Tại sao ngân hàng nước ngoài ít gặp khó khăn thanh khoản?

NGUYỄN QUỐC ĐẠT

21/08/2008 09:15 (GMT+7)

picture Đối với các ngân hàng nước ngoài, phát triển nguồn vốn, chứ không phải tín dụng, mới là chính sách được ưu tiên hàng đầu của họ - Ảnh: Việt Tuấn.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Từ đầu năm 2008, khi những dấu hiệu khó khăn của nền kinh tế bắt đầu xuất hiện như lạm phát tăng cao, thị trường chứng khoán và bất động sản đi xuống, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần của Việt Nam rơi vào khó khăn về mặt thanh khoản.

Nếu không có sự hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước thì các ngân hàng này còn có thể rơi vào tình trạng xấu hơn. Điều đáng nói là tình trạng này chủ yếu xảy ra đối với các ngân hàng trong nước, đặc biệt là ngân hàng thương mại cổ phần mới thành lập, trong khi các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam hầu như không bị tác động bởi sự khó khăn này.

Trước hết, theo người viết, hệ thống ngân hàng, chủ yếu là ngân hàng thương mại cổ phần, đã đầu tư quá nhiều vào chứng khoán và bất động sản - hai lĩnh vực được coi là nhạy cảm nhất trước các biến động của nền kinh tế. Tính thanh khoản trên hai thị trường này đã giảm đáng kể từ đầu năm 2008, vì vậy ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của các khách hàng.

Thứ hai, việc thắt chặt chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá từ đầu năm cũng làm giảm đáng kể lượng cung tiền trong nền kinh tế, trong khi nhu cầu về vốn cho các dự án, phương án sản xuất kinh doanh đã được duyệt từ trước, vẫn đang rất lớn.

Thứ ba, việc có nhiều ngân hàng ra đời trong thời gian gần đây làm cho nhu cầu về vốn tăng cao, trong lúc trình độ và kinh nghiệm kinh doanh ngân hàng còn yếu, cộng với nguồn vốn huy động từ dân cư và các tổ chức ít, đành phải vay mượn từ thị trường liên ngân hàng (inter-bank). Lãi suất trên thị trường này có lúc lên trên 40%/năm là dẫn chứng cho tình trạng này.

Nguyên nhân thứ tư là từ đầu năm 2008 đến nay, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần đã được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận về mặt nguyên tắc, phải đặt một lượng tiền bằng vốn điều lệ vào Ngân hàng Nhà nước nhưng cho đến nay mới chỉ có hai ngân hàng được cấp phép thành lập và đi vào hoạt động. Điều này có nghĩa là một lượng tiền lớn đã được rút ra khỏi nền kinh tế.

Một lý do khác là việc điều chuyển khoảng 52.000 tỷ đồng của ngân sách nhà nước tại các ngân hàng thương mại quốc doanh về Ngân hàng Nhà nước cũng góp phần làm cho tình hình thêm khó khăn.

Tất cả các nguyên nhân nói trên đều dẫn đến tình trạng căng thẳng về mặt thanh khoản của các ngân hàng thương mại trong thời gian qua. Hậu quả của tình trạng này có thể rất lâu dài, khi mà các doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, chi phí vốn vay cao, khả năng trả nợ của doanh nghiệp yếu đi, nợ xấu gia tăng.

Trong hoàn cảnh các ngân hàng thương mại cổ phần phải “chạy ăn từng bữa” như vậy thì các chi nhánh ngân hàng nước ngoài vẫn khá "ung dung", và thậm chí còn có vốn để cho vay trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao.

Sự khác biệt đầu tiên, theo người viết, nằm ở chính sách khách hàng của các ngân hàng Việt Nam và ngân hàng nước ngoài.

Để có thanh khoản tốt và nguồn vốn bền vững thì các ngân hàng trước hết phải dựa vào nguồn vốn huy động từ dân cư và các tổ chức kinh tế, đặc biệt là các khách hàng có dòng lưu chuyển tiền (cash flow) lớn như xăng dầu, điện, thương mại, … thay vì dựa vào nguồn vốn thị trường liên ngân hàng. Vì vậy, chính sách khách hàng phải hướng về phát triển nguồn vốn.

Từ trước tới nay, đối với các ngân hàng trong nước, chính sách ưu đãi thường dành cho các khách hàng có dư nợ tín dụng cao và vay trả thường xuyên. Xét cho cùng, chiến lược này không sai, vì đối với một nền kinh tế đang phát triển nhanh, nhu cầu về vốn lớn như nước ta thì tín dụng luôn là mảnh đất màu mỡ để các ngân hàng “quảng canh, thâm canh”. Nhưng khi say sưa mở rộng đối tượng cho vay, đơn giản hoá các thủ tục cho vay, các ngân hàng trong nước đôi lúc quên mất rằng rủi ro tín dụng (credit risk) và rủi ro thị trường (market risk) là rất lớn, và luôn tiềm ẩn sau các hồ sơ vay vốn đẹp đẽ.

Cuộc khủng hoảng tín dụng nhà đất (subprime crisis) ở Mỹ, bong bóng bất động sản và chứng khoán ở nước ta từ đầu năm đến nay là những ví dụ tiêu biểu cho các rủi ro này.

Ngược lại, đối với các ngân hàng nước ngoài, phát triển nguồn vốn, chứ không phải tín dụng, mới là chính sách được ưu tiên hàng đầu của họ.

Các ngân hàng nước ngoài luôn huy động được một lượng vốn nhàn rỗi rất lớn với chi phí thấp từ khách hàng của họ. Điều này giúp họ có khả năng đáp ứng tốt nhu cầu giải ngân cho chính khách hàng của họ. Ngoài ra, điều này cũng giúp họ có vốn để cung cấp cho thị trường liên ngân hàng với lãi suất rất cao như thời gian qua.

Chính sách này có thể không mang lại lợi nhuận lớn như các ngân hàng thương mại cổ phần, nhưng nó luôn bảo đảm sự phát triển ổn định và thoả mãn được nhu cầu vay vốn của khách hàng.

Để có nguồn vốn lớn và ổn định, các ngân hàng nước ngoài đã xây dựng cho mình một chính sách phát triển hợp lý trên cơ sở cân đối giữa dư nợ và nguồn vốn theo những tiêu chuẩn quốc tế. Bên cạnh đó, họ xây dựng một đội ngũ nhân viên giỏi về hoạt động maketing và thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Những nhân viên này luôn chủ động liên hệ với khách hàng để biết được kế hoạch kinh doanh sắp tới của khách hàng như kế hoạch vay vốn, trả nợ, thanh toán tiền hàng, mua bán ngoại tệ.

Điều này đã giúp ngân hàng chủ động về mặt nguồn vốn trước khi giao dịch xảy ra, tránh được tình trạng “nước đến chân mới nhảy”. Các nhân viên này cũng được tiếp cận nhiều nguồn thông tin, giúp họ có khả năng dự báo được xu hướng thị trường.

Một yếu tố nữa giúp các ngân hàng nước ngoài giảm được rủi ro thanh khoản là nợ quá hạn, nợ xấu của họ thường rất thấp so với các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, các khoản nợ thường được thanh toán đúng hạn. Có được điều đó là do các khoản vay của họ thường được lựa chọn kỹ càng, được quyết định trên cơ sở các tiêu chí của thị trường, và ít khi bị chi phối bởi các ý muốn chủ quan của cán bộ tín dụng.

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Trần Minh

    08:45 (GMT+7) - Thứ Ba, 26/8/2008

    Tôi khá đồng ý với Tâm Dân ở câu "vai trò tuyệt vời của Ngân hàng Trung ương". Chúng ta hãy nhìn lại:

    - Khi các ngân hàng tăng cường "chạy đua" lãi suất, Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu đặt ra lãi suất trần để ngăn chặn, các ngân hàng lập tức trao quà cho các khách hàng dưới dạng tiền và vàng. Ngân hàng Nhà nước yêu cầu không tặng quà là tiền và vàng thì các ngân hàng xoay ra tặng thẻ mua sắm...

    - Một thời gian sau, Ngân hàng Nhà nước gỡ bỏ trần lãi suất huy động mà thay vào đó trần tín dụng, các ngân hàng chỉ được cho vay không vượt quá 18% thì các ngân hàng sinh ra phí, phí thật cao để gỡ lại chút ít. Ngân hàng Nhà nước lại ban hành quyết định cấm thu phí. Các ngân hàng thương mại nhanh chóng đưa vào cái gọi là "ký quỹ khoản vay"...

    Vòng luẩn quẩn này là do đâu?

  • Tâm Dân

    15:14 (GMT+7) - Thứ Năm, 21/8/2008

    Nhiều ý kiến cho rằng, tại sao các ngân hàng nước ngoài cũng gặp khủng hoảng nghiêm trọng, nhưng cách giải quyết của họ thật sự êm thấm. Thậm chí đôi khi chúng ta thấy sự việc được giải quyết êm dịu, không gây xáo động lớn, cụ thể như các trường hợp sát nhập những ngân hàng nhỏ, thua lỗ, bị mất thanh khoản trong thời gian gần đây tại Mỹ, hoặc là cách thức xử lý hai đại gia cho vay thế chấp bất động sản : Fannie Mae và Fredie Mac.

    Có một số nguyên nhân :

    - Trình độ quản trị ngân hàng rất cao: Đẳng cấp này thể hiện rõ qua vai trò tuyệt vời của Ngân hàng Trung ương, với khả năng chèo lái và kiểm soát tình hình chặt chẽ, cộng với một thực lực tài chính mạnh.

    - Cơ chế pháp luật hoàn thiện và minh bạch : Chúng ta dễ dàng nhận thấy các ngân hàng nước ngoài công bố kết quả tài chính lỗ lãi một cách rất tự nhiên, bởi nó đã thành thông lệ bình thường, không cần thiết phải dấu diếm. Công khai minh bạch là một trong những cách tôn trọng cổ đông và tranh thủ sự ủng hộ của cổ đông về sau này.

  • Thanh Tuyền

    10:51 (GMT+7) - Thứ Năm, 21/8/2008

    Tôi không đồng nhất với quan điểm của người viết, sự khác biệt về tính thanh khoản của ngân hàng nội và ngoại là về nguồn lực tài chính. Họ là những tập đoàn lớn, tiềm lực tài chính của họ rất mạnh, nên việc thanh khoản của họ tốt.

    Tất cả các ngân hàng hoạt động đều dựa trên nguyên tắc, huy động vốn từ những nguồn nhàn rỗi trong dân cư và phát triển tín dụng để kiếm lợi nhuận vì vậy ngân hàng nội cũng không ngoại lệ trong guồng hoạt động này. Nếu nói ngân hàng nội lo phát triên tín dụng thì không chính xác!

    Để kiềm chế lạm phát nên Ngân hàng Nhà nước mới bắt buộc tăng tỷ lệ dữ trữ của các ngân hàng thương mại và đó cũng là một nguyên nhân dẫn đến việc thanh khoản kém, tất cả vì mục tiêu chống lạm phát của quốc gia.

    Nếu theo quan điểm của người viết thì phải đặt vấn đề ngược về năm 2007, đây là năm hưng thịnh nhất của ngành ngân hàng, tăng trưởng tin dụng rất cao và mang về những khoản lợi nhuận kết xù. Tất cả đều do sự thuận lợi của nền kinh tế chứ không hẳn như quan điểm của người viết đã nêu.

    Về trình độ chuyên môn, tính chuyên nghiệp cũng là một phần quyết định cho sự phát triển của ngân hàng, giả chăng có khác là ở điều này mà thôi.

  • Lâm Nguyệt Oanh

    10:13 (GMT+7) - Thứ Năm, 21/8/2008

    Khó khăn về thanh khoản của ngân hàng xuất phát từ các nguyên nhân sau:

    - Sự chênh lệch kỳ hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn.

    - Chất lượng tài sản có giảm sút, tính thanh khoản kém.

    - Khả năng quản trị của ngân hàng kém: không lập được kế hoạch lưu chuyển tiền tệ trong ngắn hạn cũng như xây dựng chiến lược dài hạn; hoặc kế hoạch không sát thực tế.

    Giải quyết được 3 nguyên nhân trên thì tính thanh khoản của ngân hàng sẽ được bảo đảm.

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Tài chính

Mai Thiên Bình

18:52 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

Những hợp đồng tín dụng với lãi suất không theo luật ngân hàng thì sẽ xử lý ra sao?...

Trong bài: Sự thật của trần lãi suất cho vay (31 ý kiến)

H

18:25 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

Ai khó khăn đâu không thấy. Tôi chỉ thấy quán nhậu vẫn đông. Ở đó toàn giám đốc, trưởng phòng hoặc nhân viên công ty...

Trong bài: Sự thật của trần lãi suất cho vay (31 ý kiến)

GFGO

18:20 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

Vàng là thứ được đào dưới đất lên sau đó lại đào lổ chôn xuống ! Không có tác dụng gì nhiều. Trang sức ư?...

Trong bài: Vì sao nhà đầu tư thế giới “chán” vàng? (1 ý kiến)

Mai Thiên An

16:33 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

nếu Luật ngân hàng quy định mọi lãi suất không quá 150% lãi suất cơ bản thì hóa ra lâu nay luật ngân hàng chưa...

Trong bài: Sự thật của trần lãi suất cho vay (31 ý kiến)

Lê Anh Quang

15:53 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

Rất hay, nêu rõ ràng sự hạn chế của Thông tư 14....

Trong bài: Sự thật của trần lãi suất cho vay (31 ý kiến)