên tiếp nhận chúng một cách ào ạt và lại càng không nên coi đó là một nguồn lực của tăng trưởng.

    Tăng trưởng nhiều để làm gì khi mà ảnh hưởng của chúng đến đời sống của người dân thật xa vời?

    Một điểm nữa là bạn nói rằng lạm phát và tăng trưởng là "bạn đồng hành của nhau" là không đúng. Đó là kẻ thù của nhau mới phải, bởi không một quốc gia có được cả hai chọn lựa này trong cùng một thời điểm thì làm sao lại là "bạn đồng hành"?

  • Lương Minh Trí

    23:24 (GMT+7) - Thứ Sáu, 8/8/2008

    Hiện nay tình hình tài chính của các ngân hàng tương đối ổn định, trong khi lạm phát tăng cao, giá cả hàng hóa ngày càng tăng như hiện nay thì Chính phủ đề ra yêu cầu thắt chặt tiền tệ là hợp lý.

    Việc thắt chặt tiền tệ là kiểm soát chặt chẽ, cắt giảm các khoản đầu tư công không hiệu quả, hạn chế cung cấp tín dụng để nhập khẩu các mặt hàng xa xỉ, không cần thiết cho nền ktế và cuộc sống hàng ngày, không cho vay đầu tư chứng khoán, không cho vay đầu tư bất động sản, tăng lãi suất cơ bản... và điều này đã có hiệu quả.

    Tuy nhiên, trong tình hình chi phí đầu vào của các doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng thiết yếu cho tiêu dùng xã hội hàng ngày, các doanh nghiệp thu mua nông sản thực phẩm, nông dân sản xuất thì việc phải vay ngân hàng với lãi suất cao như hiện nay càng làm cho giá cả đầu ra tăng cao hơn, làm tăng chỉ số CPI của hàng hoá tiêu dùng vì hiện nay người dân thắt lưng buộc bụng nhưng vần phải ăn uống, sinh hoạt.

    Việc thắt chặt tiền tệ, chống lạm phát không có nghĩa là phải tăng lãi suất thật cao mới giải quyết được mà nó có hiệu quả là do Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước ra tay quyết liệt kiểm soát dư nợ tín dụng cho vay chứng khoán và bất động sản, minh bạch thông tin giúp cho người dân không bị hoang mang đem tiền đi đầu cơ USD, đầu cơ hàng hóa.

    Việc tăng lãi suât cũng có phần giúp doanh nghiệp tái cơ cấu lại việc sử dụng đồng vốn, tiết kiệm chi phí, ngưng mở rộng các dự án dài vì chi phí vay cao, nhưng đến nay với tình hình tài chính tương đối ổ định của thị trường, nó lại không còn là tác nhân giúp chống lạm phát nữa, mà là nguyên nhân làm tăng chi phí đầu vào của các doanh nghiệp từ sản xuất đến kinh doanh mua bán, và tất cả các chi phí này đều được doanh nghiệp cộng vào giá thành sản phẩm.

    Hiện nay lãi suất huy động tăng cao là do một số ngân hàng thương mại không đủ thanh khoản phải huy động vốn tiết kiệm cao (nhưng vẫn thấp hơn liên ngân hàng) làm cho khách hàng từ các ngân hàng khác rút tiền chạy qua gừi điều này làm các ngân hàng kia đồng loạt tăng lãi suất và cuộc đua đến nay đã tạm ổn. Tuy nhiên, chưa có ngân hàng nào dám giảm lãi suất huy động vì sợ tiền sẽ bị rút qua các ngân hàng không đủ thanh khoản về ngắn hạn.

    Điều này có các tác hại sau:

    - Lãi suất quá cao, người dân tích gửi tiền tiết kiệm, không thích đem vốn ra làm ăn vì tình hình khó khăn không lời bằng lãi ngân hàng.

    - Chỉ vì một số ngân hàng thương mại thiếu thanh khoản mà toàn thị trường ngân hàng phải đua nhau tăng lãi suất tiết kiệm, thực tế tổng số tiền gửi toàn thị trường không tăng bao nhiêu nhưng lãi suất tăng chóng mặt. Và hậu quả là các doanh nghiệp phải vay giá cao, nhưng cũng khó vay, làm giá thành sản phẩm tăng cao do chi phí tăng đều ở từng khâu như nguyên phụ liệu, vận chuyển, phân phối, dự trữ hàng hoá nguyên phụ liệu làm cho nền ktế bị yếu đi.

    - Người có tiền gửi tiết kiệm muốn lãi suất thực dương ngày càng cao, cao hơn lạm phát, nhưng đến lượt họ lại phải mua hàng hoá giá cao vì chi phí lãi suất được cộng vào giá bán sản phẩm.

    - Chính phủ lại phải ra sức kiềm chế giá bù lỗ cho xã hội, nhưng người nghèo vẫn thiết thòi.

    - Chỉ số giá tăng cao thì lạm phát tăng, lại phải tăng lãi suất cho thực dương. Lãi suất tăng lại làm cho giá cả tăng như vậy sẽ tạo ra vòng lẫn quẫn, đến lúc nào đó nền kinh tế sẽ không chịu nỗi và sẽ rơi vào giảm phát. Và việc tăng lãi suất này chỉ làm lợi cho một số bộ phận dân cư có tiền gửi tiết kiệm nhưng làm thiệt hại không nhỏ cho toàn xã hội.

    Tại Nhật Bản, lãi suất cơ bản chỉ có 0,5%/năm. Chính phủ Nhật không kjhuyến khích dân gửi ngân hàng để lãnh lãi suất cao mà phải đem ra đầu tư, hoặc gửi vào ngân hàng với lãi suất thấp để giúp các doanh nghiệp có thể có nguồn vốn giá vừa phải để phát triển ktế đất nước. Người dân Hàn Quốc trong lúc khó khăn cũng cùng đóng góp với Chính phủ để giúp nước Hàn vượt qua khó khăn.

    Để giải quyết bài toán giảm lãi suất cơ bản xuống còn khoảng 10%-11%/năm, mà vẫn không ảnh hưởng đến việc chống lạm phát và thắt chặt tiền tệ, tôi xin kiến nghị như sau :

    - Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước nên thường xuyên đưa ra các thông tin về sức khoẻ của hệ thống ngân hàng, kiểm tra giám sát thường xuyên tính thanh khoản của các ngân hàng.

    - Nhà nước nên tuyên truyền kêu gọi người dân có tiền gửi tiết kiệm, những người giàu từ sự tăng trưởng kinh tế của đất nước, hãy tỏ rõ tinh thần dân tộc (giống như Nhật Bản, Hàn Quốc), chấp nhận mức lãi suất tiết kiệm vừa phải, không nên đòi lãi suất thực dương, để cùng với Chính phủ kiềm chế giá cả hàng hóa, giúp các doanh nghiệp có thể chèo chống vượt qua khó khăn hiện nay, chống lạm phát, giúp người nghèo không bị cơn bão giá quật ngã.

    - Song song đó, Chính phủ phải mạnh tay xử lý bọn đầu cơ hàng hóa, đôla, lợi dụng tình hình khó khăn tung tin đồn nhảm làm người dân hoang mang để trục lợi, và tiến tới xoá bỏ tình trạng đôla hóa trên thị trường Việt Nam.

    - Tăng cường giám sát việc cho vay của các ngân hàng, quản lý chặt chẽ việc cho vay, chỉ giải ngân cho các dự án cần thiết có lợi cho Chính phủ, cho thị trường hiện nay.

    - Khoanh vùng các ngân hàng thương mại thiếu tính thanh khoản do đã cho vay quá đà trước đây..., không cứng nhắc ép họ phải đáp ứng thanh khoản định kỳ mà phải có các biện pháp hỗ trợ cần thiết giống như FED để họ không làm rối loạn thị trường đã bình ổn hiện nay.

    Việc giảm lãi suất cơ bản hiện còn 10-11%/năm cùng với các gói giải pháp thắt chặt tiền tệ hiện nay sẽ giúp cho các doanh nghiệp giảm bớt một phần gánh nặng chi phí sản xuất - kinh doanh, giúp giảm giá hàng hoá, kiềm chế chỉ số giá, củng cố niềm tin của người dân, giúp các doanh nghiệp phục hồi dần và nền kinh tế đi vào ổn định tiếp tục chu kỳ tăng trưởng mới bền vững hơn

  • Phạm Quốc Đông

    21:44 (GMT+7) - Thứ Sáu, 8/8/2008

    Theo tôi, chúng ta không nên phân biệt vốn ta, vốn "Tây".

    Trong bối cảnh đất nước ta đã tham gia WTO, hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới, dòng chu chuyển vào ra của các dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp của nước ngoài được khơi thông thuận lợi là điều đương nhiên, không chỉ với nước ta mà với tất cả các nước khác. Vấn đề là các dòng vốn đầu tư này có tác dụng như thế nào đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của Việt Nam.

    Nói giảm sự lệ thuộc của thị trường vào tay các nhà đầu tư nước ngoài là rất ngây thơ. Thị trường hoạt động và tự điều chỉnh theo quy luật của thị trường chẳng thể lệ thuộc vào ai. Chỉ có chúng ta phải phụ thuộc và phải theo tín hiệu của thị trường mà thôi. Mà khi chúng ta không theo nổi thị sẽ có người khác theo. Đó mới là ma lực từ bàn tay vô hình của thị trường chứ không phải là cái "vó" của ai đó giăng ra hết.

    Mục tiêu của chúng ta là kiềm chế lạm phát. Tăng trưởng và lạm phát bao giờ cũng là bạn đồng hành của nhau. Chúng ta đã có thời gian tăng trưởng ấn tượng rất dài và bây giờ phải điều chỉnh lại là đương nhiên.

    Và cũng chính thị trường sẽ cho chúng ta biết là phải ứng xử như thế nào để hài hoà giữa tăng trưởng và lạm phát cũng như giữa kiềm chế lạm phát và suy thoái kinh tế.

    Hy vọng các chuyên gia sẽ có những số liệu thống kê chi tiết về các thành tố của tăng trưởng và lạm phát, có dự báo tốt để giúp Chính phủ có được các quyết sách đúng đắn trong cân đối hài hoà 2 mục tiêu tăng trưởng và lạm phát.

  • Hoàng Văn Thuỵ

    15:44 (GMT+7) - Thứ Sáu, 8/8/2008

    Xin cảm ơn tác giả, bài viết rất hay và rất sát thực.

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Tài chính

Mai Thiên Bình

18:52 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

Những hợp đồng tín dụng với lãi suất không theo luật ngân hàng thì sẽ xử lý ra sao?...

Trong bài: Sự thật của trần lãi suất cho vay (31 ý kiến)

H

18:25 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

Ai khó khăn đâu không thấy. Tôi chỉ thấy quán nhậu vẫn đông. Ở đó toàn giám đốc, trưởng phòng hoặc nhân viên công ty...

Trong bài: Sự thật của trần lãi suất cho vay (31 ý kiến)

GFGO

18:20 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

Vàng là thứ được đào dưới đất lên sau đó lại đào lổ chôn xuống ! Không có tác dụng gì nhiều. Trang sức ư?...

Trong bài: Vì sao nhà đầu tư thế giới “chán” vàng? (1 ý kiến)

Mai Thiên An

16:33 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

nếu Luật ngân hàng quy định mọi lãi suất không quá 150% lãi suất cơ bản thì hóa ra lâu nay luật ngân hàng chưa...

Trong bài: Sự thật của trần lãi suất cho vay (31 ý kiến)

Lê Anh Quang

15:53 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

Rất hay, nêu rõ ràng sự hạn chế của Thông tư 14....

Trong bài: Sự thật của trần lãi suất cho vay (31 ý kiến)