Có nên tiếp tục theo đuổi lãi suất thực dương?

NGUYỄN HOÀI

19/08/2008 09:24 (GMT+7)

picture "Các ngân hàng cũng muốn hạ lãi suất nhưng vì giữa họ thiếu sự “đồng thuận” nên tình trạng tăng lãi suất để giữ khách hàng vẫn tiếp diễn. Một khi không hạ được lãi suất đầu vào thì làm sao hạ được lãi suất đầu ra?" - Ảnh: Việt Tuấn.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Bà Dương Thu Hương, Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng nhận định về tình hình lãi suất tại Việt Nam

Thưa bà, theo Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, cộng đồng này đang gặp khó khăn về vốn và nhiều doanh nghiệp có dấu hiệu phá sản, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam đã có động thái gì tháo gỡ khó khăn này?

Điều này đã được Hiệp hội dự báo từ đầu 2008 và đúng như vậy, đến giờ chúng ta phải trả giá. Từ đầu năm, Chính phủ đã có kêu gọi chia sẻ khó khăn chung để đạt mục tiêu hàng đầu là kiềm chế lạm phát, đồng thời vẫn đảm bảo tăng trưởng và an sinh xã hội.

Đây là chủ trương hết sức toàn diện nhưng trên thực tế thì chúng ta lại nhấn mạnh vào quan điểm “lạm phát thì lãi suất phải thực dương” và bỏ quên vấn đề phải chia sẻ.

Thực ra, quan điểm lãi suất thực dương mới chỉ đảm bảo lợi ích cho người gửi tiền và ít đả động đến yếu tố đầu ra. Trong nhiều trường hợp và hoàn cảnh, đầu ra lại còn quan trọng hơn đầu vào, bởi lẽ: đầu ra sẽ giúp cho các doanh nghiệp tồn tại, vượt qua được thời điểm khó khăn.

Việc cân nhắc đầu ra ở đây, được hiểu theo nghĩa: Nhà nước, doanh nghiệp, người gửi tiền, ngân hàng cùng chia sẻ khó khăn thì doanh nghiệp mới có thể tiếp cận được vốn ngân hàng và họ tiếp tục sản xuất kinh doanh, nhờ đó mà hàng triệu lao động có việc làm.
 
Có ý kiến rằng, muốn để doanh nghiệp tiếp cận được sâu hơn với nguồn vốn từ ngân hàng thì sắp tới, Ngân hàng Nhà nước nên hạ lãi suất cơ bản xuống dưới 14%/năm. Quan điểm của bà như thế nào?

Điều này không hẳn đúng. Hiện tại lãi suất cơ bản đang là 14%/năm, các ngân hàng thương mại được phép cho vay 21%/năm, với khoảng rộng 7%, các ngân hàng thương mại thừa sức thực hiện không chạm “sàn” và cũng không chạm “đỉnh” nếu các bên đều thống nhất chia sẻ, họ sẽ hoạt động trong khuôn khổ đó.

Và lỗi này không thuộc về Ngân hàng Nhà nước. Ngay cả Hiệp hội Ngân hàng cũng đã phát động phong trào “đồng thuận”, lãi suất huy động thấp hơn một chút, người gửi tiền chịu thiệt một chút, bù lại, ngân hàng cũng thu lợi nhuận bớt đi để doanh nghiệp vay vốn dễ tiếp cận hơn với vốn vay nhưng vì cứ làm theo “thực dương” thì phải chịu thôi. Cái gì cũng có tính hai mặt của nó.

Theo bà, điều gì sẽ xảy ra khi doanh nghiệp phá sản?

Doanh nghiệp phá sản thì mục tiêu an sinh xã hội không đạt được, thất nghiệp gia tăng, ngân sách thất thu thuế, nợ tồn đọng của ngân hàng tăng lên. Phải thấy là trong bất luận một hoàn cảnh nào, sản xuất vẫn phải duy trì bình thường. Chứ nếu chỉ bảo vệ cho người gửi tiền thôi thì làm sao hài hòa được 4 mục tiêu trên?

Hiện tại, các ngân hàng đều phản ánh là nhiều doanh nghiệp gặp không ít khó khăn, vì thế họ không dám đầu tư vốn vào nhiều. Các ngân hàng cũng muốn hạ lãi suất nhưng vì giữa họ thiếu sự “đồng thuận” nên tình trạng tăng lãi suất để giữ khách hàng vẫn tiếp diễn. Một khi không hạ được lãi suất đầu vào thì làm sao hạ được lãi suất đầu ra?

Chưa kể, người dân gửi tiền cũng chỉ muốn lãi suất “thực dương” và không ít nhà phân tích cũng lại cổ súy cho xu hướng này.
 
Theo bà, để giải quyết bất cập này, nên đi theo hướng nào?

Trong lúc này, quan điểm của tôi là vẫn chia sẻ để đặt lợi ích toàn cục lên trên hết. Người gửi tiền vào ngân hàng nên chịu thiệt một chút, chẳng hạn, lạm phát đang là 19%/năm thì không ngân hàng nào nhận tiền gửi 10%/năm mà chí ít cũng 16%/năm – 17%/năm thì đầu ra cho doanh nghiệp cũng “loanh quanh” 18%/năm.

Điều này không phải là người gửi tiền bị tước toàn bộ lợi ích hay bị chèn ép.

Mỗi bên bớt đi một chút lợi ích thì mọi nhà đều được! Và được lớn nhất là giải quyết được 4 mục tiêu: thất nghiệp ít, nền kinh tế vẫn duy trì tăng trưởng, ngân sách vẫn thu được thuế và ngân hàng không bị đổ vỡ.

Nhưng nhiều ý kiến cho rằng, sự đổ vỡ của một số doanh nghiệp hiện nay là do sự đánh đổi của chính sách thắt chặt tiền tệ. Bà nghĩ sao về điều này?

Nhìn sâu hơn, đó hoàn toàn chưa hẳn do sự đánh đổi của chính sách thắt chặt tiền tệ mà là do sự đánh đổi của quan điểm “lãi suất thực dương”.

Với biên độ từ 14% đến 21% thì không phải do chuyện thắt chặt mà do không chịu chia sẻ. Ngay cả việc khống chế tổng mức tăng trưởng dư nợ trong toàn hệ thống 30% cũng không hẳn là thắt chặt. Bởi vì, Ngân hàng Nhà nước điều hành “con số 30%” một cách rất linh hoạt. Không phải khống chế mọi ngân hàng thương mại tăng trưởng tín dụng đều ở mức 30%.

Thực tế, những nhu cầu nào lành mạnh mà nền kinh tế đòi hỏi và đáp ứng được như xuất khẩu, phát triển nông nghiệp, sản xuất kinh doanh mà trả được nợ là vẫn đầu tư, chứ hoàn toàn không phải thắt lại và không cho vay.
 
Cũng có một ý kiến khác, sở dĩ ngân hàng thương mại không hạ được lãi suất cho vay là do quy mô vốn nhỏ và tỷ lệ vốn trung và dài hạn thấp nên không thể hạ được lãi suất. Điều này được hiểu như thế nào?

Đó hoàn toàn là suy diễn. Năm 2007, hầu hết ngân hàng thương mại cũng “bé” chứ đã lớn đâu mà dư nợ tín dụng của họ vẫn vượt 200%! Điều này không phụ thuộc vào quy mô. Các ngân hàng đều có phân khúc thị trường của mình: ngân hàng lớn cho vay khách hàng lớn, ngân hàng nhỏ cho vay khách hàng nhỏ và đó là điều bình thường trong kinh doanh ngân hàng.

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Quang Thức

    16:39 (GMT+7) - Thứ Bảy, 23/8/2008

    Lý thuyết của bà Hương thực chất là sự chuyển tiền (wealth) từ tay người gửi tiền (trong đó có người nghèo) sang các doanh nghiệp nhỏ. Điều này càng làm mất cân bằng trong xã hội.

    Nếu lãi suất tiền đồng thực âm, không ai muốn gửi tiền đồng vào ngân hàng nữa. Thay vào đó, người dân sẽ "đầu tư" vào vàng hay hàng hóa để chống lạm phát. Các ngân hàng sẽ gặp khó khăn hơn trong việc huy động vốn.

    "Thuyết" của bà Hương hơi lý tưởng hoá; ở chỗ, mọi người đều có ý thức vì xã hội mà nhìn đồng tiền xương máu của mình bị xói mòn đi. Nhưng nếu ai cũng chịu hi sinh một tí, như lời của bà Hương, thì chắc kinh tế Mỹ không rơi vào khủng hoảng như bây giờ.

    Nếu không tăng lãi suất thực dương, tiền đồng có thể mất giá và ảnh hưởng của việc này thì ai cũng biết. Áp lực cho ngân hàng nhà nước (để giữ giá đồng tiền Việt) sẽ nặng hơn.

  • Nguyễn Quang

    19:47 (GMT+7) - Thứ Năm, 21/8/2008

    Tôi đồng tình với ý kiến của bà Hương. Bởi vì một nền kinh tế phát triển thì các doanh nghiệp của nền kinh tế đó phải phát triển, tức là phải tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đó phát triển.

    Khi doanh nghiệp phát triển thì tạo ra nhiều của cải, tạo ra nhiều công việc, thu nhập quốc dân tăng thì an sinh xã hội sẽ được thực hiện tốt. Vì vậy, giảm lãi suất cho vay là một yêu cầu cần thiết, khi đó đồng tiền sẽ được đầu tư vào sản xuất.

    Nước ta đang trong thời kỳ phát triển vì vậy rất cần nhiều tiền cho đầu tư.

    Tôi xin nêu một ví dụ cụ thể như việc các công ty xuất nhập khẩu cá tra, cá basa tại các tỉnh ĐBSCL do không đủ vốn, vay ngân hàng thì lãi suất cao vì thế không thể thu mua cá nguyên liệu cho người nông dân.

    Người nông dân không bán được cá sẽ không có vốn tái đầu tư, vì vậy sang vụ kế tiếp sẽ lấy đâu ra cá nguyên liệu cho các nhà máy hoạt động. (Đấy chỉ là ví dụ cách đây hơn 2 tháng trước, còn bây giờ nhờ có sự hỗ trợ nên đã giải quyết được khó khăn này).

    Vì vậy ưu tiên tạo đồng vốn cho sự hoạt động của các doanh nghiệp là cần thiết.

  • Lao Dong

    17:27 (GMT+7) - Thứ Năm, 21/8/2008

    Tôi không dám nghĩ cao siêu quá nhiều về kinh tế vĩ mô hay vi mô cho dù tôi cũng đã tốt nghiệp đến hai trường đại học, trong đó có một trường về chuyên ngành kinh tế. Tôi chỉ xin nêu lên một cách nhìn của một người dân bình thường để cùng chia sẻ.

    Cứ đến cuối mỗi năm là dịp những người như chúng tôi mong có một chút tiền thưởng lương tháng 13 để lo cho gia đình, nhưng khi cầm tiền thưởng trên tay lại cảm thấy chạnh buồn vì nhìn ra các bạn của tôi làm việc trong ngành ngân hàng. Các ngân hàng công bố lãi lớn, rồi thưởng lớn cho nhân viên, số tiền thưởng thậm chí bằng mức thu nhập từ lương của tôi cả một năm. Tại sao vậy?

    Những đồng tiền thu nhập từ lương hàng tháng của tôi không nhiều, nên mỗi tháng tôi chỉ dành dụm được vài trăm ngàn và gửi tiết kiệm để dành, nay lạm phát tăng cao, những đồng tiền tiết kiệm đấy mất đi một phần giá trị.

    Và chúng ta lại bàn là mọi người hãy cùng nhau chống lạm phát. Hạ lãi suất (lãi suất vẫn còn đang thực âm) để cùng chia sẻ với chủ doanh nghiệp, hệ thống ngân hàng. Tôi phải nghĩ như thế nào?

  • Nguyễn Trí Dũng

    17:26 (GMT+7) - Thứ Năm, 21/8/2008

    Tôi thấy, Ngọc Ban và Ocean nói rất hay. Bà Hương không phải là người thiếu lý thuyết kinh điển lẫn kinh nghiệm về điều hành chính sách tiền tệ. Vấn đề là ở thời điểm này, để cứu lấy "đại cục" tức là nền kinh tế, mỗi bên cần hy sinh một chút lợi ích của mình.

    Mọi người đều ra sức bàn tán và ai cũng đứng trên lợi ích của mình. Đó cũng là cách hay để nhìn nhận vấn đề.

    Tuy nhiên, nếu có nhiều ý kiến đồng tình với Bà Hương nhưng Ban biên tập thấy na ná như nhau và không post lên, chỉ post những ý kiến khác hoặc trái ngược sẽ gây ra sự hoang mang đối với người đọc.

    Cảm ơn Bà Hương, cảm ơn tác giả bài phỏng vấn đã cho độc giả những tri thức hay, sát thực vấn đề.

    Những diễn đàn như thế này là cần thiết và rất đáng hoan nghênh.

  • Nguyen Tran

    17:24 (GMT+7) - Thứ Năm, 21/8/2008

    Nếu lãi suất thấp thì lại sẽ có một vòng quay mới như vừa rồi là chứng khoán - bất động sản - lạm phát. Các bạn nói lãi suất hiện nay không thực dương là chưa đúng hoàn toàn vì bạn vẫn mua được các loại ngoại tệ với giá không đổi như cách đây một năm mà. Có thể nói, với lãi suất như vầy và tỷ giá cao của VND thì chúng ta đi du lịch nước ngoài là thích nhất.

  • Le Van Luong

    15:50 (GMT+7) - Thứ Năm, 21/8/2008

    Theo như bà Hương nói thì chẳng có ai muốn gửi tiền vào ngân hàng trừ trường hợp bất đắc dĩ nào đấy. Muốn có lãi suất thực dương người gửi tiền sẽ dần chuyển sang đồng tiền khác hoặc vàng để gửi nhằm chống lại sự hao hụt đối với tài sản của chính mình bởi lạm phát cao.

    Nếu để tình trạng lãi suất âm kéo dài còn nguy hiểm hơn đối với nền kinh tế. Tình trạng đô la hóa, hệ thống ngân hàng gặp nhiều khó khăn…

    Đôi lúc lãi suất âm phải chấp nhận miễn cưỡng mà thôi, chứ mục tiêu phấn đấu để lãi suất thực dương là hoàn toàn chính xác chứ không như bà Hương nói.

  • Ocean

    09:04 (GMT+7) - Thứ Năm, 21/8/2008

    Chào Ngoc Ban,

    Ý kiến của bạn trong bối cảnh hiện nay là hợp lý đấy. Một sinh viên đưa ra nhận định như vậy là có chính kiến rõ ràng và nếu sau này bạn tiếp tục nghiên cứu sẽ tiến xa hơn.

    Các trao đổi của nhiều người về vấn đề này thực ra đang mổ xẻ rất nhiều vấn đề. Nhưng trong lúc này, việc mọi người cần phải chia sẻ với nhau là việc nên làm.

    Hôm trước, tôi đã nói rằng kinh tế Việt Nam đang gặp khó khăn chứ chưa nên quá lạc quan sớm trong ngắn hạn nhưng vẫn tin trong trung và dài hạn. Do đó, người gửi tiền, bây giờ không phải đặt vấn đề tối đa hoá lợi nhuận lên hàng đầu mà phải là tối thiểu hoá rủi ro lên hàng đầu.

    Vì vậy, thà gửi tiền với mức thấp hơn lạm phát còn hơn không gửi tiền như bạn nói. Mà nếu muốn đầu tư thì ngoại trừ một số đơn vị cá nhân có khả năng đầu thì đại đa số sẽ không biết đầu tư vào đâu?

    Vậy chắc hẳn lợi ích chẳng bằng gửi ngân hàng, chỉ cần 1 năm đã có suất sinh lợi gần 20%.

    Nói đi, nói lại, tôi thấy không cần đề cập chủ đề này quá nhiều nữa.

  • Ngoc Ban

    01:50 (GMT+7) - Thứ Năm, 21/8/2008

    Cháu đọc thấy đây là lời nhận xét của những người đã có kinh nghiệm trong ngành, trong khi cháu là sinh viên nên có gì các bác chỉ dạy cho cháu.

    Cháu thấy bất kỳ một vấn đề nào cũng có hai mặt của nó, không hoàn toàn đúng cũng không hoàn toàn sai nên nếu nói rằng quan điểm trên đúng hay sai thì phải đứng trên góc độ nào.

    Cháu ủng hộ quan điểm của bà Hương vì quả thật doanh nghiệp có tồn tại thì người dân mới có việc làm và có tiền.

    Ngược lại nếu tăng lãi suất thì doanh nghiệp sẽ thu hẹp sản xuất, dẫn đến thất nghiệp. Cháu thấy có bác nói là nếu giảm lãi suất người dân sẽ không gửi tiền nữa vì lãi suất thấp hơn tỉ lệ lạm phát.

    Vậy cháu xin hỏi là gửi tiền để có thêm một chút ( dù thấp hơn lạm phát) hay là cứ để tiền ở nhà?

    Có bác nói họ sẽ dùng tiền làm việc khác. Vậy cụ thể họ làm gì? hay cứ nói thế thôi, liệu bản thân họ có thể làm gì đó mang lại lãi suất cao hơn lãi ngân hàng không? Thực tế nếu bản thân họ đã có thể làm được như thế thì họ cũng không tội gì gửi tiền, kể cả lãi suất có cao.

    Mọi người nên chia sẻ với nhau để cùng đi lên bền vững nếu không xét cho cùng chẳng ai được lợi cả!

  • Hoàng Việt Hà

    16:14 (GMT+7) - Thứ Tư, 20/8/2008

    Tôi thấy cần đi sâu tìm hiểu tác động của chính sách tiền tệ đã phát huy hiệu quả đến đâu trong việc chống lạm phát, rồi mới nói đến cơ sở và điều kiện hạ hay tăng lãi suất:

    - Nhìn vào cơ cấu “lạm phát” của rổ hàng hóa, chúng ta thấy lạm phát chủ yếu có nguồn gốc từ nông nghiệp (chiếm 50%). Lạm phát có nguồn gốc từ thiếu hụt nguồn cung trong sản xuất nông nghiệp do những bất cập trong công nghiệp hóa và đô thị hóa.

    Rõ ràng giải pháp kiềm chế lạm phát theo kiểu tiền tệ thắt chặt đối với nhóm này rõ ràng là không phù hợp. Các giải phát vừa qua chỉ mang tích chất tình thế chứ chưa có giải pháp nào củng cố phát triển nông nghiệp như một thành trì chống lạm phát hiệu quả nhất.

    - Nhóm thứ 2 liên quan tới các sản phẩm nhập khẩu chịu ảnh hưởng của giá thế giới, giá thế giới tăng thì giá trong nước cũng phải tăng. Việc kiểm soát tín dụng tới các khu vực này, theo tôi đã phát huy tác dụng giảm nhập siêu và bình ổn tỷ giá rõ rệt trong thời gian vừa qua. Hiện nay giá dầu đã giảm nhiều là một tín hiệu đáng mừng.

    - Nhóm thứ 3 phát triển quá nóng trong thời gian qua liên quan tới xây dựng (bất động sản, cơ sở hạ tầng), liên quan tới giải ngân của các khỏan đầu tư của các tổng công ty, ngân sách. Thắt chặt tiền tệ, tăng lãi suất vừa qua đã có tác dụng điều chỉnh liên quan tới hàng hóa của nhóm này (cắt giảm đầu tư công…).

    - Nhóm thứ 4 liên quan tới sản xuất kinh doanh sản phầm hàng hóa trong nước, chủ yếu do các doanh nghiệp tư nhân cung cấp. Tôi cho rằng đầu tư và sản xuất liên quan hàng hóa của nhóm này qua thống kê thực tế không phải là nguyên nhân gây ra lạm phát tại Việt Nam nhưng đã lãnh đủ từ chính sách tiền tệ thắt chặt vừa rồi.

    Hiện nay nhà sản xuất của nhóm này đang ngắc ngoải do chịu mặt bằng lãi suất cao áp dụng đồng loạt. Nếu không có biện pháp nới lỏng chính sách tiền tệ nhanh, nhóm này sẽ xỉu đồng loạt và ngây hậu quả rất nguy hại đối với hệ thống ngân hàng và cả nền kinh tế.

    Nói tóm lại Việt Nam là nền kinh tế mà các yếu tố thị trường còn phát triển chưa đồng đều, dẫn tới nhiều vấn đề liên quan tới cấu trúc kinh tế. Các giải pháp phải vận dụng phù hợp với từng khu vực. Việc tranh luận đơn giản là tăng hay giảm lãi suất thực tế khó có thể giải quyết được gốc rễ của vấn đề.

  • Ngọc Sơn

    16:00 (GMT+7) - Thứ Tư, 20/8/2008

    Thực hiện chính sách lãi suất huy động tiệm cận với lãi suất dương và các biện pháp thắt chặt của Chính phủ lúc này là thích hợp và đang phát huy tác dụng!

    Ngân hàng cần chia sẻ bằng cách giảm lợi nhuận của mình một phần (vừa rồi ngân hàng nào cũng công bố lãi hàng trăm tỷ đồng), doanh nghiệp cũng cân nhắc giảm chi phí, tránh vay thoải mái, đầu tư không hiệu quả.

    Tiết kiệm là tiền huy động trong cộng đồng, người dân đã chịu giá sinh hoạt đắt đỏ mà tiền tiết kiệm gửi lãi suất thấp dẫn đến đồng tiền cụt dần thì họ sẽ mua vàng cất giữ để đề phòng bất trắc trong cuộc sống.

  • Minh Quan

    14:14 (GMT+7) - Thứ Tư, 20/8/2008

    Về lý thuyết, nếu lãi suất của các ngân hàng thương mại (nhất là lãi suất cho vay) thấp hơn tỷ lệ lạm phát, sẽ khuyến khích các doanh nghiệp vay tiền và không khuyến khích gửi tiền vào ngân hàng, như vậy, hậu quả tiếp theo là làm cho lạm phát càng trầm trọng.

    Ngược lại, việc thực hiện chính sách lãi suất thực dương ban đầu sẽ gây khó khăn lớn cho các doanh nghiệp (có thể thu hẹp sản xuất, kinh doanh, thua lỗ và phá sản) nhưng chắc chắn sẽ loại bỏ được nhiều nhu cầu vay vốn không hiệu quả qua đó giảm khối lượng tín dụng cung ứng cho nền kinh tế và tiếp theo là giảm tỷ lệ lạm phát.

    Khi lạm phát giảm, theo quy luật cung cầu, lãi suất cũng sẽ giảm theo.

    Về thực tiễn, việc áp dụng chính sách lãi suất thực dương đã được chứng minh là có hiệu quả dưới trong những năm 80 của thế kỹ trước và những tháng đầu năm nay.

    Chính sách này cũng cho thấy chủ trương tạo ra sự đồng thuận giảm lãi suất giữa các ngân hàng thương mại (mà thực chất là ấn định trần lãi suất) do Hiệp hội Ngân hàng đề xuất không những vi phạm pháp luật mà còn không phù hợp với quy luật kinh tế khách quan, giảm hiệu quả của chính sách chống lạm phát của Chính phủ.

  • 2NongDan

    11:21 (GMT+7) - Thứ Tư, 20/8/2008

    Theo tôi, ý tưởng bà Hương là đúng, nhưng với vị trí của bà, ý kiến trên làm tôi băn khoăn.

    1. Về ý kiến các bên cùng chia sẽ khó khăn, chúng ta tạm chia 3 nhóm có trách nhiệm: các ngân hàng thương mại, doanh ngiệp, người cho vay (tổ chức, cá nhân).

    Ý kiến của bà Hương cho tôi cảm nhận chỉ đặt vấn đề trách nhiệm nhóm người với đồng tíêt kiệm còm cõi, trong khi lãi suất cơ bản vẫn chưa hạ, ngay lãi suất trái phiếu huy động hiện nay cũng ở mức cao, các ngân hàng thương mại thì lợi nhuận về cơ bản là cao trong 6 tháng đầu năm trong khi các doanh nghiệp khó khăn.

    Đối với những tổ chức, cá nhân vốn lớn họ còn nhiều kênh khác đầu tư, khi lãi suất ngân hàng không hấp dẫn.

    2. Về lãi suất thực dương bà Hương đề cập, thực tế người gửi tiền vay đã, đang và vẫn chia sẻ khó khăn: nếu ai đã gửi tiền từ đầu năm đến giờ, với lãi suất hiện nay, vẫn không mua lại đủ số hàng hoá so đầu năm.

    3. Vấn đề quan trọng nhất là liệu khi hạ lãi suất, chính sách chống lạm phát có thực hiện được không? Ai dám chắc rằng đồng vốn đổ vào doanh nghiệp hiệu quả hay lại tiếp chảy vào những mảng mang tính đầu cơ, những dự án kém hiệu quả?

    Chưa nói đến việc khi giảm lãi suất trong khi CPI còn cao như vậy sẽ tác động làm thay đổi đồng vốn sang các kênh khác, gây những hậu quả khôn lường, khi đó không phải chỉ 1,2 doanh nghiệp phá sản...

    Với lãi suất hiện nay, những doanh nghiệp có quản lý tốt, chuẩn bị tốt vẫn phát triển, để hỗ trợ cho những doanh nghiệp khó khăn thì cơ quan chức năng cần có những chính sách khác nữa, chứ không chỉ ở lãi suất.

  • Minh Long

    11:19 (GMT+7) - Thứ Tư, 20/8/2008

    Kính gửi tòa soạn, tôi xin phép được có một số ý kiến về bài viết "Có nên tiếp tục theo đuổi lãi suất thực dương?".

    Từ đầu năm 2007 đến nay chưa bao giờ lãi suất tiền gửi thực dương vì vậy đặt tiêu đề bài viết "Có nên tiếp tục theo đuổi lãi suất thực dương?" là chưa chính xác lắm!

    Tôi cũng nhận thấy có nhiều tác giả nhầm lẫn giữa lãi suất sẽ nhận được trong thời gian 12 tháng sắp tới 18% (hoặc theo bà Hương "nên là 16%") và lãi suất thực nhận trong thời gian từ đầu năm đến hiện tại.

    Nếu như lạm phát từ đầu năm đến tháng 7/2008 là 19% thì lãi suất thực nhận của người gửi tiền là bao nhiêu?

    Giả sử lấy theo mức cao thì từ tháng 01/2008 đến tháng 05/2008 lãi suất mỗi tháng là 1% (thực tế tháng 01,02 thấp hơn và tháng 03,04 thấp do đồng thuận), tháng 06/2008 là 1,3% và tháng 07/2008 là 1,5%.

    Như vậy trong 7 tháng người gửi tiền nhận được lãi suất 7,8% so với lạm phát 19%, ở đây là tính theo người gửi kỳ hạn 1 tháng. Nếu ai gửi kỳ hạn 3 tháng trở lên thì lãi suất thực nhận còn thấp hơn.

    Các chuyên gia kinh tế hay lý luận rằng lãi suất tăng cao thì cũng không hút được thêm tiền vậy các chuyên gia có nghĩ rằng lãi suất giảm thì sẽ có một số người rút tiền để làm chuyện khác?

    Tất nhiên lãi suất cao hay thấp là quyền của ngân hàng còn gửi tiền hay không gửi là quyền của người gửi, "thuận mua vừa bán"!

    Xin cảm ơn tòa soạn.

  • Hoang Minh Thien

    08:38 (GMT+7) - Thứ Tư, 20/8/2008

    Ở Việt Nam, bàn tay hữu hình với công cụ "tỷ lệ dự trữ bắt buộc", cộng thêm trái phiếu bắt buộc để giảm cung tiền, đẩy lãi suất tăng lên. Các nước phát triển sử dụng công cụ lãi suất để điều tiết cung tiền.

    Việt Nam bị lạm phát kép: giá cả các mặt hàng trên thế giới tăng + đồng Việt Nam mất giá so với ngoại tệ.

    Nếu lãi suất không tăng trong tình hình lạm phát thì người dân sẽ từ bỏ đồng Việt Nam mua ngoại tệ, vàng, ... điều này sẽ dẫn đến siêu lạm phát. Tình hình sẽ càng tồi tệ hơn nhiều.

    Tóm lại lãi suất thực dương là đúng.

  • Hoanhdama

    08:17 (GMT+7) - Thứ Tư, 20/8/2008

    Với kinh nghiệm làm việc trong ngành ngân hàng lâu năm, đảm nhận các vị trí quan trọng về pricing, tính giá vốn và lãi suất đầu ra, đầu vào, tôi thấy quan ngại về ý kiến của bà Hương.

    Huy động 16-17% mà cho vay 18% đã có lãi, thiết tưởng bà Hương chưa tính đến các yếu tố quy định pháp lý về dự trữ bắt buộc, bảo hiểm tiền gửi...

    Tôi chỉ đơn cử bảo hiểm tiền gửi đã là 0.15% giá trị khoản tiết kiệm, chi phí dự phòng chung khi cho vay là 0.75% giá trị khoản vay, hai loại chi phí này đã ngốn thêm 0.9% chi phí.

    Nếu huy động tiết kiệm 17% thì chi phí đã lên đến 17.9% chưa kể chi phí dự trữ bắt buộc 2.1% cho khoản tiết kiệm và chi phí dự trữ tiền mặt khoảng 0.2% nữa thì tổng chi phí sẽ đội lên trên 20%!

  • Lê Khánh

    21:51 (GMT+7) - Thứ Ba, 19/8/2008

    Các ngân hàng ở Mỹ, châu Âu, Nhật có lãi suất rất thấp. Tạo điều kiện cho họ tham gia vào thị trường tài chính Việt Nam với lãi suất cho vay chỉ cần 14% 1 năm là lãi suất đã thực dương rồi.

    Đồng thời, các doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam cũng có điều kiện tiếp cận nguồn vốn với chi phí thấp, giá cả hàng hoá giảm. Các vấn đề an sinh được giải quyết. Và cân đối được bài toán tăng trưởng, giảm lạm phát, tạo áp lực làm giảm lãi suất đầu vào đối với các ngân hàng thương mại nhỏ.

  • Trần Bình Lặng

    20:09 (GMT+7) - Thứ Ba, 19/8/2008

    Với tư cách là một người nghiên cứu kinh tế, tôi thấy có sự không chính xác trong cách giải thích của bà Hương và lời bình luận của một số bạn đọc.

    1. Mọi người đều nhắc tới chính sách lãi suất thực dương, nhưng tôi thấy trong thực tế kể từ khi lạm phát tăng vọt năm ngoái đến giờ lãi suất thực chưa bao giờ dương. Nếu năm nay lạm phát ở mức 30%, lãi suất tiền gửi từ 15~19% thì lãi suất thực là -11~-15%. Một con số quá lớn!

    2. Theo cách giả thích của bà Hương, thì chính sách thắt chặt tiền tệ và chính sách lãi suất thực dương là khác nhau. Nhưng thực ra thì chúng đều là một.

    Theo tôi, việc doanh nghiệp gặp khó khăn về vốn là sự đánh đổi mà chúng ta đã dự đoán trước và buộc phải chấp nhận. Thắt chặt tiền tệ để giảm lạm phát là giải pháp chuẩn ('textbook' policy response): tăng lãi suất --> giảm tổng cầu.

    Có ít nhất hai kênh để thực hiện điều này là (a) kênh thứ nhất: tăng lãi suất --> làm giảm tiêu dùng của người tiêu dùng (bằng cách khuyến khích họ gửi tiền và ngân hàng); (b) kênh thứ hai: tăng lãi suất --> làm giảm đầu tư của doanh nghiệp (bằng cách đánh vào chi phí đầu tư của họ). Những hạ bớt lãi suất cho vay là coi nhẹ kênh thứ hai này.

    Suy cho cùng câu hỏi cần phải đặt lại là chúng ta có sẵn sàng đặt việc chống lạm phát lên là mục tiêu số một hay không mà thôi.

  • Phạm Quốc Đông

    17:50 (GMT+7) - Thứ Ba, 19/8/2008

    Đứng ở góc độ quản lý nhà nước thì việc thực thi chính sách lãi suất thực dương đối với người dân gửi tiền tiền kiệm là hoàn toàn đúng đắn. Thật chưa xác đáng khi nói việc thực thi lãi suất thực dương này dẫn đến khó khăn cho các doanh nghiệp vì chi phí vay vốn đầu vào cao.

    Bởi lẽ:

    Lãi suất huy động của các ngân hàng (giá vốn đầu vào ) phải được tính trên cơ sở lãi suất huy động bình quân. Các ngân hàng không chỉ huy động tiết kiệm từ dân cư mà còn huy động từ các nguồn khác như tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế, các nguồn vốn tài trợ khác... Do vậy không thể lấy lãi suất huy động tiết kiệm từ dân cư để tính làm giá vốn của các ngân hàng và từ đó cho vay ra với lãi suất cho vay cao ngất ngưởng như hiện nay.

    Vấn đề ở đây chính là các ngân hàng. Người dân khi gửi tiết kiệm thấy có hiệu quả thì họ gửi, còn ngược lại thì họ sẽ tìm kiếm kênh đầu tư khác hiệu quả hơn. Không thể nói người dân phải chịu thế này, thế kia được, nhất là trong kinh tế thị trường. Việc thực thi chính sách lãi suất thực dương đối với người dân gửi tiền tiết kiệm là thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta là do dân, vì dân.

    Các ngân hàng cần cân đối các nguồn vốn huy động đầu vào của mình và thực hiện lãi suất cho vay đầu ra ở mức hợp lý đối với các doanh nghiệp thì vấn đề sẽ được giải quyết. Nếu các ngân hàng vẫn muốn cho vay ở lãi suất cao làm khó cho các doanh nghiệp thì họ phải biết lợi ích dàu hạn của họ sẽ bị ảnh hưởng như thế nào.

    Ở đây chúng ta đều biết các ngân hàng có phân khúc thị trường của riêng mình đối với các đối tượng khách hàng của họ. Nhưng bên cạnh đó các ngân hàng còn cho vay và gửi vốn lẫn nhau mà chúng ta thường gọi là thị trường liên ngân hàng. Khi các ngân hàng không dám hạ lãi suất huy động đầu vào là do lo sợ về nguồn vốn chảy đi sang ngân hàng khác mà khi muốn huy động lại thì sẽ khó khăn và cần phải có thời gian. Như vậy vấn đề thanh khoản của các ngân hàng vẫn chưa yên ổn như chúng ta nghĩ.

    Ngân hàng Nhà nước và Hiệp hội Ngân hàng là người nắm rõ nhất về thực trạng năng lực của các ngân hàng. Chỉ khi nào chúng ta giải quyết được thực trạng yếu kếm về quản lý và tài chính của một số ngân hàng thì tính thanh khoản của hệ thống mới được đảm bảo vững chắc, tránh được đổ vỡ dây chuyền.

    Như vậy hiện nay có ngân hàng hoàn toàn có thể cho vay với lãi suất thấp hơn mức bình quân chung của thị trường (vì chi phí đầu vào bình quân của họ thấp) , nhưng vì các ngân hàng có tính thanh khoản kém vẫn có nhu cầu vay với lãi suất cao hơn qua thị trường liên ngân hàng để đảm bảo an toàn cho hoạt động của họ, nên lãi suất cho vay vẫn chưa thể thấp đi được là vậy.

    Vì lợi ích dài hạn, tôi nghĩ Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại sẽ có giải pháp thích hợp cho thực trạng này mà không cần phải kêu gọi người dân chịu thiệt (điều mà chúng ta có thể mong muốn nhưng không thể đạt được trong thực tế).

  • Ocean

    17:05 (GMT+7) - Thứ Ba, 19/8/2008

    Thực ra việc "cùng chia sẻ, mỗi bên thiệt một tý" là một kiểu "đốt rừng để ngăn chặn cháy rừng lan rộng".

    1. Trong tình hình lạm phát và lãi suất hiện nay, nếu tiếp tục theo đuổi mức lãi suất thực dương là cùng đưa nhau vào chỗ hiểm nguy: trước hết là doanh nghiệp, sau đó là ngân hàng vì nợ xấu sẽ tăng mạnh; tiến đến là nền kinh tế và cuối cùng là người gửi tiền về trung dài hạn cũng chẳng được lợi gì nếu đồng tiền mất giá trị hơn nữa. Vì vậy, chấp nhận mỗi ông thiệt một chút là điều nên làm.

    2. Nhưng nên nhớ, tốt nhất không nên để xẩy ra "cháy rừng" hoặc nếu có "cháy rừng" thì có biện pháp dập tắt kịp thời chứ đừng đổ thêm dầu vào lửa, bởi để lạm phát "hết sức bất ngờ" và dư nợ cho vay tăng mạnh đến nỗi phải "giật mình" thì hoàn toàn không nên. Đây mới là cốt lõi của vấn đề.

    Nguyên nhân sâu xa của vấn đề, theo tôi, là cấu trúc tài chính, tiền tệ còn mất cân đối, thông tin báo cáo kém và thiếu tin cậy, cộng với khi sự việc xẩy ra thì các biện pháp xử lý lại thiếu toàn diện và mang tính ứng phó.

    3. Nói cho đúng thì "quan điểm lãi suất thực dương" chỉ là một nguyên nhân trực tiếp, một giọt nước làm tràn ly cho sự khó khăn của hệ thống ngân hàng, doanh nghiệp hiện nay. Về lâu dài quan điểm này là quan điểm chủ đạo. Tuy nhiên cần linh hoạt, chứ trong bối cảnh lãi suất trên trời mà ra quan điểm lãi suất thực dương thì quả là quan liêu. Trong kịch bản xấu thì chúng ta cần chọn kịch bản ít xấu hơn để cứu toàn cục. Nó cũng như là chúng ta phải dùng hoá trị, xạ trị để chữa ung thư. Biết là xấu đấy, độc đấy, hại sức khoẻ nghiêm trọng đấy nhưng vẫn phải làm.

    Vấn đề là cộng đồng dân cư, doanh nghiệp, ngân hàng, nhà quản lý phải ý thức được tính nghiêm trọng của vấn đề mà đồng thuận với nhâu cách giải quyết. Đây cũng là một kinh nghiệm quý báu cho các nhà phân tích, quản lý vĩ mô.

    4. Về lâu dài, Ngân hàng Nhà nước, với tư cách là ngân hàng trung ương, phải là đầu mối đưa ra các nguyên tắc thị trường (market disciplines) để các chủ thể tham gia thị trường là các định chế tài chính vận hành một cách chuyên nghiệp, minh bạch, phù hợp thông lệ thị trường.

  • Pham The Vien

    16:51 (GMT+7) - Thứ Ba, 19/8/2008

    Quan điểm của bà Hương chỉ mới phản ảnh được một khía cạnh từ doanh nghiệp mà chưa nhìn nhận từ phía khách hàng.

    Theo tôi, trước hết ta phải xem:

    - Các doanh nghiệp đều hoạt động trên nguồn vốn vay.

    - Các doanh nghiệp hoạt động công bằng.

    - Giá cả được hình thành từ chi phí.

    Do đó hiển nhiên người gửi tiết kiệm (đồng thời là khách hàng của các doanh nghiệp) đã phải chịu mức giá cao do lạm phát tăng cao.

    Doanh nghiệp muốn tồn tại được thì đòi hỏi phải có lợi nhuận, chẳng thể có doanh nghiệp nào tồn tại nếu không có lợi nhuận (trừ doanh nghiệp công ích).

    Nếu lãi suất thực âm thì chẳng khác nào người gửi tiền tiết kiệm (đồng thời là khách hàng của các doanh nghiệp) phải chịu thiệt 2 lần:

    1. Gửi tiền tiết kiệm nhưng lãi thực âm

    2. Mua hàng với giá thành cao.

    Vậy các doanh nghiệp phải tự có biện pháp làm giảm chi phí, tự mình phấn đấu để tồn tại, đó là quy luật thị trường.

  • Hoài Nam

    16:01 (GMT+7) - Thứ Ba, 19/8/2008

    Là người điều hành (chứ không phải là chủ đầu tư) một nhà máy có vốn gần 100 tỷ VND và gần 200 công nhân, tôi có một số ý kiến như sau để mọi người cùng đánh giá và nhận định:

    Quyền lợi của người gửi tiền, ngân hàng, doanh nghiệp cần có sự gắn bó,hài hòa với nhau. Vì doanh nghiệp sẽ là nơi chính thức làm ra của cài vật chất tạo ra giá trị thặng dư, là nơi trả lãi suất cho người gửi tiền thông qua ngân hàng.

    Với thực trạng hiện nay, lãi suất quá cao làm cho các doanh nghiệp khó có thể tiếp cận với nguồn vốn. Hiện nay các khách hàng của chúng tôi đều không mặn mà với việc vay vốn ngân hàng mà chủ trương có tiền đến đâu làm đến đó, chính vì vậy các nhà máy trong ngành chúng tôi đều phải thu hẹp sản xuất, sa thải công nhân...

    Cụ thể như nhà máy chúng tôi phải giảm năng lực sản xuất xuống còn từ 50-70%, số công nhân nghỉ việc đến hơn 60-70 người...

    Và tôi tin chắc các nhà máy và xí nghiệp khác trong ngành chúng tôi cũng có các con số tương ứng. Một số nhà máy mới đầu tư sẽ lâm vào tình cảnh phải trả gần gấp đôi lãi suất trước đây và có nguy cơ phá sản.

    Như vậy việc xiết chặt tiền tệ, việc tăng lãi suất thực dương đang làm cho chính sách an sinh của xã hội, các xí nghiệp nhà máy lâm vào tình trạng khó khăn. Và chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế sẽ suy giảm, khó đạt chỉ tiêu đã đề ra.

    Tôi nhận thấy nền kinh tế Mỹ lớn nhất thế giới khi suy thoái, lạm phát thì ngân hàng trung ương liên tục cắt giảm lải suất và hiện nay họ đang hồi phục và lúc này mới dự định tăng lãi suất.

    Tất nhiên như đã nói trên khi mà các doanh nghiệp hạn chế hoặc không vay nữa thì vốn sẽ ứ thừa và như vậy tất sẽ ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của các ngân hàng, buộc ngân hàng phải xem xét lại lãi suất huy động.

    Mặt khác trên tầm vĩ mô, cần xem xét luồng tiền lưu thông đang nằm ở đâu, việc đầu tư công có hiệu quả không, chi tiêu ngân sách như thế nào... để việc điều hành chính sách tiền tệ có hiệu quả cho toàn xã hội.

    Tóm lại: đứng trên cương vị là vừa là nhà sản xuất, vừa là người gửi tiền tôi thiết nghĩ là cần phải có sự chia sẻ lợi ích giữa các bên người gửi tiền, ngân hàng và doanh nghiệp thì nền kinh tế mới phát triển ổn định và bền vững được.

  • Trần Trọng Kim

    15:28 (GMT+7) - Thứ Ba, 19/8/2008

    Tôi muốn kính nhờ các nhà kinh tế giải thích cho rõ nội dung "lãi suất thực dương' là gì, trong quá trình diễn biến lãi suất huy động tiền gửi ở Việt Nam từ cuối 2007 đến nay thì thời điểm nào có lãi suất thực dương?

    Tôi so sánh chỉ số CPI hàng tháng với mức lãi suất huy động cao nhất cùng thời điểm thì thấy rằng, lãi suất trung bình hàng tháng chưa có lúc nào cao hơn chỉ số giá. Như vậy là người dân chúng tôi đã "chia sẻ" đều đều từ đầu năm tới nay.

    Mong được chỉ giúp.

    Xin cảm ơn!

  • Minh Hoang

    15:19 (GMT+7) - Thứ Ba, 19/8/2008

    Ý kiến của bà Thu Hương mang tính chuyên môn cao, phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước và hài hoà các lợi ích, trong đó có phần cùng chia sẻ lấy lợi ích tổng thể lâu dài làm trọng.

  • Dị Nhân

    14:35 (GMT+7) - Thứ Ba, 19/8/2008

    Chia sẻ khó khăn trong bối cảnh hiện nay là rất cần thiết. Tôi mong muốn nội dung bài phỏng vấn này đến được với các nhà chức trách.

    Theo tôi, để hạn chế lạm phát thì ngay lập tức phải hạn chế đầu tư, nhất là đầu tư từ ngân sách và từ các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước.

    Hiệu quả đầu tư đang ở mức rất thấp mà biểu hiện cụ thể là hầu hết các dự án đều đưa vào khai thác không như dự kiến nhất là các dự án đầu tư trong lĩnh vực xây dựng cơ bản.

    Nguyên nhân chính:

    - Năng lực quản lý dự án của các chủ đầu tư rất thấp, cùng với việc mở rộng đầu tư làm cho chất lượng nguồn nhân lực của các Chủ đầu tư vốn đã yếu lại rơi thêm vào tình trạng thiếu.

    - Không thu xếp đủ vốn: vấn đề này thường xảy ra ở các dự án đầu tư từ ngân sách. Ghi kế hoạch, khởi công hình thức, nhưng không bố trí đủ vốn phù hợp với tiến độ. Đây chính là hiện tượng đầu tư dàn trải.

  • Trần Mạnh Hà

    14:32 (GMT+7) - Thứ Ba, 19/8/2008

    Khi nền kinh tế bị cú sốc cung bất lợi thì lạm phát gia tăng và nền kinh tế bị đình trệ. Với quan điểm của nhà quản lý thì phải làm sao đưa ra các chính sách để tác động đến tổng cung và tổng cầu trong nền kinh tế, ít nhất là trong ngắn hạn để nhằm điều chỉnh các biến số kinh tế vĩ mô như lạm phát, tỷ giá, thất nghiệp, tăng trưởng kinh tế...

    Trước hết là kìm chế lạm phát, sau đó mới đảm bảo được chỉ tiêu tăng trưởng. Có nghĩa là trong ngắn hạn cần làm là giảm lạm phát, trong dài hạn phải tăng trưởng kinh tế.

    Nhiều người cứ quan niệm "lãi suất thực dương" trong mọi hoàn cảnh là chưa hoàn toàn xác đáng. Nếu trong dài hạn, thì phải đảm bảo lãi suất thực luôn dương. Còn trong ngắn hạn có thể không đạt được chỉ số này. Đơn giản, trong kinh tế, có biến số đúng trong ngắn hạn, có biến số đúng trong dài hạn.

    Vì vậy mọi người cũng nên nghĩ thoáng hơn về lãi suất. Nếu xét cả thời kỳ từ năm 1998 đến 2008, có năm giảm phát, nhưng lãi suất tiền gửi ngân hàng trung bình vẫn là 7-8%/năm% đấy thôi.

    Theo tôi nghĩ, các nhà quản lý và các nhà kinh tế không nên coi "lãi suất thực dương" như là một quy luật bất biến mà có thể dẫn đến sai lầm trong việc đánh giá thực tiễn và không hiệu quả trong chính sách.

  • Khổng Minh Khương

    14:05 (GMT+7) - Thứ Ba, 19/8/2008

    Khi bà Hương cùng Hiệp hội Ngân hàng đồng thuận hạ lãi suất từ 12% xuống 11% hồi tháng 3/2008 thì chúng ta đã thấy người dân không gửi tiền vào ngân hàng và Ngân hàng Nhà nước đã phải lập tức đẩy lãi suất cơ bản lên. Thị trường tiền tệ sau khi lãi suât xuống 11% như thế nào, chúng ta đã thấy quá rõ.

  • Trần Kiên

    13:36 (GMT+7) - Thứ Ba, 19/8/2008

    Bà Dương Thu Hương là Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng nên ý kiến của bà đại diện cho lợi ích nhóm của các ngân hàng là phải rồi.

    Lãi suất hiện nay phải để thị trường quyết định là chính. Trong nền kinh tế thị trường, không lẽ muốn người tiêu dùng vì “lợi ích toàn cục” mà chấp nhận chịu thiệt mang tiền vào gửi ngân hàng với lãi suất thấp hơn? Đây là vì “lợi ích toàn cục” hay “lợi ích nhóm” của các ngân hàng?

    Về bản chất các thành viên trong một cartel đều có xu hướng chạy theo lợi ích riêng của mình mà phá vỡ các thỏa thuận nếu không có một cơ chế trừng phạt đáng tin hoặc bắt buộc từ cơ quan quản lí. Chắc bà cũng thấy cơ chế đồng thuận lãi suất của Hiệp hội Ngân hàng từ lâu nay không có hiệu quả nếu không có Ngân hàng Nhà nước can thiệp vào. Vì thế, theo tôi Hiệp hội hãy để thị trường tự quyết định mức lãi suất.

    Ngoài ra, để cắt giảm lạm phát thì bắt buộc phải giảm tổng cầu. Đây là điều sơ đẳng mà ai đã học kinh tế vĩ mô đều phải biết. Khi giảm tổng cầu thì kinh tế rất dễ bị đình trệ, các doanh nghiệp sẽ khó khăn, nhiều doanh nghiệp sẽ phá sản… đặc biệt trong thời kỳ có các cú sốc bất lợi về cung như hiện nay khi giá nguyên, nhiên liệu tăng.

    Đây là cái giá bắt buộc phải trả khi muốn kiểm soát lạm phát ở Việt Nam hiện nay. Ngân hàng Nhà nước thắt chặt tín dụng nhằm giảm lạm phát vì biết rằng cái giá phải trả nếu để lạm phát kéo dài còn lớn hơn nhiều sự suy thoái trong ngắn hạn.

    Các mục tiêu mà bà Hương cho rằng nền kinh tế phải hướng tới như thất nghiệp ít, nền kinh tế vẫn tăng trưởng… rõ ràng là mâu thuẫn với mục tiêu ưu tiên là kiểm soát lạm phát vốn đã quá cao.

  • Cong Tam

    13:33 (GMT+7) - Thứ Ba, 19/8/2008

    Với câu hỏi: Nhưng nhiều ý kiến cho rằng, sự đổ vỡ của một số doanh nghiệp hiện nay là do sự đánh đổi của chính sách thắt chặt tiền tệ. Bà nghĩ sao về điều này?

    Và câu trả lời: Nhìn sâu hơn, đó hoàn toàn chưa hẳn do sự đánh đổi của chính sách thắt chặt tiền tệ mà là do sự đánh đổi của quan điểm “lãi suất thực dương”, thì:

    Có vẻ như bà Thu Hương chưa thật sự nhìn thấu vần đề. Theo quan điểm riêng của mình, nếu có sự đổ vỡ của doanh nghiệp vì lãi suất cao, thì việc này chẳng quan hệ với quan điểm lãi suất thực dương, mà đó là sự đánh đổi của chính sách tiền tệ thắt chặt.

    Vì thực sự việc tăng lãi suất của các ngân hàng xét cho cùng đó là sự phản ứng trước tình thế, đó là một động thái dễ hiểu với tư duy hướng về bên trong (Ví dụ: để giải quyết rủi ro về tính thanh khoản do hoạt động và quản lý yếu kém từ trước) chứ không phải tư duy hướng về khách hàng để đảm bảo cái lợi ích cho khách hàng với "lãi suất thực dương".

  • Minh Hung

    13:11 (GMT+7) - Thứ Ba, 19/8/2008

    Không thể nói với lãi suất 21% năm thì doanh nghiệp phải có lợi nhuận trên mức đó.

    Thực tế 1 doanh nghiệp chỉ cần 1 phần vốn vay đã có thể duy trì được kinh doanh và tạo ra lợi nhuận. Như vậy thực sự chi phí vốn vay tính trên doanh thu sẽ không trên 7% nếu doanh nghiệp chỉ vay khoảng 30% trên tổng vốn và như vậy lợi nhuận trên 10% là có thể chấp nhận.

    Những doanh nghiệp chỉ hoạt động dựa hoàn toàn vào vốn vay thì mới phải chị chi phí vốn 21%.

    Vấn đề ở đây là các ngân hảng không tin tưởng vào tính hiệu quả của doanh nghiệp đi vay nên không dám cho vay. Mặt khác do bị hạn chế bởi mức tăng trưởng tính dụng 30%. Đây là hai vấn đề chính cần tháo gỡ.

  • Lan Phan

    12:42 (GMT+7) - Thứ Ba, 19/8/2008

    Cá nhân tôi không đồng tình với quan điểm của bà Dương Thu Hương. Khi mà Việt Nam ngày càng tiến gần hơn tới nền kinh tế thị trường, việc phá sản là việc tất yếu dễ xảy ra đối với môt số các doanh nghiệp không thích ứng với sự thay đổi "nhanh".

    Vẫn biết, doanh nghiệp là đối tượng bị thiết hại đầu tiên. nhưng nhìn lại nguyên nhân sâu xa dẫn đến họ phá sản cũng vì khả năng quản lý kém của các doanh nghiệp.

  • Nguyễn Hồng Việt

    12:37 (GMT+7) - Thứ Ba, 19/8/2008

    Tôi không đồng ý với quan điểm của bà Hương vì:

    Mục đích lãi suất thực dương là để ngân hàng thu hút được tiền trong nhân dân, giảm tiền lưu thông để giảm lạm phát.

    Nếu lãi suất âm thì không ai mang tiền đi gửi tiết kiệm mà sẽ mua ngoại tệ, vàng hoặc đầu tư các kênh khác. Giai đoạn vừa rồi, nếu không thu hút được tiền gửi thì chắc không ít ngân hàng sẽ khó vượt qua khó khăn thanh khoản.

    Còn các doanh nghiệp thì quản lý giỏi, thương hiệu tốt vẫn tốt, sao chỉ vì lãi suất cao mà phá sản được?

    Vả lại các chính sách này cũng chỉ áp dụng trong một thời gian ngắn thôi, khi hết lạm phát và giảm khó khăn thì lại trở về như cũ. Doanh nghiệp nào có khả năng chịu đựng tốt thì sẽ cầm cự được.

  • Hoàng Thế Bình

    12:28 (GMT+7) - Thứ Ba, 19/8/2008

    Chúng ta đều biết, sự cạnh tranh tạo ra động lực to lớn để phát triển. Chúng ta cũng biết, các đối tượng gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng đại đa số thuộc tầng lớp có thu nhập vừa và thấp.

    Như vậy, về nguyên lý phát triển của nền kinh tế và về đạo lý xã hội, quan điểm của bà Hương phảng phất một điều gì đó không rõ ràng về sự chia sẻ.

    Có lẽ đó là sự chia sẻ làm giảm bớt động lực phát triển và tầng lớp có thu nhập vừa và thấp đã là đối tượng phải chịu hậu quả nhiều nhất của lạm phát thì lại phải gánh vác thêm sự chia sẻ với ngân hàng và doanh nghiệp.

  • The Game

    12:24 (GMT+7) - Thứ Ba, 19/8/2008

    Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của bà Hương về vấn đề chia sẻ. Đứng ở góc độ là một người gửi tiền tôi nhận thấy rằng nếu trong giai đoạn này, khi chính sách thắt chặt tiền tệ và kiểm soát tín dụng ở mức 30% so với cuối năm 2007 đang phát huy tác dụng thì:

    1. Nếu tôi gửi tiền với mức lãi suất "chia sẻ" (chẳng hạn như: 16%/năm) với Ngân hàng thì có thể sẽ thấp hơn tốc độ tăng giá tiêu dùng 19% trong 7 tháng đầu năm 2008. Tuy nhiên, nếu xét trong tháng 7 trở đi, mức lạm phát #1,13% thì lãi suất huy động 1 tháng lên đến 1.33%/tháng (trả lãi cuối tháng) và cao hơn mức lạm phát.

    2. Dĩ nhiên, tôi có quyền kỳ vọng lạm phát trong thời gian tới sẽ duy trì mở mức dưới 2%/tháng và vẫn còn cao hơn lãi huy động hiện tại. Nếu không theo quan điểm chia sẻ chắc tôi không dám gửi tiết kiệm. Tuy nhiên, đứng trên quan điểm là 1 người cùng Chính phủ chống lạm phát, thì tôi chấp nhận gửi ở mức "chia sẻ" và vì vậy lãi suất huy động bình quân của hệ thống các ngân hàng sẽ ở mức 16%/năm.

    Nếu lãi suất cho vay khoảng 17%/năm đã có lời (theo mức huy động 16%/năm) thay vì 21%/năm (nếu duy trì lãi suất huy động 19%/năm) thì hệ thống các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) cũng sẽ được chia sẻ khi chi phí tài chính giảm, lợi nhuận sẽ cải thiện hơn.

    Đến lượt sản phẩm đầu ra sẽ giảm giá bán (nếu doanh nghiệp cũng chia sẻ với người tiêu dùng). và vì vậy tính chung mặt bằng giá rổ hàng hóa CPI thì sẽ giảm tương ứng. Cuối cùng nếu lạm phát giảm dưới 2%/năm và có thể ngang bằng ở mức tháng 7 thì ngươi gửi tiền trong vài tháng sau sẽ thực dương.

    Tóm lại, người gửi tiền có chấp nhận gửi với lãi suất "chia sẻ" và gửi với kỳ hạn lâu hơn hay không?

    Thứ hai, vào thời điểm trong 5 tháng cuối năm 2008, khi các khoản nợ ngắn hạn đến hạn thanh toán, thì đây chính là nguồn vốn cho vay với lãi suất tương đối thấp hơn lãi suất huy động thị trường. Vì vậy, đây có phải là cơ hội để các ngân hàng cùng giảm lãi suất để đi đến giảm lạm phát và cuối cùng là hạ giá vốn đầu vào cho ngân hàng và doanh nghiệp hay không?

    Cuối cùng, quan điểm "chia sẻ" không có nghĩa là ép buộc chấp nhận với mức lãi suất thấp. Nếu người gửi tiền không chịu gửi tiền với lãi suất như vậy thì có thể tìm đến kênh đầu tư khác hiệu quả hơn, tuy nhiên sẽ gánh chịu những rủi ro tiềm ẩn khi nền kinh tế chưa hồi phục.

    Nếu ngân hàng vì sợ thiếu vốn thanh khỏan mà đua nhau tăng lãi suất, hệ quả mức trần 21%/năm cũng chưa chắc đã hòa vốn, "sợ hãi" trở thành hiện thực là có thể bị sát nhập. Còn nếu SMEs bán hàng hóa với giá cao sợ chi phí vốn đầu vào cao thì sẽ có lợi nhuận trong trước mắt nhưng sẽ là một chi phí cơ hội về sau khi gián tiếp đẩy mức lãi vay từ các tổ chức tín dụng tăng lên.

    Nói chung, quan điểm của tác giả có mang tính 'hành chính", nhưng với suy nghĩ riêng tôi, ý nghĩa tác giả nói là hoàn toàn đúng trong bối cảnh hiện nay, nếu chúng ta có một cách nhìn rộng hơn, chia sẻ hơn, thống nhất hơn.

  • Hai

    11:53 (GMT+7) - Thứ Ba, 19/8/2008

    Tôi không đồng quan điểm với bà Hương.

    - Thứ nhất người dân trong hoàn cảnh lạm phát hiện nay người ta đã mất 30% thu nhập chính đáng gom góp từ bao năm nay.

    - Thứ hai với mức lãi suất thấp như bà nêu ra thì không người nào muốn gửi tiền vào ngân hàng để ngày ngày nhìn đồng tiền của mình teo tóp đi và nếu người ta chia sẻ với doanh nghiệp như bà nói thì lạm phát còn tăng hơn người gửi tiền càng chịu thiệt.

    - Thứ ba những doanh nghiệp yếu kém thì phải có phá sản nếu không muốn nói nên cưỡng bức phá sản, thì mới có một nền kinh tế lành mạnh bền vững.

    - Thứ tư những doanh nghiệp thoi thóp này thường là những doanh nghiệp sinh ra trong thời kỳ kinh tế nóng làm ăn theo kiểu hớt váng.

    Do vậy không thể nào cưỡng lại xu thế của bàn tay vô hình.

  • A Vu

    11:51 (GMT+7) - Thứ Ba, 19/8/2008

    Tôi là người kinh doanh nên tôi chỉ chắc chắn với các bạn một điều là lãi suất càng cao thì chứng tỏ sự mất giá đồng tiền càng mạnh.

    Đã nói là trong lúc lạm phát khó khăn thì nhà nước và nhân dân cùng gánh thì nghĩa là ai cũng phải có trách nhiệm giảm chút quyền lợi để đạt mục tiêu phát triển dài lâu, do vậy không nên theo đuổi mức lãi suất thực dương.

    Mặt bằng lãi suất phải tương đối ổn định để doanh nghiệp chúng tôi yên tâm đầu tư sản xuất kinh doanh, đây là nền tảng để xã hội tiếp tục làm ra của cải vật chất , do vậy để mức lãi suất cao như hiện nay là một "sai lầm" lớn. Chỉ số lạm phát là một chỉ số tổng thể, tiền tệ chỉ là một phần của vấn đề mà thôi.

  • Đặng Xuân Tấn

    11:51 (GMT+7) - Thứ Ba, 19/8/2008

    Đồng ý với bạn Hiến ở điểm hãy có số liệu phân tích. Thói quen chúng ta trước giờ cần thay đổi - đó là nói theo cảm tính. Ai có thói quen nói theo cảm tính thông thường là "nói nhiều làm ít. Nói nghe thì hay nhưng không thực tế".

  • Hiến

    10:06 (GMT+7) - Thứ Ba, 19/8/2008

    Cá nhân tôi không đồng tình với quan điểm của bà Hương. Chính sách "lãi suất thực dương" đưa ra là hoàn toàn đúng đắn, đặc biệt là trong bối cảnh Chính phủ đang ra sức kiềm chế lạm phát, coi mục tiêu kiềm chế lạm phát là hàng đầu.

    Để đạt được mục tiêu, đòi hỏi phải có sự đánh đổi, chúng ta không thể vừa đòi hỏi phải kiềm chế được lạm phát, vừa đòi hỏi phải đảm bảo cho tất cả các doanh nghiệp không bị phá sản.

    Như các chuyên gia kinh tế hàng đầu đã từng nói, phá sản là một vấn đề rất bình thường trong nền kinh tế thị trường, áp lực "phá sản" sẽ giúp cho các doanh nghiệp buộc phải tiết kiệm chi phí, cơ cấu lại sản xuất, thay đổi hướng sản xuất - kinh doanh,...

    Thử đặt câu hỏi, khi theo đuổi chính sách "lãi suất thực dương", có bao nhiêu doanh nghiệp bị phá sản?

    Xin Hiệp hội Ngân hàng hãy làm một thống kê để từ đó làm cơ sở đưa ra kết luận.

    Cá nhân tôi cho rằng, số lượng các doanh nghiệp bị phá sản vì chính sách "lãi suất thực dương" là không đáng kể. Thực ra, có vô vàn lý do khiến cho doanh nghiệp bị phá sản - kể cả khi nền kinh tế vĩ mô đang phát triển mạnh mẽ thì vẫn có doanh nghiệp bị phá sản.

    Do vậy, không thể lấy lý do vì chính sách "lãi suất thực dương" mà doanh nghiệp bị phá sản.

  • Văn Bình

    09:52 (GMT+7) - Thứ Ba, 19/8/2008

    Một vấn đề đặt ra là: các ngân hàng biết doanh nghiệp đang gặp khó khăn nhưng họ vẫn không giảm lãi suất cho vay mà còn siết chặt các khoản vay thông qua các công cụ như : thu phí, tăng tài sản đảm bảo, yêu cầu ký quỹ...

    Theo quan điểm cá nhân tôi thì các ngân hàng đã chưa hiểu đúng và hiểu đủ việc chia sẽ rủi ro với khách hàng? Các ngân hàng vẫn giữ quan điểm thực hiện các giải pháp để bảo vệ mình mà quên đi lợi ích từ phía đối tác (người vay vốn).

    Trở lại với ý kiến lãi suất thực dương, theo tôi con số mà bà Dương Thu Hương nêu ra là hoàn toàn chính xác và câu hỏi đặt ra là: các ngân hàng Việt Nam có chịu đồng thuận ngồi lại với nhau để thống nhất các chuẩn chung nhằm đưa ra các điều kiện có tính hợp lý, chia sẽ khó khăn với các đối tác nuôi sống họ hay không thôi?

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Tài chính

Mai Thiên Bình

18:52 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

Những hợp đồng tín dụng với lãi suất không theo luật ngân hàng thì sẽ xử lý ra sao?...

Trong bài: Sự thật của trần lãi suất cho vay (31 ý kiến)

H

18:25 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

Ai khó khăn đâu không thấy. Tôi chỉ thấy quán nhậu vẫn đông. Ở đó toàn giám đốc, trưởng phòng hoặc nhân viên công ty...

Trong bài: Sự thật của trần lãi suất cho vay (31 ý kiến)

GFGO

18:20 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

Vàng là thứ được đào dưới đất lên sau đó lại đào lổ chôn xuống ! Không có tác dụng gì nhiều. Trang sức ư?...

Trong bài: Vì sao nhà đầu tư thế giới “chán” vàng? (1 ý kiến)

Mai Thiên An

16:33 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

nếu Luật ngân hàng quy định mọi lãi suất không quá 150% lãi suất cơ bản thì hóa ra lâu nay luật ngân hàng chưa...

Trong bài: Sự thật của trần lãi suất cho vay (31 ý kiến)

Lê Anh Quang

15:53 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

Rất hay, nêu rõ ràng sự hạn chế của Thông tư 14....

Trong bài: Sự thật của trần lãi suất cho vay (31 ý kiến)