VnEconomy > Thế giới 15:07 (GMT+7) - Thứ Tư, 1/10/2008

Điểm khác biệt của khủng hoảng tài chính Mỹ

Điều gì đã góp phần tạo nên sự khác biệt ở cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ, ngoại trừ quy mô kinh tế của đất nước này?...

Điểm khác biệt của khủng hoảng tài chính Mỹ

Bộ mặt của thị trường chứng khoán Mỹ đã sáng sủa hơn trong phiên giao dịch ngày 30/9 (theo giờ địa phương), do một số thông tin lạc quan liên quan đến kế hoạch “giải cứu” Phố Wall.

Điều gì đã góp phần tạo nên sự khác biệt ở cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ, ngoại trừ quy mô kinh tế của đất nước này?

Nhìn lại các cuộc giải cứu thị trường tiêu biểu

Xét về quy mô vốn để giải cứu thị trường, có ba cuộc khủng hoảng - không kể khủng hoảng tài chính hiện tại ở Mỹ - được xem là tốn kém nhất thời kỳ hậu Thế chiến thứ hai.

Đó là cuộc khủng hoảng nợ ở các nước Mỹ Latin và châu Phi năm 1982, cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Mexico năm 1994 và khủng hoảng tài chính gần đây nhất ở Đông Á năm 1997.

Năm 1989, sau nhiều năm gia hạn nợ không thành, theo kế hoạch do Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ Nicholas Brady đề xuất, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và Nhật Bản mỗi bên đã đóng góp 10 tỷ USD để xóa nợ cho những nước nghèo ở Mỹ Latin và châu Phi.

Năm 1994, nhằm giúp Mexico (thực ra là một thị trường lớn của Mỹ) ổn định tiền tệ và kinh tế, Mỹ móc hầu bao 20 tỷ USD và IMF cho vay 18 tỷ USD đối với Mehico. Tổng số tiền này chỉ khoảng một phần ba số tiền 112 tỷ USD mà IMF đã cho ba nước Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan vay năm 1997.

Tuy nhiên, kế hoạch giải cứu thị trường tài chính được đệ trình Quốc hội Mỹ còn lên đến 700 tỷ USD, mặc dù đã không đạt được đủ số phiếu thuận ở Hạ viện Mỹ vào phút cuối.  

Điều gì đã góp phần tạo nên sự khác biệt ở cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ, ngoại trừ quy mô kinh tế của đất nước này?

Sau cuộc tấn công khủng bố năm 2001, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã cắt giảm lãi suất một nửa, chỉ còn 1,75% nhằm thúc đẩy tăng trưởng, mức lãi suất danh nghĩa này đã tạo ra lãi suất thực âm. Thêm vào đó, trong những năm cuối cùng của nhiệm kỳ, chính quyền Bill Clinton đã ban hành một đạo luật tái phát triển cộng đồng tập trung vào mục tiêu xã hội là giải quyết nhà ở cho người có thu nhập thấp.  

Hai yếu tố này đã thúc đẩy dân chúng vay tiền ngân hàng mua nhà. Mặt khác, các ngân hàng cũng sẵn lòng cho vay, cả với những khách hàng có hạng mức tín nhiệm dưới chuẩn, vì ỷ lại sự bảo đảm ngấm ngầm từ Chính phủ mà hiện thân là hai công ty Fannie Mae và Freddie Mac.  

Sự gia tăng tín dụng mua nhà trong suốt gần ba năm từ 2002 đến 2005 đã đẩy giá nhà ở lên cao tạo nên bong bóng giá bất động sản và quả bong bóng này bắt đầu xì hơi khi FED tăng lãi suất lên 5,25% vào cuối năm 2006.
 
Tuy nhiên, đây vẫn chưa phải là một yếu tố đặc thù của khủng hoảng tài chính Mỹ. Nhớ lại khủng hoảng tài chính ở Đông Á năm 1997, tín dụng ngân hàng vẫn bùng nổ, dòng vốn ngoại ồ ạt đổ vào tài trợ cho những nền kinh tế tăng trưởng thần kỳ dựa vào xuất khẩu. Bong bóng bất động sản phình to và cũng xì hơi khi các khoản vay ngân hàng đáo hạn cùng với mức cung vượt quá xa mức cầu.

Có thể nói, yếu tố làm nên sự khác biệt (và góp phần tạo nên sự trầm trọng) của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ là do các phát kiến tài chính. Cụ thể là các công cụ tài chính phái sinh dựa trên tài sản thế chấp. Các công cụ này chưa từng được (phép) sử dụng ở các quốc gia Đông Á hơn một thập kỷ trước.

Gốc rễ khủng hoảng

Trở lại với hai công ty Fannie Mae và Freddie Mac. Hai công ty này được chính phủ bảo trợ để mua các khoản cho vay có thế chấp, phần lớn là từ các ngân hàng thương mại, sau đó bán lại trên thị trường. Những ngân hàng dùng tiền thu được tiếp tục cho vay. Fannie Mae và Freddie Mac nắm giữ đến 70% các khoản đảm bảo cho vay mua nhà ở Mỹ.  

Việc mua bán các khoản nợ này, trong đó có nhiều khoản nợ dưới chuẩn mà các ngân hàng muốn bán đi để làm đẹp bảng cân đối tài sản, được bôi trơn và đánh bóng bởi những ngân hàng đầu tư lớn ở Phố Wall thông qua phát kiến tài chính của chính họ: chứng khoán hóa các tài sản thế chấp.

Những ngân hàng đầu tư gộp các loại tài sản khác nhau với chất lượng khác nhau và phát hành chứng khoán dựa trên sự đảm bảo bằng các tài sản đó và, dường như, làm như vậy sẽ giảm đi rủi ro tiềm tàng so với việc phát hành chứng khoán chỉ dựa vào từng loại tài sản riêng lẻ.  

Các loại chứng khoán từ tài sản tổng hợp được các ngân hàng đầu tư phát hành cho công chúng, các ngân hàng ở Mỹ và các định chế tài chính trên toàn cầu, trong đó có nhiều định chế không được giám sát chặt chẽ như ngân hàng. Điều này vô hình chung đưa rủi ro dịch chuyển từ ngân hàng sang các tổ chức khác.

Chính các công cụ này là một vòi bơm hơi vào quả bóng giá tài sản khi nó được quay vòng: cho vay thế chấp - chứng khoán hóa các khoản cho vay - dùng tiền thu được tiếp tục cho vay.  

Khi lãi suất gia tăng, quả bóng xì hơi vì thị trường nhà ở tuột dốc, kéo theo sự tuột dốc của giá các loại chứng khoán. Giá trị thị trường của những ngân hàng đầu tư rớt thảm mà phát súng mở màn ở Mỹ là sự đổ vỡ của của ngân hàng đầu tư Bear Stearns.
 
Tiếp đó là sự đổ vỡ hàng loạt các công ty cho vay kinh doanh bất động sản, ngân hàng đầu tư, ngân hàng thương mại, ngân hàng tiết kiệm, công ty bảo hiểm... như Fannie Mae và Freddie Mac, Lehman Brothers, AIG...

Bên ngoài nước Mỹ, ảnh hưởng rõ ràng và sớm nhất của cuộc khủng hoảng là ngân hàng Northern Rock ở Anh vào tháng 9 năm ngoái. Có một điều thú vị là, cho đến thời điểm đó, Northern Rock không hề gặp khó khăn liên quan đến các danh mục cho vay thế chấp mà là tình trạng thiếu thanh khoản do ngân hàng này chủ yếu dựa vào thị trường liên ngân hàng để huy động vốn.  

Tính chất phức tạp của quá trình chứng khoán hóa đã tạo ra một đặc tính chưa có tiền lệ trong cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ và làm cho việc đánh giá các khoản nợ dưới chuẩn cùng quy mô bất ổn trở thành một thách thức khôn lường.

Hiệu ứng domino đã phát tán, ảnh hưởng đến ngân hàng Bradford & Bingley ở Anh và Fortis ở châu Âu. Nhằm kìm hãm cơn sóng ngầm, sự hiệp lực, cả về kế hoạch tài chính lẫn chính sách tiền tệ, của hai bờ Đại Tây Dương là một việc cấp bách.  

Tuy nhiên, đó lại là một chuyện tương đối xa vời, vì mấy hôm trước, người Mỹ đã lên tiếng nhưng Tây Âu muốn giải quyết vấn đề theo cách của họ. Hơn thế nữa, khó có thể kêu gọi sự đồng thuận từ bên ngoài khi mà chia rẽ còn nằm ngay trong lòng nước Mỹ, mà minh chứng rõ nét là sự thất bại ngay khi còn trên bàn giấy của kế hoạch giải cứu thị trường.
  Bình luận (10)
Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết. Đang hiển thị 10/10 bình luận.
  • Thực chất cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính của Mỹ là một hệ quả tất yếu phải xảy ra, với những nhận định bài báo đưa ra là xác đáng và có căn cứ.

    Tuy nhiên cần nói thêm rằng việc đưa ra gói giải pháp 700 tỷ USD chỉ là đưa thuốc bổ cho người đang mắc bệnh không hấp thụ được.

    Cứ để cho thị trường làm cái việc mà lẽ ra nó phải nên làm. Đừng quá can thiệp vào những quy luật của nó. Và thị trường chứng khoán Việt Nam cũng thế!

    15:21 (GMT+7) - Thứ Hai, 6/10/2008 Trả lời Thích
  • Một vấn đề quan trọng khác cần phải đề cập đến là tiêu chuẩn kế toán Mỹ.

    Luật kế toán Fair Value (tức là giá trị tài sản phải được hạch toán, điều chỉnh định kỳ theo giá của thị trường từng thời điểm) đã buộc các định chế tài chính Mỹ phải tuyên bố phá sản một cách rất rõ ràng, minh bạch.

    Nếu áp dụng theo tiêu chuẩn này với hệ thống ngân hàng của chúng ta thì sẽ có rất nhiều ngân hàng phải tuyên bố phá sản. Nhưng ở ta khái niệm phá sản nghe rất nặng nề, rất ghê gớm và chắc còn cần nhiều thời gian dể dư luận làm quen với khái niệm phá sản ngân hàng.

    Thực tế nền kinh tế nước ta đang tồn tại nhiều doanh nghiệp đã "chết" nhưng chưa "chôn" được. Nếu doanh nghiệp có bệnh thì căn bệnh sẽ dai dẳng, kéo dài chứ phá sản là khó lắm.

    Hy vọng các nhà chuyên môn sẽ phân tích, mổ xẻ nhiều hơn, sâu hơn về cuộc khủng hoảng này để chúng ta có được cái nhìn và hiểu thấu đáo bản chất vấn đề của cuộ khủng hoảng tài chính Mỹ. Từ đó suy nghĩ và rút ra những điều cần thiết cho chúng ta.

    22:53 (GMT+7) - Thứ Sáu, 3/10/2008 Trả lời Thích
  • Cảm ơn tác giả đã có một bài viết khá xúc tích nhưng đầy đủ.
    Cũng xin đóng góp thêm một số giải thích để bạn đọc rõ hơn nguyên nhân tại sao Fannie Mae và Freddie Mac, cũng như một số ngân hàng cho vay dưới chuẩn khác.

    Đó là khi các ngân hàng bán một các khoản cho vay bất động sản thông qua các công cụ tài chính như commercial paper, các khoản vay sẽ chia thành những tranche (dịch nôm na là nhóm) khác nhau dựa trên độ rủi ro của các khoản vay, các tranche này sau đó được các công ty đánh giá chất lượng tín dụng (rating agencies nhu S&P, Moody's) xếp hạng thành AAA, AA, A, BBB...

    Tất nhiên giá của những commercial paper này sẽ dựa vào mức độ rủi ro của những khoản vay nằm bên dưới (high risk - high return).

    Thông thường các ngân hàng phải giữ lại tranche được xếp hạng thấp nhất để bán đi những tranche có thứ hạng cao hơn, như là một khoản đảm bảo rằng ngân hàng đã thực hiện những tác nghiệp cần thiết (due diligence) khi cho vay. Nễu ngân hàng không phải gánh bất cứ một rủi ro nào sau khi bán các khoản vay đó đi, thi dĩ nhiên họ sẽ không cần phải rất cẩn thận khi cho vay.

    Đồng thời, cũng như tác giả Hoài Linh đã đề cập, khi các nhà đầu tư mất lòng tin và quay lưng với các loại chứng khoán, commercial paper này, thị trường không đủ lớn cho các ngân hàng, và các công ty như Fannie Mae, Freddie Mac sử dụng những công cụ tại chính tương tự, thì họ phải nắm giữ toàn bộ những khoản vay đó.

    Và theo quy định về hoạt động ngân hàng Basel I, Basel II, các ngân hàng phải bỏ 8% vốn tự có cho các khoản vay đó, nghĩa là nếu họ cho vay 10tỷ USD, họ phải có ít nhất 800 triệu USD vốn (equity capital). Điều đó dẫn đến biệc bất thình lình, hầu như tất cả các ngân hàng cần được bơm vốn để có thể duy trì các khoản vay đó.

    Và khi không có đủ nguồn vốn, không những họ có nguy cơ vi phạm các quy định về hoạt động ngân hàng về nguyên tắc đảm bảo vốn, họ bị các cơ quan đánh giá chất lượng tín dụng hạ thấp chỉ số tín dụng, điều này lại làm tăng chi phí các khoản vay của họ và qua đó dẫn đến sự thua lỗ trong hoạt động cho vay.

    Tất nhiên nguyên nhân của cuộc khủng hoảng này còn nằm ở khả năng quản lý rủi ro của các ngân hàng không theo kịp sự phức tạp của những "phát minh" về securitization, về các nghiệp vụ hoán đổi rủi ro như credit default swap...

    Hy vọng những ý kiến trên đóng góp được phần nào cho việc giải thích nguyên nhân gây ra khủng hoảng như hiện nay.

    Trân trọng!

    04:27 (GMT+7) - Thứ Sáu, 3/10/2008 Trả lời Thích
  • Cảm ơn tác giả. Bài viết rất hay, dễ hiểu. Trước đây có một bài viết liên quan rất hay là "Khủng hoảng nợ dưới chuẩn tại Mỹ: Từ A đến Z" trên VnEconomy của tác giả Mạc San. Mọi người đọc xong thì sẽ hiểu hơn vấn đề tác giả đang đề cập.

    16:37 (GMT+7) - Thứ Năm, 2/10/2008 Trả lời Thích
  • Xin chân thành cảm ơn ý kiến của bạn Momit và các bạn về bài viết của mình. Xin có một số ý thảo luận thêm như sau.

    Fannie Mae và Freddie Mac lâm nạn do hai nguyên nhân chính:

    Thứ nhất, bản thân hai công ty này không bán tất tần tật các khoản nợ đã mua mà giữ lại một số dưới dạng tài sản.

    Thứ hai, công ty trả lãi cho các chứng khoán với mức hấp dẫn (để dễ quay vòng vốn và tiếp tục cho vay vì mục đích xã hội như đã nói), cao hơn cả mức lãi suất của trái phiếu kho bạc Mỹ trong khi rủi ro là gần như nhau vì Fannie Mae và Freddie Mac cũng được chính phủ bảo đảm, dù ngấm ngầm (công ty lỗ 3 tỷ USD trong ba tháng từ tháng 4 đến tháng 6).

    Khi thị trường bất động sản xuống dốc, dân chúng bán tháo chứng khoán, hai công ty bị mất đầu ra cho các chứng khoán sắp phát hành. Đồng thời, tài sản của hai công ty bị giảm sút, xét theo giá trị thị trường của chứng khoán được công ty nắm giữ, dẫn đến nợ của công ty nhiều hơn tài sản, và hậu quả là mất khả năng chi trả, trong khi công ty không có khả năng huy động vốn tiếp tục.

    Do đó, Chính phủ Mỹ phải bơm vốn bằng cách mua cổ phần ưu đãi để cứu Fannie Mae và Freddie Mac.

    Có sự khác nhau giữa ngân hàng thương mại và đầu tư. Nghiệp vụ ngân hàng thương mại truyền thống là nhận tiền gửi và cho vay. Trong khi đó, ngân hàng đầu tư chuyên về tư vấn sáp nhập, bảo lãnh phát hành và kinh doang chứng khoán (đây là nghiệp vụ của các công ty chứng khoán ở Việt Nam, vì ở nước ta ngân hàng thương mại không được phép cung cấp nghiệp vụ ngân hàng đầu tư như ở Mỹ).

    Chính các ngân hàng đầu tư là người bảo lãnh phát hành hoặc mua chứng khoán của hai công ty này. Thực tế còn có một tổ chức nữa nối đuôi trong quá trình chứng khoán hóa là các công ty bảo hiểm, với dịch vụ bảo hiểm rủi ro tài sản, mà cụ thể là chứng khoán. Sự tham gia của các tổ chức nêu trên làm cho quá trình chứng khoán hóa trở nên trơn tru và dễ tin cậy.

    Trung Quốc và Nhật Bản là hai quốc gia Châu Á nắm giữ chứng khoán của Fannie Mae và Freddie Mac nhiều nhất. Ở Châu Âu có Luxembourg, Bỉ và Anh, điều này phần nào giải thích sự lâm nguy sớm của Fortis – một ngân hàng gốc Bỉ.

    Chân thành cảm ơn!

    13:38 (GMT+7) - Thứ Năm, 2/10/2008 Trả lời Thích
  • Theo tôi nghĩ, các bạn nên đọc cuốn "Chiến tranh tiền tệ" của tác giả Song Hong Bin thì các bạn sẽ hiểu rõ hơn gốc rễ của khủng hoàng và ai là người được lợi từ những cuộc khủng hoảng.

    13:37 (GMT+7) - Thứ Năm, 2/10/2008 Trả lời Thích
  • 1. Theo tôi thì không thấy có sự không rõ ràng ở đây , bởi các ngân hàng thuơng mại sau khi bán các khoản cho vay bằng tài sản thế chấp cho Fannie Mae và Freddie Mac và tiếp tục dùng tiền thu đuợc cho vay tiếp trên thị truờng . Điều này chứng tỏ nó vẫn nắm giữ 1 phần không nhỏ trong các khoản cho vay thế chấp .

    2. Fannie Mae và Freddie Mac Tuy có bán lại những khoản vay đó trên thị truờng nhưng vẫn nắm giữ phần lớn các khoản vay đó, bởi theo tôi thấy tác giả có ghi rằng : "Fannie Mae và Freddie Mac nắm giữ đến 70% các khoản đảm bảo cho vay mua nhà ở Mỹ." Bởi vậy nên khi cuộc khủng hoảng này bùng nổ, hai công ty này đuơng nhiên là đối tuợng bị ảnh huởng lớn .

    3. Các ngân hàng tiếp tục bán ra các khoản vay đó thông qua việc chứng khoán hoá các khoản nợ cho vay bất động sản.

    Bởi vậy có thể thấy rằng tuy các khoản nợ trên đã đuợc xào xáo trung chuyển bằng nhiều cách và đuợc giao dịch trong ttck nhưng khi cuộc khủng hoảng bùng nổ thì các đối tuợng phát hành vẫn là đối tuợng bị ảnh huởng lớn nhất. Bởi đó là các ngân hàng, các tổ chức tài chính đang tham gia vào thị truờng chứng khoán. Vì khi thị truờng xuống dốc đồng nghĩa với việc là các nhà đầu tư mất lòng tin vào thị truờng, bán tháo cp của các tổ chức này khiến nó xuống giá trầm trọng , làm ảnh huởng rất xấu tới tài sản của các tổ chức này trên thị truờng chứng khoán.

    Thêm nữa khi thị truờng tài chính xuống dốc có nghĩa rằng mức tín nhiệm vào các tổ chức tài chính đó xuống theo , bởi vậy mới có hiện tuợng các ngân hàng mất đi tính thanh khoản và tự phá sản nếu không có sự trợ giúp từ chính phủ.

    Thị truờng nhà đất là nguyên nhân chính, và cũng là tài sản thế chấp chính mà các tổ chức tài chính nắm giữ, và điều gì sẽ xảy ra thì chắc cũng không phải nói thêm, chưa kể đây là một đợt khủng hoảng lớn nên việc các tổ chức tài chính bị sụp đổ theo hiệu ứng domino là hoàn toàn không thể tránh khỏi .

    Đó là ý kiến của riêng mình, bởi theo mình đọc thì có thể thấy được tác giả cũng giải thích rất rõ ràng đưa ra nguyên nhân và kết quả, và không thấy có gì khó hiểu ở đây :)

    13:17 (GMT+7) - Thứ Năm, 2/10/2008 Trả lời Thích
  • Đọc bài viết trên tác giả đã đưa ra một số nguyên nhân khá rõ ràng. Tuy nhiên là một người không chuyên sâu về kinh tế tôi không rõ một số điểm, tác giả có thể giải thích rõ hơn để độc giả như tôi hiểu hơn:

    1. Các ngân hàng thương mại thực hiện cho vay thế chấp bằng nhà đất, sau đó bán lại phần lớn cho hai công ty Fannie Mae và Freddie Mac (được Chính phủ Mỹ bảo trợ). Như vậy việc bán này là bán đứt và rủi ro tín dụng từ việc cho vay mua nhà từ các ngân hàng thương mại đã chuyển hẳn cho 2 công ty trên?

    2. Tiếp tục Fannie Mae, Freddie Mac bán những khoản nợ trên cho các ngân hàng đầu tư (ngân hàng đầu tư)? Nếu đã bán thì khi rủi ro tín dụng xảy ra thì Fannie Mae và Freddie Mac không phải chịu tổn thất tài chính do đã bán những khoản nợ này cho các ngân hàng đầu tư?

    3. Các ngân hàng đầu tư tiếp tụci bán cho các định chế tài chính khác trên toàn cầu bằng cách chứng khoán hoá các khoản nợ cho vay bất động sản. Như vậy khi người vay không có khả năng thanh toán nợ (do đa số là những khách hàng dưới chuẩn) và giá nhà đất xuống giá thì rủi ro tín dụng chỉ xảy ra giữa các ngân hàng đầu tư và các định chế tài chính đã mua các chứng khoán nợ trên. Nhưng thực tế thì 2 công ty Fannie Mae, Freddie Mac đã rơi vào phá sản?

    Rất mong sự giải thích của tác giả.

    Trân trọng,

    08:17 (GMT+7) - Thứ Năm, 2/10/2008 Trả lời Thích
  • Có lẽ tác giả bài viết đã nhận định đúng về nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng lịch sử này. Chính sách kích thích tăng trưởng quá đà và phát kiến của các "financial engineers" về chứng khoán hóa (securitisation) đã thu hút và thuyết phục tất cả, từ chính phủ đến các định chế tài chính và người dân cùng tham gia thổi quả bóng này.

    Quan sát cuộc khủng hoảng từ góc nhìn cá nhân, tôi thấy:

    - Không có định chế nào đủ lớn để sụp đổ (too big to fall) như nhận định của một số chuyên gia tài chính - ngân hàng;

    - Các ngân hàng đầu tư có vẻ là phòng tuyến mỏng nhất trong lá chắn an toàn của hệ thống;

    - Nước Mỹ đã ưu ái tầng lớp trung lưu quá nhiều khi để người trả thuế trên cả nước gánh chịu những sai lầm của họ với những khoản đầu tư rủi ro cao (mà khả năng nhận biết rủi ro của các nhà đầu tư này là không nhỏ).

    - Và (có vẻ) nước Mỹ đang tạo ra một nền kinh tế mà họ luôn chỉ trích và tìm cách xóa bỏ - nền kinh tế tập trung với sự can thiệp rông khắp của nhà nước. Nói cách khác, bằng việc tiếp quản và cứu giúp các định chế tài chính, nước Mỹ lại một lần nữa đi ngược lại những gi mà họ lớn tiếng tuyên bố và ngăn cản các quốc gia khác làm.

    Có thể nói cuộc khủng hoảng này đã cho cả thế giới hiểu thêm về cái gọi là chứng khoán hóa. Ở Việt Nam, công cụ này cũng đã được một số cơ quan đề xuất sử dụng (cũng trong lĩnh vực bất động sản) nhưng ở mức độ ít rủi ro hơn. Chắc chắn cùng với sự phát triển của nền kinh tế vĩ mô, các công cụ tài chính sẽ lần lượt xuất hiện và tham gia vào dòng chảy của vốn.

    Những gì mà cuộc khủng hoảng năm 1997 và bài học đắt giá mà nước Mỹ vừa tặng cho cả thế giới sẽ khiến chúng ta phải nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi chấp nhận sử dụng các chính sách và công cụ tài chính mới.

    Và chúng ta nên nhớ: có một khác biệt giữa Việt Nam và Mỹ, đó là chúng ta không đủ mạnh để tiến hành một cuộc giải cứu quy mô như nước Mỹ; và khi phải nhờ đến các tổ chức tài chính quốc tế, điều kiện sẽ không bao giờ là dễ chịu.

    07:48 (GMT+7) - Thứ Năm, 2/10/2008 Trả lời Thích
  • Bài phân tích nguyên nhân khủng hoảng tài chính Mỹ hay quá.

    21:40 (GMT+7) - Thứ Tư, 1/10/2008 Trả lời Thích
Bình luận của bạn
Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu.
Gõ Telex Gõ VNI
Chọn hình đại diện cho bình luận của bạn?