VnEconomy > Chứng khoán 13:43 (GMT+7) - Thứ Bảy, 16/8/2008

Cần xem lại định nghĩa cổ phần?

Hẳn có những nhà đầu tư vẫn còn không ít băn khoăn về khái niệm rất quen thuộc này...

Cần xem lại định nghĩa cổ phần?

Dự thảo nghị định về chào bán cổ phần riêng lẻ định nghĩa: “Cổ phần là một phần sở hữu của cổ đông đối với vốn điều lệ của tổ chức phát hành, bao gồm cả quyền mua cổ phần”.

Hẳn có những nhà đầu tư vẫn còn không ít băn khoăn về khái niệm rất quen thuộc này.

Tham gia, quan tâm, tìm hiểu, biết về thị trường chứng khoán, hầu hết nhà đầu tư đều nằm lòng khái niệm “cổ phần”. Nhưng hẳn vẫn còn những định nghĩa chưa gãy gọn, hoặc đại khái.

Quanh việc định nghĩa khái niệm này cũng có những chi tiết không đơn giản, có trong những ý kiến đóng góp xây dựng dự thảo nghị định về chào bán cổ phần riêng lẻ.

Theo kế hoạch dự kiến trước đây, nghị định này sẽ được ban hành trong quý 1/2008, nhưng nay vẫn trong giai đoạn lấy ý kiến của các thành viên thị trường, cũng như các tổ chức, cá nhân, công chúng đầu tư.

Trong những ý kiến đóng góp đó, khái niệm cổ phần tưởng như đã quá quen thuộc, lại trở thành một vấn đề gây nhiều thắc mắc.

Khoản 1 Điều 4 của dự thảo nghị định giải thích khái niệm cổ phần như sau: “Cổ phần là một phần sở hữu của cổ đông đối với vốn điều lệ của tổ chức phát hành, bao gồm cả quyền mua cổ phần”. Giải thích này “vấp” phải những ý kiến phản biện đáng chú ý.

Theo luật gia Cao Bá Khoát, Giám đốc Công ty Tư vấn K và cộng sự, khái niệm cổ phần theo Khoản 1 Điều 4 của dự thảo là không chính xác, nếu so sánh với định nghĩa về cổ phần quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 77 Luật Doanh nghiệp (“Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau được gọi là cổ phần”).

Từ định nghĩa của Luật Doanh nghiệp, luật gia Cao Bá Khoát cho rằng cổ phần có các đặc điểm: là các phần nhỏ nhất bằng nhau được chia ra từ vốn điều lệ, là căn cứ xác lập quyền sở hữu một phần công ty sau khi cổ đông đã góp tài sản. Trong khi đó, giải thích đưa ra trong dự thảo không thể hiện hết những đặc điểm đó của cổ phần.

Ông phân tích, thứ nhất, quyền mua cổ phần không phải là cổ phần vì nó không xác lập quyền sở hữu một phần công ty. Thứ hai, định nghĩa đó chưa thể hiện được đặc điểm cổ phần là phần nhỏ nhất bằng nhau được chia ra từ vốn điều lệ. Thứ ba, việc định nghĩa cổ phần như trong dự thảo sẽ tạo ra cách hiểu vòng quanh: cổ phần là một phần sở hữu của cổ đông; vậy cổ đông là gì? Theo Luật Doanh nghiệp, cổ đông là người sở hữu ít nhất một cổ phần của công ty.

Với những lập luận trên, luật gia Cao Bá Khoát khuyến nghị nên bỏ khái niệm cổ phần trong dự thảo vì khái niệm này đã được quy định rõ trong Luật Doanh nghiệp.

Trong văn bản tập hợp ý kiến xây dựng nội dung dự thảo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), một số ý kiến khác cũng yêu cầu cần xét lại khái niệm “cổ phần” và giải thích nói trên.

Một ý kiến lo ngại rằng định nghĩa như dự thảo còn có nguy cơ tạo ra tranh chấp trong nội bộ công ty, bởi có người chỉ cần đăng ký mua và xác lập quyền mua, sẽ đương nhiên “được công nhận” là cổ đông, tức đồng sở hữu công ty. Từ đây, có thể phát sinh nhiều hệ quả và tác động tiêu cực khó lường đến quyền và lợi ích hợp pháp của công ty, cổ đông hiện có của công ty và các bên liên quan.

Trong góp ý của mình, TS. Lê Thu Thủy, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, cũng cho rằng định nghĩa “Cổ phần là một phần sở hữu của cổ đông đối với vốn điều lệ của tổ chức phát hành, bao gồm cả quyền mua cổ phần” trong dự thảo là chưa chính xác.

TS. Lê Thu Thủy lập luận: theo Khoản 5 Điều 6 Luật Chứng khoán, “quyền mua cổ phần là loại chứng khoán do công ty cổ phần phát hành kèm theo đợt phát hành cổ phiếu bổ sung nhằm bảo đảm cho cổ đông hiện hữu quyền mua cổ phiếu mới theo những điều kiện đã được xác định”. Vậy cổ phần không phải lúc nào cũng bao gồm quyền mua cổ phần. Nó chỉ đúng khi công ty cổ phần có đợt phát hành cổ phiếu bổ sung, còn công ty mới thành lập thì chưa thể có quyền mua cổ phần được.

“Thêm vào đó, cổ  phiếu và quyền mua cổ phần là hai loại hàng hoá trên thị trường chứng khoán, có thể chuyển nhượng tách biệt”, TS. Thủy phân tích thêm.

Nhìn lại, trong thời gian qua, khái niệm “cổ phần” đã đi vào thị trường và “sống” khá ổn định với những giải thích liên quan. Tại các bản cáo bạch, thuyết trình chào bán, công bố thông tin của nhiều doanh nghiệp, khái niệm này được giải thích chung và khá thống nhất là “Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau”.

Đó cũng là định nghĩa đã xác định tại Luật Doanh nghiệp và được các doanh nghiệp thống nhất sử dụng.
  Bình luận (7)
Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết. Đang hiển thị 7/7 bình luận.
  • Tại sao những thị trường chứng khoán có lịch sử hàng trăm năm và đạt đến mức độ phát triển cao cấp như Mỹ, Anh chỉ dùng một từ "share" để thể hiện sở hữu của "shareholder" (cổ đông) trong một công ty cổ phần.

    Vậy tại sao chúng ta lại có quá nhiều định nghĩa như vậy về cổ phần, cổ phiếu?

    16:47 (GMT+7) - Thứ Hai, 25/8/2008 Trả lời Thích
  • Định nghĩa “vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau được gọi là cổ phần” có thể diễn giải khác là “cố phần là các phần bằng nhau của vốn điều lệ”. Vì vậy, mà có thể nói tôi có 500 hay 1000 cổ phần ở công ty A hay B nào đó.

    Tuy nhiên, khái niệm cổ phần trong cuộc sống thường được hiểu khái quát hơn: “cổ phần là phần sở hữu tài sản của một công ty” (ví dụ, khi nói tôi có cổ phần ở công ty A có nghĩa là tôi có một phần sở hữu tài sản ở công ty đó).

    Do đó, có thể giữ nguyên định nghĩa cổ phần như trong luật doanh nghiệp và đưa vào một số định nghĩa liên quan cụ thể khác. Ví dụ:

    Số lượng cổ phần của một công ty là số chia của vốn điều lệ công ty (vốn điều lệ là số bị chia).

    Giá trị cổ phần danh nghĩa bằng vốn điều lệ của công ty chia cho số lượng cổ phần.

    Giá trị cổ phần thực tế bằng tổng tài sản trừ đi nợ, chia cho số lượng cổ phần (thực ra đây chỉ là giá trị sổ sách, giá trị thực chỉ có được khi bán hết tài sản không phải là tiền).

    16:40 (GMT+7) - Thứ Ba, 19/8/2008 Trả lời Thích 1 người thích bình luận này
  • Định nghĩa cổ phần trong dự thảo nghị định là hoàn toàn không chính xác xét trên cả góc độ ngôn ngữ và pháp luật.

    Về mặt ngôn ngữ: Khi định nghĩa cổ phần là gì thì nhất định phải không được dùng lại từ cổ phần vì như thế sẽ rơi vào tình
    trạng định nghĩa luẩn quẩn. Ở khái niệm mà dự thảo nghị định đưa ra đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc này khi viết rằng "bao gồm cả quyền mua cổ phần".

    Về mặt pháp luật, tôi cho rằng khái niệm cổ phần trong dự thảo nghị định hoàn toàn mâu thuẫn với khái niệm cổ phần trong Luật doanh nghiệp. Theo khái niệm trong dự thảo nghị định đưa ra thì trong trường hợp công ty chưa chuyển giao quyền sở hữu phần vốn điều lệ cho một đối tượng cụ thể nào thì sẽ xác đinh cổ đông trên căn cứ nào.

    Vì vậy tôi thiết nghĩ rằng khái niệm trong dự thảo nghị định đưa ra là hoàn toàn không chính xác.

    12:53 (GMT+7) - Thứ Hai, 18/8/2008 Trả lời Thích
  • Đọc các đoạn văn: ''Cổ phần là một phần trong tổng tài sản của công ty, tổ chức kinh tế được cổ phần hoá"... "vì các cổ đông đóng tiền vào để thành lập công ty cổ phần với tổng số tiền hoàn toàn khác với số vốn điều lệ"..." công ty bị phá sản, theo luật định thì tài sản của công ty phát mãi, sau khi trừ trả tiền còn nợ cho người lao động, trả nợ ngân hàng... số còn lại chia đều cho các cổ đông"... tôi thấy khá nhiều bạn có khái niệm mơ hồ về cổ phần, vốn, tài sản, tiền... và nhất là "cổ phần hoá".

    Sự nhầm lẫn của bạn là đáng yêu, vì trong cuộc sống chúng ta vẫn thấy có nhà tuyên huấn nói:" Bọn thực dân đế quốc biến nước ta thành nước nửa thuộc địa nửa phong kiến", ông Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư cứ bắt doanh nghiệp đăng kí kinh doanh thương mại là "kinh doanh mua bán", kinh doanh sản xuất là "sản xuất"..., ông tổng giám đốc đọc báo cáo tổng kết "sản xuất kinh doanh", ông mặt trận thì "phối kết hợp"...

    Cá nhân tôi ủng hộ định nghĩa cổ phần trong Luật Doanh nghiệp. Đồng thời đề nghị các nhà soạn luật, văn bản hướng dẫn thi hành luật, các cơ quan thi hành luật của ta nên thống nhất các định nghĩa để doanh nghiệp và người dân thực hiện cho thuận lợi.

    09:12 (GMT+7) - Thứ Hai, 18/8/2008 Trả lời Thích
  • Tôi cũng đồng ý kiến với bạn NQ Văn.

    Một công ty cổ phần có tài sản, có nợ, có vốn điều lệ...

    Việc mang vốn điều lệ chia ra thành các phần bằng nhau theo quy ước gọi là cổ phần. Nhưng giá trị thực của cổ phần phải là (Tổng tài sản - tổng số nợ )/tổng số cổ phần, hay còn gọi là giá trị sổ sách; giá trị sổ sách này thay đổi liên tục theo từng giai đoạn sản xuất kinh doanh của công ty. Có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn giá trị quy ước.

    00:51 (GMT+7) - Thứ Hai, 18/8/2008 Trả lời Thích
  • Tôi thấy định nghĩa: "Cổ phần là một phần sở hữu của cổ đông đối với vốn điều lệ của tổ chức phát hành , bao gồm cả quyền mua cổ phiếu" hoăc "Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau được gọi là cổ phần" đều không đúng và thực sự sẽ gây ra nhiều hệ luỵ không tốt, có thể tạo ra xung đợt về quyền lợi.

    Khi chúng tôi học tại lớp học chứng khoán, các thầy cô giáo là đều nói: ''Cổ phần là một phần trong tổng tài sản của công ty, tổ chức kinh tế được cổ phần hoá". Đến đây ta thấy có mấy vấn đề:

    1. Vốn điều lệ và tổng tài sản của công ty hoặc tổ chức kinh tế được cổ phần hoá là khác nhau.

    2. Khi công ty hoặc tổ chức kinh tế đã cổ phần hoá phát hành cổ phiếu thêm, số tiền thu đươc có khi lớn hơn số vốn điều lệ được tăng. Vì mệnh giá cổ phiếu và giá chào bán cổ phiếu là khác nhau, số tiền dư ra ngoài mệnh giá đưa vào một số công việc , dự án phát triển kinh doanh. Vậy nếu theo định nghĩa "Cổ phần là vốn điều lệ được chia thành các phần bằng nhau là không đúng, vì các cổ đông đóng tiền vào để thành lập công ty cổ phần với tổng số tiền hoàn toàn khác với số vốn điều lệ.

    3. Khi công ty bị phá sản , theo luật định thì tài sản của công ty phát mãi, sau khi trừ trả tiền còn nợ cho người lao động, trả nợ ngân hàng... số còn lại chia đều cho các cổ đông. Đến đây ta thấy rõ rằng cổ phần không thể là một phần được chia đều từ vốn điều lệ.

    Do vậy nếu cơ quan pháp lý không xem xét lại chính xác định nghĩa cổ phần là gì, e rằng thị trường chứng khoán, kế hoặch cổ phần hoá sẽ còn ì ạch, khó phát triển. Lý do rất đơn giản: cổ đông có thể bị mất một phần tiền oan, vì họ bỏ tiền ra 15.000 VND ; 20.000 VND hoặc nhiều hơn thế, song luật lại bảo họ bỏ ra có 10.000 VND (mệnh giá một cổ phiếu). Thật là một điều phi lý!

    09:06 (GMT+7) - Chủ Nhật, 17/8/2008 Trả lời Thích
  • Vốn điều lệ của công ty được chia nhỏ thành nhiều phần bằng nhau mỗi phần đó được gọi là cổ phần. Người sở hữu một hay nhiều cổ phần được gọi là cổ đông, bao gồm cổ đông sáng lập và cổ đông thường, tức là người sở hữu một phần công ty.

    Khi công ty được phép phát hành thêm cổ phiếu mới thì có phần ưu đãi hơn những cổ đông cũ, vì không muốn pha loãng giá trị của cổ phiếu nên kèm theo quyền mua cổ phiếu, nguời có quyền này có thể chuyển nhượng nó. Vì vậy định nghĩa như trên là thiếu chính xác, cần điều chỉnh lại.

    09:00 (GMT+7) - Chủ Nhật, 17/8/2008 Trả lời Thích
Bình luận của bạn
Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu.
Gõ Telex Gõ VNI
Chọn hình đại diện cho bình luận của bạn?