“Ngân hàng Nhà nước chưa bao giờ lơ là quản lý rủi ro”

NGUYỄN HOÀI

12/08/2008 09:41 (GMT+7)

picture Trụ sở Ngân hàng Nhà nước - Ảnh Việt Tuấn.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Đó là khẳng định của ông Phạm Huyền Anh, Phó vụ trưởng Vụ Các ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước.

Thưa ông, tại sao đã 3 năm rồi mà các ngân hàng thương mại vẫn trì hoãn việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng theo Điều 7, còn Ngân hàng Nhà nước thì thờ ơ trong vấn đề này?

Việc phân loại nợ và xây dựng thành công hệ thống đánh giá, xếp hạng tín nhiệm nội bộ đối với khách hàng không chỉ giúp ngân hàng thương mại phân loại nợ trung thực hơn mà còn là công cụ tư vấn, giúp ban lãnh đạo có định hướng chiến lược kinh doanh rõ ràng hơn.

Tuy nhiên, để thực hiện điều này không đơn giản vì chúng vẫn khá mới mẻ ở Việt Nam. Muốn làm được, phải có một hệ thống cơ sở dữ liệu và giải quyết hàng loạt vấn đề về kinh phí, đào tạo nhân lực, nhập dữ liệu và phân loại... thì mới nói đến chuyện kích chuột vào đó để biết được mọi thông tin về khách hàng.

Chẳng hạn như một khách hàng bị từ chối ở chi nhánh này thì lập tức chi nhánh khác phải biết và đưa ra quyết định có cho vay hay không.

Hiện tại, các ngân hàng thương mại đang thực hiện theo điều 7 và Ngân hàng Nhà nước thường xuyên yêu cầu các ngân hàng thương mại báo cáo tiến độ thực hiện, để có những điều chỉnh vướng mắc kịp thời.

Dĩ nhiên, trong khi các ngân hàng thương mại chưa thực hiện hoàn toàn theo điều 7 thì Ngân hàng Nhà nước vẫn có những kênh và biện pháp giám sát hỗ trợ khác để đảm bảo an toàn cho cả hệ thống, chứ không phải chưa thực hiện được điều 7 thì Ngân hàng Nhà nước bỏ mảng quản lý rủi ro này.

Một số ngân hàng thương mại phàn nàn, họ tiên phong thực hiện điều 7 nhưng kèm theo là nợ xấu tăng lên vì phân loại chính xác hơn so với thực hiện điều 6 nhưng cơ quan quản lý cứ nhìn vào đó để cản trở họ đầu tư mở rộng. Ông giải thích chuyện này như thế nào?

Thực ra nợ xấu là một trong những điều kiện đánh giá, xem xét và quyết định cho phép ngân hàng thương mại mở rộng quy mô về mạng lưới và hoạt động nhưng đó không phải là điều kiện cuối cùng.

Trước đây, việc quản lý chưa theo thông lệ quốc tế thì bây giờ phải từng bước đưa hoạt động này tiệm cận dần theo hướng này. Cơ quan quản lý có khắt khe cũng chỉ nhằm mục đích để ngân hàng thương mại quản trị rủi ro tốt hơn và đảm bảo an toàn cho cả hệ thống.

Cơ quan quản lý có xem xét yếu tố nợ xấu của ngân hàng trong việc mở rộng quy mô nhưng luôn đặt trong bối cảnh thực tế rằng: ngân hàng thương mại quản trị như thế nào đối với tỷ lệ nợ xấu đó, chiến lược kinh doanh để xem xét chứ đâu chỉ dựa vào tỷ lệ nợ xấu để hạn chế và cản trở mở rộng đầu tư?

Ngoài ra, phải hiểu là chức năng Ngân hàng Nhà nước là đảm bảo an toàn cho hệ thống nhưng những quy định về vấn đề này chỉ mang tính chất phòng ngừa, cảnh báo để quản trị tốt hơn chứ không phải phát hiện để xử phạt và không tạo điều kiện cho phát triển.
 
Thưa ông, cũng liên quan đến vấn đề an toàn cho hệ thống, có ý kiến cho rằng, những ngân hàng quy mô nhỏ, khả năng thanh khoản và quản trị yếu thì nên sáp nhập với ngân hàng lớn. Ông nghĩ sao về điều này?

Cũng có khá nhiều ý kiến về việc sáp nhập, hợp nhất các ngân hàng nhỏ với ngân hàng  lớn hoặc bán cho nước ngoài và Ngân hàng Nhà nước hiện đang cân nhắc rất kỹ vấn đề này.

Việt Nam hiện có khá nhiều tổ chức tín dụng quy mô nhỏ và do đó, vấn đề đảm bảo an toàn cho các tổ chức tín dụng này như thế nào, chiến lược phát triển hệ thống của họ trong thời gian tới là gì, số lượng và quy mô tổ chức tín dụng là bao nhiêu thì đủ đang là một bài toán hóc búa.

Trước mắt, vì mục tiêu an toàn cho cả hệ thống, trong điều kiện quy mô, khả năng của họ như vậy thì chỉ nên đặt vấn đề làm sao đó để họ thực sự an toàn đã.

Hiện nay, Nhà nước vẫn cho phép nhà đầu tư nước ngoài được mua cổ phần và trở thành cổ đông chiến lược của các ngân hàng trong nước. Đó là bước đệm cần thiết để nâng cao năng lực quản trị điều hành và năng lực cạnh tranh của tổ chức tín dụng.

Còn vấn đề nên để bao nhiêu ngân hàng hay mua bán sáp nhập thì đối với các nước đã trải qua nhưng với Việt Nam thì vấn đề này còn phải tiếp tục nghiên cứu xem xét một cách tổng thể.

Có một hiện tượng là các ngân hàng đã sử dụng vốn vay ngắn hạn để tài trợ cho vay dài hạn và ảnh hưởng xấu đến khả năng thanh khoản. Dưới góc độ quản lý, ông đánh giá thực tế này như thế nào?

Thực tế những năm qua và thời gian vừa rồi, có nhiều ý kiến cho rằng, ngân hàng thương mại sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn, nhưng thực tế hiện nay là các tổ chức tín dụng vẫn tồn tại và ổn định thanh khoản.

Trong điều kiện ổn định và kiềm chế lạm phát như hiện nay, tôi nghĩ đó là câu trả lời xác đáng nhất.

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Quỳnh Ngọc

    15:52 (GMT+7) - Thứ Năm, 14/8/2008

    Phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro theo xu hướng tiệm cận với thông lệ quốc tế là hướng đi đúng đắn của Ngân hàng Nhà nước từ 3 năm qua. Đáng lo ngại, cho đến nay, các ngân hàng thương mạivẫn lơ là với vấn đề này.

    Theo Quyết định 493/QĐ - Ngân hàng Nhà nước năm 2005, từ tháng 4/2008 trở đi, các ngân hàng thương mại phải thực hiện phân loại nợ theo điều 7 của quyết định này thay vì thực hiện theo điều 6 như trước đây. Tuy nhiên, đến nay mới chỉ có một ngân hàng thương mại quốc doanh thực hiện và lẻ tẻ vài ngân hàng khác... "sắp sửa" thực hiện, phần lớn các ngân hàng chưa động tĩnh gì.

    Với thời gian 3 năm, các ngân hàng có thừa thời gian chuẩn bị xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để thực hiện phân loại nợ theo điều 7, vậy tại sao họ vẫn lơ là trong chuyện này?

    Thực tế này khiến nhiều người đặt câu hỏi: phải chăng, việc phân loại nợ và quản lý rủi ro theo thông lệ quốc tế khó khăn đến mức với 3 năm chuẩn bị vẫn không đủ thời gian thực hiện và có cần thiết phải "nới" thời gian? Đến bao giờ các ngân hàng thương mại thực hiện theo điều 7? Giả định không phải do yếu tố thời gian thì lý do của sự trì hoãn này là gì?

    Theo thiển ý của người viết, xin góp ý đôi điều với cơ quan quản lý như sau:

    Thứ nhất, việc phân loại nợ theo Điều 6 đã thể hiện một số bất cập trong việc đánh giá rủi ro của khách hàng, vì vậy, tỷ lệ nợ xấu theo Điều 6 bao giờ cũng thấp hơn tỷ lệ nợ xấu theo Điều 7.

    Đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay có rất nhiều trường hợp khách hàng có báo cáo tài chính yếu kém, thua lỗ hoặc có rất nhiều báo cáo tài chính lãi giả lỗ thật, việc phân loại nợ theo Điều 6 chỉ dựa trên thời gian quá hạn và cơ cấu khoản nợ để đánh giá, nên chưa thể phát hiện và có những biện pháp xử lý kịp thời, dẫn đến trường hợp có những khoản nợ cho vay đảo nợ vẫn được xếp vào nhóm 1.

    Điều 7 có thể khắc phục được những điểm này, trợ giúp cho ngân hàng đánh giá chính xác khách hàng và có biện pháp quản lý rủi ro cũng như chính sách khách hàng phù hợp nhưng nó lại ảnh hưởng lớn đến mức trích dự phòng rủi ro, đến lợi nhuận của ngân hàng và đến quan hệ với khách hàng, làm cho lợi nhuận ngân hàng giảm, lương cán bộ giảm và không dễ dàng đặt một khách hàng lên hạng ghế “VIP” để tiếp tục quan hệ tín dụng.

    Cũng một ông khách hàng vay ở tổ chức tín dụng đã thực hiện Điều 7 Quyết định 493 xếp hạng theo thông lệ quốc tế, khách hàng này phải vào nhóm nợ xấu, thậm chí phải ngồi vào “ghế” nhóm 5. Nhưng tại tổ chức tín dụng khác chưa làm Điều 7 Quyết định 493 thì vị "chúa chổm" ấy vẫn thản nhiên, tự hào được ngân hàng khác đặt ngồi vào “ghế VIP” nhóm 1.

    Và đương nhiên, tổ chức tín dụng ấy không bị tai tiếng là “nợ xấu cao”, không phải trích dự phòng rủi ro nhiều. Lợi nhuận cao, thu nhập cao (cao ngất ngưởng nhưng không công bố ra bên ngoài)... và nhiều cái lợi khác nữa.

    Thứ hai, mặc dù việc thực hiện quản lý rủi ro theo thông lệ quốc tế đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay là vấn đề cấp bách, nhưng nếu Ngân hàng Nhà nước vẫn coi đó là việc khó và chưa có biện pháp riết nóng yêu cầu các ngân hàng thực hiện, vô hình chung đã tạo tâm lý ỷ lại cho các ngân hàng thương mại, không có động cơ để thực hiện quản lý rủi ro theo thông lệ quốc tế

    Thứ ba, nếu cơ quan quản lý chưa nghiêm khắc trong vấn đề yêu cầu các ngân hàng thương mại thực hiện theo điều 7, sẽ góp phần tạo điều kiện cho các ngân hàng đang thực hiện điều 6 tâm lý không muốn thực hiện phân loại nợ theo Điều 7, do các ngân hàng thương mại e ngại bị ảnh hưởng đến quyết định cho phép mở rộng đầu tư từ phía Ngân hàng Nhà nước.

    Thiết nghĩ, việc đánh đồng chỉ tiêu nợ xấu giữa các ngân hàng thực hiện phân loại nợ theo Điều 6 và Điều 7 hiện nay và chưa có biện pháp riết nóng yêu cầu các ngân hàng thương mại phân loại nợ theo Điều 7 như hiện nay là chưa ổn và đang tạo sự bất bình đẳng đối với những ngân hàng thương mại đã thực hiện quản trị rủi ro theo thông lệ quốc tế theo quyết định của Ngân hàng Nhà nước.

  • Nguyễn Thế Trung

    14:02 (GMT+7) - Thứ Năm, 14/8/2008

    Là một nhân viên phân tích các ngân hàng, tôi có một số ý kiến sau:

    1. Các biện pháp quản lý tăng trưởng tín dụng, quản lý thanh khoản đáng lẽ phải được thực hiện từ năm 2007 nhằm giảm tốc độ tăng trưởng "kinh hoàng" của một số ngân hàng.

    Mức lợi nhuận đạt được của các ngân hàng là khá cao nhưng nó được đánh đổi bằng việc tăng rủi ro cao (rủi ro tín dụng cao do việc tăng dư nợ quá nhanh, rủi ro thanh khoản do nhiều ngân hàng không đủ khả năng huy động để cho vay và phải sử dụng quá nhiều nguồn vốn liên ngân hàng, rủi ro vận hành/con người do việc thu hút nhân sự ồ ạt nhưng nhất lượng không cao).

    Việc đánh đổi lợi nhuận và tăng trưởng bằng rủi ro là một điều không thể chấp nhận trong nguyên tắc quản trị ngân hàng.

    2. Mức minh bạch thông tin của không ít tổ chức tín dụng là rất kém và Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa giải quyết dứt điểm vấn đề này.

    Minh bạch thông tin kém là hậu quả dẫn đến việc các ngân hàng lấp liếm các điểm yếu của mình.

    Báo cáo tài chính thường được công bố rất chậm và không ít ngân hàng không hề thuyết minh trong báo cáo tài chính để giải thích các khoản thu nhập không rõ ràng như " khoản lời từ đầu tư góp vốn, thu nhập khác".

    Những khoản này thường chiếm tỷ trọng cao trong thu nhập của ngân hàng nhưng không hề được thuyết minh, dẫn đến nhiều nghi ngờ về tính "thực" của các khoản đầu tư/lợi nhuận này.

    Theo ý kiến chủ quan, hệ thống ngân hàng càng được cải thiện khi thông tin càng minh bạch. Nhà đầu tư, người gửi tiền, người vay sẽ là những nhà giám sát rất hiệu quả. Từ đó những sai sót/rủi ro yếu kém sẽ được chỉ ra và khắc phục.

    Những ngân hàng quá yếu kém, không thể khắc phục sẽ bị tẩy chay, hoặc bị mua bán sát nhập. Như vậy, sự đảm bảo cho nhà đầu tư, người gửi tiền càng cao và giảm nhẹ gánh nặng của Ngân hàng Nhà nước.

    Sự minh bạch thông tin còn giúp nhà đầu tư, đối tác theo dõi được các hoạt động cho vay đến người dân, tổ chức có liên quan.

    Thiết nghĩ việc Ngân hàng Nhà nước ra một quy định về tính minh bạch của báo cáo tài chính và chu kỳ công bố báo cáo tài chính theo quý/nửa năm, là một điều rất cần thiết và không hề khó khăn.

  • Ocean

    15:20 (GMT+7) - Thứ Ba, 12/8/2008

    Về việc này, tôi có một vài ý kiến có thể còn phiến diện, nhưng cũng xin nêu ra đây:

    1. Theo tôi, có thể Ngân hàng Nhà nước chưa bao giờ lơ là quản lý rủi ro, nhưng cần nhìn nhận thẳng thắn là khả năng của Ngân hàng Nhà nước trong việc này còn hạn chế, bởi Ngân hàng Nhà nước còn ít có chuyên gia giỏi thực sự trong vấn đề này để điều hành hệ thống ngân hàng hoạt động minh bạch, theo thông lệ. Ví dụ: nhiều chính sách do Ngân hàng Nhà nước đưa ra thường mang tính ứng phó, thậm chí gây ra cho các ngân hàng thương mại khó khăn trong điều hành hoạt động và cả rủi ro như trong thời gian qua.

    2. "Một số ngân hàng thương mại phàn nàn, họ tiên phong thực hiện điều 7 nhưng kèm theo là nợ xấu tăng lên vì phân loại chính xác hơn so với thực hiện điều 6 nhưng cơ quan quản lý cứ nhìn vào đó để cản trở họ đầu tư mở rộng". Thông tin trả lời của ông Huyền Anh là không đi thẳng vào câu hỏi. Đáng nhẽ nếu một ngân hàng đi tiên phong trong vấn đề này thì Ngân hàng Nhà nước nên coi đấy là một điển hình cần khuyến khích và phải tổ chức nghiên cứu nhiều hơn để góp phần cải tiến việc phân loại nợ và trích dự phòng rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam, tiến tới tạo khung pháp lý phù hợp thông lệ trong hệ thống ngân hàng về vấn đề này. Còn trong giai đoạn ban đầu, cần đảm bảo tính công bằng, tức là số liệu theo điều 7/493 để giúp ích cho quản trị điều hành của ngân hàng đó và là một trường hợp thí điểm đáng cho Ngân hàng Nhà nước khuyến chích, hỗ trợ cải tiến để rrồi sau này khi các ngân hàng thương mại khác có điều kiện thì đưa vào áp dụng mang tính quy định (tất nhiên sau khi đã cải tiến, nếu cần). Còn không nên ràng buộc số liệu theo điều 7/493 để áp vào các điều kiện hoạt động khác khi mà các ngân hàng thương mại khác không phải chịu.

    3. Tôi không rõ ngân hàng đã áp dụng điều 7/493 sau quá trình triển khai thì hệ thống này của họ có vấn đề gì khiếm khuyết không? Nếu không, Ngân hàng Nhà nước hãy cầm cân nảy mực và vì tương lai an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam mà đứng ra phổ biến và yêu cầu các ngân hàng thương mại khác áp dụng theo. Còn nếu hệ thống của họ còn khiếm khuyết thì đây cũng là lúc Ngân hàng Nhà nước đứng ra hỗ trợ BIDV cải thiện, học hỏi thêm từ các ngân hàng trên thế giới để rồi một ngày gần hơn chúng ta sẽ có một hệ thống phân loại nợ tốt, phù hợp thông lệ.

    4. Các ngân hàng thương mại thực tế rất muốn có một ngân hàng trung ương "khắt khe" đúng nghĩa: tức là khắt khe theo thông lệ; khắt khe theo minh bạch và khắt khe trong việc có những chính sách phù hợp, đúng tầm... Điều này đặt vai trò Vụ Các ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước (nếu được xem như vụ đầu mối) rất quan trọng. Tuy nhiên có vẻ như đơn vị này vẫn chưa thực sự "khắt khe" trong quản lý rủi ro của các ngân hàng thương mại, bởi thật buồn khi vụ đầu mối cấp phép thành lập ngân hàng trong thời gian qua lại nói rằng "Việt Nam hiện có khá nhiều tổ chức tín dụng quy mô nhỏ và do đó, vấn đề đảm bảo an toàn cho các tổ chức tín dụng này như thế nào, chiến lược phát triển hệ thống của họ trong thời gian tới là gì, số lượng và quy mô tổ chức tín dụng là bao nhiêu thì đủ đang là một bài toán hóc búa". Đáng nhẽ họ phải đặt vấn đề này ra từ lâu chứ bây giờ mới nói có khác gì "nói những cái mà tất cả mọi người đều biết". Khi họ nghĩ tới việc này thì đã rất nhiều ngân hàng nhỏ đang khó khăn, nhiều ban trù bị ngân hàng đang khổ sở vì đã bỏ bao nhiêu tiền của để chuẩn bị thành lập ngân hàng thì nay bị tạm dừng cấp phép.

    5. Ai có thể giải thích rõ hơn ý kiến này: "Thực tế những năm qua và thời gian vừa rồi, có nhiều ý kiến cho rằng, ngân hàng thương mại sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn, nhưng thực tế hiện nay là các tổ chức tín dụng vẫn tồn tại và ổn định thanh khoản". Trả lời rất khéo. Nhưng có thực sự ổn định, có thực sự thanh khoản khi mà có giai đoạn huy động vốn (tiền gửi, liên ngân hàng) bằng bất cứ giá nào, và có thể còn nhiều vấn đề nữa chưa phát lộ? Tôi nghĩ đã là ý kiến trả lời của một chuyên gia cần khéo léo, nhưng cũng cần thẳng thắn, khoa học và đáng tin cậy về mặt thực tế.

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Tài chính

Mai Thiên Bình

18:52 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

Những hợp đồng tín dụng với lãi suất không theo luật ngân hàng thì sẽ xử lý ra sao?...

Trong bài: Sự thật của trần lãi suất cho vay (31 ý kiến)

H

18:25 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

Ai khó khăn đâu không thấy. Tôi chỉ thấy quán nhậu vẫn đông. Ở đó toàn giám đốc, trưởng phòng hoặc nhân viên công ty...

Trong bài: Sự thật của trần lãi suất cho vay (31 ý kiến)

GFGO

18:20 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

Vàng là thứ được đào dưới đất lên sau đó lại đào lổ chôn xuống ! Không có tác dụng gì nhiều. Trang sức ư?...

Trong bài: Vì sao nhà đầu tư thế giới “chán” vàng? (1 ý kiến)

Mai Thiên An

16:33 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

nếu Luật ngân hàng quy định mọi lãi suất không quá 150% lãi suất cơ bản thì hóa ra lâu nay luật ngân hàng chưa...

Trong bài: Sự thật của trần lãi suất cho vay (31 ý kiến)

Lê Anh Quang

15:53 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

Rất hay, nêu rõ ràng sự hạn chế của Thông tư 14....

Trong bài: Sự thật của trần lãi suất cho vay (31 ý kiến)