“Lãi suất cho vay sẽ giảm, nhưng rất chậm!”

THANH HẢI

20/08/2008 09:33 (GMT+7)

picture Theo ông Lê Đắc Sơn, với đầu ra là 21%/năm và đầu vào lớn hơn 21%/năm, nếu cứ tiếp tục huy động và cho vay ra như hiện nay các ngân hàng sẽ bị lỗ.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Ông Lê Đắc Sơn, Tổng giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoài quốc doanh (VPBank) bình luận xung quanh vấn đề lãi suất tại Việt Nam.

Nhiều ngân hàng đã có điều chỉnh lãi suất huy động, phải chăng đây là dấu hiệu lãi suất huy động sẽ giảm mạnh trong thời gian tới?

Trong thời điểm hiện nay, khi tình hình thanh khoản của các ngân hàng tạm ổn, các ngân hàng đang cơ cấu lại nguồn vốn theo đúng quy luật trước đây, khi đó lãi suất các kỳ hạn ngắn hạn sẽ thấp hơn các kỳ hạn dài hạn.

Bên cạnh đó, theo lãi suất cơ bản trong điều hành của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cho vay ra không được vượt quá là 21%/năm. Nhưng với lãi suất huy động bình quân hiện nay là 18%/năm cộng với các khoản chi phí khác thì lãi suất đầu vào ở các ngân hàng đang ở mức lớn hơn 21%/năm.

Với đầu ra là 21%/năm và đầu vào lớn hơn 21%/năm, nếu cứ tiếp tục huy động và cho vay ra như hiện nay các ngân hàng sẽ bị lỗ.

Vì lẽ đó, các ngân hàng vẫn đang loay hoay tìm cách để giảm  lãi suất sao cho đầu vào nhỏ hơn hoặc bằng 21%/năm, khi đó các ngân hàng mới bắt đầu hòa vốn và có thể lãi chút ít thì mới cho vay nhiều hơn. Để làm được điều này, lãi suất huy động sẽ phải giảm xuống mức 15%/năm.

Bên cạnh việc giảm lãi suất huy động, thời gian qua một số ngân hàng lớn đã thực hiện việc giảm lãi suất cho vay. Theo ông, điều này có ảnh hưởng như thế nào đối với các ngân hàng nhỏ?

Vừa qua một số ngân hàng lớn, những ngân hàng quốc doanh đã thông báo giảm lãi suất cho vay xuống còn 19-20%, đó mới chỉ là tín hiệu chứ không thể trở thành phong trào giảm lãi suất cho vay. Giảm lãi suất cho vay của các ngân hàng đó chủ yếu nhắm vào đối tượng khách hàng ưu đãi, đó là những khách hàng có thể mang lại 80% lợi nhuận cho những ngân hàng.

Thông thường, tại mỗi ngân hàng đều có những khách hàng VIP, những khách có thể sử dụng nhiều dịch vụ do ngân hàng cung cấp hay có quan hệ lâu dài và có uy tín với ngân hàng. Giảm lãi suất cho vay chỉ được các ngân hàng thực hiện cho những khách hàng quan trọng, không phải thực hiện đồng loạt.

Tuy nhiên, với lãi suất 21%/năm, mức tín dụng cho những khách hàng cũng sẽ ít hơn nhiều so với trước đây. Đối với các ngân hàng thương mại cổ phần, việc giảm lãi suất cho vay cũng sẽ được thực hiện với những khách hàng quan trọng của ngân hàng.

Tuy nhiên, việc cho vay này sẽ phải dựa trên cơ sở tính toán kỹ lưỡng và đánh giá chính xác về doanh nghiệp, xem đó có phải là khách hàng thực sự gắn bó lâu dài với ngân hàng không, lợi ích thu được từ khách hàng đó với ngân hàng là như thế nào.

Với những khách hàng mới, chỉ quan hệ vay tín dụng với ngân hàng mà không sử dụng dịch vụ, thì lúc này không thể tiếp cận được với ngân hàng ở mức lãi suất vay nhỏ hơn hoặc bằng 21%/năm.

Tại VPBank, tùy từng khách hàng chúng tôi sẽ đưa ra mức lãi suất cụ thể, có khách hàng sẽ vay mức lãi suất 20%/năm, có khách hàng vay mức 20,5%/năm nhưng cũng có khách hàng sẽ được vay ở mức 19%/năm, tùy theo tầm quan trọng và sự sử dụng dịch vụ của khách hàng với VPBank.

Theo tôi, xu hướng giảm lãi suất cho vay này sẽ lan truyền từ ngân hàng này đến ngân hàng khác, vì ngân hàng nào cũng có khách hàng truyền thống và những khách hàng lớn.

Vậy ông có nhận định như thế nào về xu hướng lãi suất cho vay từ nay đến cuối năm 2008?

Các ngân hàng vẫn sẽ thực hiện việc cho vay, nhưng cho vay vẫn sẽ dựa trên cơ sở lựa chọn khách hàng để cho vay. Từ nay cho đến cuối năm 2008, xu hướng lãi suất cho vay sẽ thay đổi theo hướng giảm dần nhưng rất chậm; khó có thể có mức lãi suất cho vay dưới 19%/năm.

Bởi vì, muốn giảm lãi suất cho vay thì lãi suất đầu vào phải giảm, nhưng từ nay đến cuối năm 2008 lãi suất đầu vào không thể giảm mạnh từ 18%/năm xuống 15%/năm được. Để lãi suất cho vay ở mức 19-20%/năm, bình quân lãi suất đầu vào của các ngân hàng phải là 15%/năm.

Giảm từ 18%/năm xuống 15%/năm sẽ là một khoảng cách rất xa, mỗi một lần hạ lãi suất các ngân hàng chỉ giảm tối đa là 0,5% và với chu kỳ giảm có thể là 1 tháng 1 lần.

Vì vậy, để giảm lãi suất đầu vào xuống 15%/năm sẽ phải trải qua 5-7 lần hạ lãi suất. Hành trình này phải đến hết năm 2008 đầu năm 2009 mới thực hiện được.

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Huy Le Tu

    22:21 (GMT+7) - Thứ Tư, 20/8/2008

    Trước hết tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của bạn Phạm Tấn Tài cũng như phát biểu của ông Lê Đắc Sơn, tuy nhiên tôi xin đưa ra một số nhận xét và quan điểm như sau.

    Hiện nay chúng ta đang làm tất cả để có thể kiểm soát tình trạng lạm phát và các chính sách vĩ mô của chính phủ đang phát huy tác dụng, tuy nhiên trong giai đoạn hậu lạm phát thì nền kinh tế vẫn phải tiếp tục phát triển.

    Để làm được điều này thì nền kinh tế mà cụ thể là các doanh nghiệp cần một lượng vốn lớn, nhưng trên thực tế hiện tại và chưa biết sẽ kéo dài đến bao giờ là các doanh nghiệp rất khó để tiếp cận nguồn vốn.

    Vì vậy việc giảm lãi suất vay vốn sẽ là phương tiện hữu hiệu nhất giúp các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn. Tuy nhiên việc cắt giảm lãi suất cần phải có thời gian và lộ trình cụ thể, cần có sự đồng thuận. Sở dĩ phải làm như vậy vì:

    - Trước đây, khi Ngân hàng Nhà nước tăng lãi suất cơ bản, buộc các ngân hàng tăng lãi suất thì người bị thiệt là các doanh nghiệp, nhưng hầu hết các doanh nghiệp đều nhận thức và chia sẽ rằng đó là chính sách điều tiết vĩ mô của Chính phủ. Nếu việc cắt giảm lãi suất mà không có thời gian lộ trình cụ thể thì rất dễ gây mất lòng tin và gây hiểu lầm trong chính sách điều hành vĩ mô đối với những người gửi tiền (mà ở đây chiếm không ít là những người nông dân, công nhân, hưu trí....).

    - Phải có sự đồng thuận giữa các ngân hàng về mặt bằng lãi suất để không gây biến động lớn trên thị trường huy động vốn, tiền vào hệ thống thì it mà dịch chuyển giữa các đơn vị trong hệ thống thì nhiều làm cho chi phí tăng lên mà hiệu quả lại sử dụng lai thấp.

  • Phạm Quốc Đông

    16:00 (GMT+7) - Thứ Tư, 20/8/2008

    Chúng ta phải thừa nhận rằng các nhà kinh doanh ngân hàng là những người rất giỏi trong việc tính toán phần trăm lãi suất đầu vào và đầu ra để đạt được lợi nhuận trong kinh doanh.

    Thực tế cho thấy trong 6 tháng đầu năm 2008 mặc dù các ngân hàng đều gặp phải những khó khăn này nọ, nhưng họ vẫn đạt lợi nhuận rất cao so với các khối doanh nghiệp khác. Đến hết tháng 7 năm 2008 cũng chưa thấy ngân hàng nào công bố kết quả kinh doanh hoà vốn hoặc thua lỗ.

    Nói rằng "với lãi suất huy động bình qân là 18%/ năm cộng với các khoản chi phí khác thì lãi suất đầu vào ở các ngân hàng đang ở mức lớn hơn 21%/năm" là chưa chính xác.

    Bởi: lãi xuất đầu vào của các ngân hàng phải được tính toán trên cơ sở lãi suất bình quân của các nguồn vốn huy động. Mức 18% như nói trên là mức bình quân lãi suất huy động tiết kiệm từ dân cư hiện nay. Các ngân hàng còn có nguồn vốn huy động khác nữa có giá rẻ hơn như tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế, các nguồn vốn từ các nhà tài trợ khác, vay nước ngoài...

    Như vậy vốn bình quân đầu vào của các ngân hàng rõ ràng là có thể thấp hơn 18%/năm.

    Việc định lãi suất cho vay đầu ra là bao nhiêu thì hoàn toàn do các ngân hàng tự quyết định với trần tối đa là 21% theo quy định hiện hành. Trong thời gian qua, có một số ngân hàng quyết định giảm lãi suất cho vay trong khi chưa giảm lãi suất huy động đầu vào, là bởi họ có thực lực về tài chính, có bình quân lãi suất đầu vào thấp hơn nhiều ngân hàng khác, họ nhìn thấy lợi ích dài hạn hơn là ngắn hạn nên đã chủ động hạ lãi suất cho vay để tạo điều kiện cho khối các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn kinh doanh hoạt động có hiệu quả, chia sẻ một phần lợi nhuận của mình cho các doanh nghiệp là điều rấ đúng và đáng hoan nghênh.

    Không có cơ sở để nói đây là chiêu thu hút khách hàng từ các ngân hàng khác để cạnh tranh của họ. Các ngân hàng đều có phân khúc khách hàng riêng của mình rất rõ.

    Khi nói đến giảm lãi suất cho vay là các nhà kinh doanh ngân hàng đề cập ngay đến việc giảm lãi suất huy động đầu vào từ dân cư là điều dễ hiểu. Tuy nhiên nếu chỉ có như vậy thì vẫn chưa đủ. Các ngân hàng cần phải nâng cao chất lượng tài sản "Nợ" và tài sản "Có" của mình, nâng cao khả năng quản tri điều hành, tiết giảm chi phí, cải thiện hiệu quả đầu tư thì mới có thể có giải pháp giảm lãi cho vay đối với các doanh nghiệp trong khi lãi suất đầu vào chưa thể giảm được.

    Từ đó, các ngân hàng mới có thể nuôi dưỡng được nguồn thu của mình từ các doanh nghiệp về dài hạn, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của mình.

    Trong trường hợp có các ngân hàng quá yếu kém chỉ có nguồn huy động duy nhất từ tiết kiệm của dân cư và từ thị trường liên ngân hàng với chi phí cao thì cũng phải xem xét lại định hướng hoạt động kinh doanh của mình, bởi như vậy thì không thể gọi là ngân hàng mà chỉ xứng đáng như là các hợp tác xã tín dụng ngày xưa hay các tổ chức quỹ tín dụng nhân dân ngày nay.

    Và khi họ không thể phát triển lên được thì việc sáp nhập với các ngân hàng khác là điều nên làm.

  • Phạm Tấn Tài

    11:49 (GMT+7) - Thứ Tư, 20/8/2008

    Tôi đồng ý với ý kiến của ông Lê Đắc Sơn.

    Rõ ràng việc các ngân hàng thông tin rầm rộ về việc giảm lãi suất cho vay xuống còn 19%-20% chỉ là chiêu thu hút khách hàng của các ngân hàng khác. Vì trong tình hình lãi suất huy động như hiện nay thì lãi suất đầu ra (cho vay) phải trên 21%/năm (vì phải tính đến một lượng tiền mà ngân hàng huy động vào không thể cho vay: dự trữ bắt buộc, dự trữ tại quỹ.

    Ngoài ra, phải tính đến các phi phí hoạt động: thuê mặt bằng, nhân sự, điện nước, chi phí khác). Do đó, để áp dụng lãi suất cho vay thấp hơn 21%/năm, nghĩa là thấp hơn mức sinh lợi, tức là có thể bị lỗ, thì họ phải tính đến một phương án là có khoản thu để cân đối.

    Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước đã cấm thu các loại phí liên quan đến khoản vay. Như vậy, chỉ có thể thu từ dịch vụ ngân hàng (thu phí bảo lãnh, thu phí mở L/C, tu chỉnh, phí chuyển tiền,...). Mà đâu phải khách hàng nào cũng sử dụng nhiều sản phẩm của ngân hàng để thu phí.

    Điều đó đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ áp dụng lãi suất thấp đối với một nhóm đối tượng khách hàng có chọn lọc. Những khách hàng này có thể được lựa chọn vựa vào một trong các tiêu chí điển hình sau: có quan hệ giao dịch uy tín tại ngân hàng trong thời gian nhất định (12 tháng hoặc hơn), sử dụng thường xuyên nhiều sản phầm, dịch vụ ngân hàng (L/C, bảo lãnh, T/T, chuyển khoản, chiết khấu, ...), chưa từng phát sinh nợ quá hạn tại các tổ chức tín dụng khác,...

    Do đó, việc giảm lãi suất trong ngắn hạn mang tính đại trà cho nhiều khách hàng là điều rất khó thực hiện. Khi mà lãi suất đầu vào đã được khách hàng chốt lại ngay khi mở sổ tiết kiệm có kỳ hạn (thông thường là từ 3-12 tháng) tại các ngân hàng khi thời điểm lãi suất huy động ở mức cực cao (tháng 6-7/2008, có tổ chức huy động trên 20%, ví dụ: Seabank).

    Do đó, các trong thời điểm này, khách hàng sẽ kém thông minh để rút tiền gởi lãi suất cao để mở sổ gởi lại với lãi suất thấp. Điều đó có nghĩa là, trong tương lai gần (3-6 tháng nữa), các ngân hàng sẽ không thể huy động với lãi suất thấp, mà theo ông Sơn là không thể thấp hơn 15%/năm.

    Hơn nữa, các ngân hàng này còn muốn duy trì lãi suất cho vay 21%/năm là nhằm bù đắp khoản lỗ đối với các khách hàng mà ngân hàng đã cho vay ngắn hạn thời điểm tháng 3-5/2007 với lãi suất lúc bấy giời giao động từ 10.8-13.8%/tháng.

    Việc giảm lãi suất cho vay phải được tiến hành đồng loạt và phải có sự liên kết chặt chẻ giữa các ngân hàng. Muốn vậy, các ngân hàng lớn, có tên tuổi phải bắt tay ngay trong việc giảm lãi suất tiền gởi (đầu vào), có như vậy, nó mới tạo ra làn sóng giảm lãi suất cho các ngân hàng quy mô nhỏ làm theo.

    Lãi suất đầu vào là được tính vào chi phí sản của doanh nghiệp. Lãi suất cao làm cho giá thành sản phẩm đội thêm. Nó tiếp tai cho lạm phát. Và hậu quả là người tiêu dùng (những người lao động nghèo, công nhân, viên chức) sống bằng đồng lương ít ỏi càng thêm khó khăn.

    Mong sao, chính phủ cùng các ban ngành liên quan có những động tác tích cực khuyến khích thỏa đáng và có những biểu dương kịp thời đối với những tổ chức tín dụng đi tiên phong trong phong trào giảm lãi suất cho vay và hỗ trợ thành công các doanh nghiệp kinh doanh lành mạnh.

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Tài chính

Mai Thiên Bình

18:52 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

Những hợp đồng tín dụng với lãi suất không theo luật ngân hàng thì sẽ xử lý ra sao?...

Trong bài: Sự thật của trần lãi suất cho vay (31 ý kiến)

H

18:25 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

Ai khó khăn đâu không thấy. Tôi chỉ thấy quán nhậu vẫn đông. Ở đó toàn giám đốc, trưởng phòng hoặc nhân viên công ty...

Trong bài: Sự thật của trần lãi suất cho vay (31 ý kiến)

GFGO

18:20 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

Vàng là thứ được đào dưới đất lên sau đó lại đào lổ chôn xuống ! Không có tác dụng gì nhiều. Trang sức ư?...

Trong bài: Vì sao nhà đầu tư thế giới “chán” vàng? (1 ý kiến)

Mai Thiên An

16:33 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

nếu Luật ngân hàng quy định mọi lãi suất không quá 150% lãi suất cơ bản thì hóa ra lâu nay luật ngân hàng chưa...

Trong bài: Sự thật của trần lãi suất cho vay (31 ý kiến)

Lê Anh Quang

15:53 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

Rất hay, nêu rõ ràng sự hạn chế của Thông tư 14....

Trong bài: Sự thật của trần lãi suất cho vay (31 ý kiến)