Kinh tế Việt Nam có vượt qua cơn bão tài chính Mỹ?

BÙI KIẾN THÀNH

06/10/2008 11:08 (GMT+7)

picture Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ sẽ lan rộng ra trên khắp các thị trường tài chính phát triển - Ảnh: Reuters.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Khủng hoảng tài chính Mỹ bắt nguồn từ việc các ngân hàng nước này quá dễ dãi, tùy tiện khi cho khách hàng vay tiền để mua bất động sản qua các hợp đồng cho vay không đạt tiêu chuẩn.

Nguyên nhân cuộc khủng hoảng

Có thể nói một cách đơn giản là từ lâu nay đa số người Mỹ vay tiền từ các ngân hàng để mua nhà,  với thời hạn hợp đồng từ 10 năm đến 30 năm. Đó là việc bình thường. Nhưng trong 10 năm trở lại đây thị trường nhà đất phát triển mạnh, các ngân hàng và các tổ chức cho vay ào ạt tiếp thị tạo ra những hợp đồng cho vay không đạt tiêu chuẩn và khuyến khích cả những người không đủ khả năng tài chính cũng đi vay tiền để mua nhà.

Ngoài ra các tổ chức cho vay còn “sáng chế” ra những hợp đồng bắt đầu với lãi suất rất thấp trong những năm đầu và sau đó điều chỉnh lại theo lãi suất thị trường. Hậu quả là một số lớn hợp đồng cho vay không đòi được nợ. Nguy hại hơn nữa là các tổ chức tài chính phố Wall đã gom góp các hợp đồng cho vay bất động sản này lại làm tài sản bảo đảm, để phát hành trái phiếu ra thị trường tài chính quốc tế.

Các loại trái phiếu này được mệnh danh là “Mortgage backed securities – MBS”, một sản phẩm tài chính phái sinh được bảo đảm bằng những hợp đồng cho vay bất động sản có thế chấp. Các tổ chức giám định hệ số tín nhiệm (Credit rating agencies) đánh giá cao loại sản phẩm phái sinh này. Và nó được các ngân hàng, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí trên toàn thế giới mua mà không biết rằng các hợp đồng cho vay bất động sản dùng để bảo đảm là không đủ tiêu chuẩn.  

Trong vài năm trở lại đây thị trường bất động sản liên tiếp hạ nhiệt, người đi vay đã không có khả năng trả được nợ lại cũng  rất khó bán bất động sản để trả nợ, và kể cả bán được thì giá trị của bất động sản cũng đã giảm thấp  tới mức không đủ để thanh toán các khoản còn vay nợ.

Hậu quả là một số lớn hợp đồng cho vay bất động sản dùng để bảo đảm cho các trái phiếu MBS là nợ khó đòi, các trái phiếu MBS mất giá trên thị trường thứ cấp, thậm chí không còn mua bán được trên thị trường, khiến cho các ngân hàng, các nhà đầu tư nắm giữ những trái phiếu này không những bị lỗ nặng và mất cả khả năng thanh toán.

Theo ước tính của nhiều chuyên gia trong 22.000 tỷ USD giá trị bất động sản tại Mỹ thì có tới hơn 12.000 tỷ USD là tiền đi vay, trong đó khoảng 4.000 tỷ USD là nợ xấu. Các nước khác cũng bắt chước Hoa Kỳ và bán ra loại trái phiếu phái sinh MBS này trong thị trường tài chính của họ.

Vì vậy trên toàn thế giới tổng số nợ bất động sản khó đòi và tổng số MBS bị “nhiễm độc” chưa thể tính hết được. Bear Stern, Indy Mac, Fannie Mae, Freddie Mac, Lehman Brothers, Meryll Lynch, Washington Mutual, Vachovia, Morgan Stanley, Goldman Sachs v.v. (Mỹ), New Century Financial, Northern Rock, HBOS, Bradford & Bringley (Anh quốc), Dexia (Pháp-Bỉ-Luxembourg), Fortis, Hypo (Đức-Bỉ), Glitner (Iceland) hoặc bị lung lay hoặc bị  ngã gục.

Cơn chấn động tài chính ở Hoa Kỳ chắc chắn sẽ khiến nhiều thị trường tài chính, nhiều ngân hàng trên khắp thế giới bị rung động theo, bởi hàng loạt ngân hàng lớn trên thế giới đã  đầu tư mua loại trái phiếu MBS này.

Trầm trọng hơn nữa là những “hợp đồng bảo lãnh nợ khó đòi”, tiếng Mỹ gọi là “Credit Default Swap – CDS”. Các hợp đồng này do các tổ chức tài chính và các công ty bảo hiểm quốc tế bán ra, theo đó bên mua CDS được bên bán bảo đảm sẽ hoàn trả đầy đủ số nợ cho vay nếu bên vay không trả được nợ.

Bên Mỹ tổng số CDS ước tính khoảng 35 nghìn tỷ USD, và toàn thế giới khoảng 54.600 tỷ USD (theo ước tính của Hiệp hội “International Swap and Derivatives Association”).

Tập đoàn tài chính và bảo hiểm hàng đầu thế giới AIG bị đổ vỡ, một phần là do đầu tư vào MBS và phần lớn là do các hợp đồng CDS này. Rồi đây, nếu thị trường tài chính Mỹ không được giải cứu kịp thời, và thị trường tài chính thế giới bị đóng băng, các hợp đồng CDS sẽ tàn phá các ngân hàng và các định chế tài chính khác đến mức khủng khiếp chưa thể lường hết được.

Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ sẽ lan rộng ra trên khắp các thị trường tài chính phát triển vì những lí do đã nói trên. Hàng loạt các ngân hàng lớn nhỏ sẽ bị sụp đổ, sẽ bị sáp nhập hoặc quốc hữu hóa. Tín dụng toàn cầu sẽ bị co rút lại. Các tập đoàn sản xuất kinh doanh sẽ gặp khó khăn tiếp cận nguồn vốn vay ngắn hạn và dài hạn.

Đối với từng khu vực, từng lĩnh vực, tác động sẽ khác nhau vì nó phụ thuộc vào mối quan hệ  kinh tế thực tế trong lĩnh vực vay trả nợ, xuất nhập khẩu, đầu tư kỹ thuật, công nghệ, những nước nào hoặc những khu vực nào phụ thuộc hoàn toàn vào Mỹ sẽ chịu ảnh hưởng lớn và bị tác động trực tiếp.

Điều này chúng ta thấy không ít ngân hàng lớn tại Anh và Đức đang gánh chịu tác động trực tiếp từ cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng này. Còn nước nào mà quan hệ  kinh tế chưa chặt chẽ lắm với Mỹ thì tác động cũng chỉ ở mức độ nào đó thôi.

Dự đoán trong một vài tháng tới, sự đổ vỡ sẽ lần lượt như kiểu quân bài domino có thể xẩy ra, chưa thể biết được cú gục ngã của Lehman Brothers và một số định chế tài chính khác của Mỹ sẽ còn kéo thêm bao nhiêu ngân hàng, tổ chức tài chính, bảo hiểm đi vào kết cục giống như vậy bởi nguy cơ thiếu thanh khoản.

Cơn chấn động tài chính ở Hoa Kỳ chắc chắn sẽ khiến nhiều thị trường tài chính, nhiều ngân hàng trên khắp thế giới bị rung động theo. Có rất nhiều ngân hàng từ châu Á sang châu Âu  đều đã cho Lehman Brothers và các ngân hàng Mỹ trên bờ phá sản vay những số tiền rất lớn.

Ngoài ra, có nhiều ngân hàng quốc tế đã bị “nhiễm độc” với trái phiếu MBS và các hợp đồng CDS.

Việt Nam có tránh được cơn bão khủng hoảng tài chính?

Tác động trực tiếp đối với nền kinh tế Việt Nam thì không lớn, vì chưa có định chế tài chính nào của Việt Nam đầu tư vào trái phiếu MBS và các hợp đồng cho vay cầm cố như Mỹ.

Nói là không tác động lớn và không trực tiếp thôi, nhưng khủng hoảng tài chính ở Mỹ  hiện nay cũng có những tác động nhất định đến thị trường tài chính - tiền tệ Việt Nam, vì kinh tế Mỹ là nền kinh tế lớn chiếm 30% tổng sản lượng, chu chuyển vốn thị trường thế giới. Trong điều kiện hiện nay, tất cả các quốc gia đều đã hội nhập nên “nhất cử, nhất động” của một nền kinh tế nào đó cũng có ảnh hưởng nhất định đối với thế giới, chưa nói tới một nền kinh tế lớn như Mỹ.

Nhưng tác động gián tiếp lại khá mạnh. Trước mắt có những vấn đề, ví dụ lãi suất cho vay liên ngân hàng quốc tế - LIBOR và SIBOR - đang tăng. Nó có thể ảnh hưởng tới nợ ngắn hạn của Việt Nam tại các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp.

Mặc dù số nợ này không lớn, chỉ khoảng hai tỷ USD, nhưng người ta buộc phải tái cấu trúc kỳ hạn và lãi suất, và như thế có thể ảnh hưởng tình hình tài chính của một số ngân hàng và doanh nghiệp.

Khủng hoảng ở Mỹ có thể làm cho người dân dự đoán USD sẽ xuống giá và họ có thể rút USD khỏi ngân hàng, hoặc bán USD mua tiền Việt gửi vào. Nó có thể làm cấu trúc tài sản của các ngân hàng rơi vào thế bất lợi.

Trong lĩnh vực thương mại, một khi mà người tiêu dùng Mỹ thắt chặt hầu bao thì nhiều nền kinh tế dựa chủ yếu vào nguồn lợi từ xuất khẩu chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

Với Việt Nam cũng vậy, hiện nay 60% GDP của chúng ta là để phục vụ cho xuất khẩu, mà Mỹ là thị trường nhập khẩu quan trọng các mặt hàng dệt may, da giày, thuỷ sản của Việt Nam.

Khủng hoảng tài chính của Mỹ có thể làm cho xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ  giảm mạnh vì hai lý do (1) Là hàng xuất khẩu của Việt Nam  một phần lớn vẫn là các loại  hàng thô, trong khi giá các nguyên liệu thô trên thị trường thế giới đang giảm, kể cả khi không có khủng hoảng ở Mỹ, và (2) là sự eo hẹp của thị trường tài chính dẫn đến eo hẹp thị trường nhập khẩu hàng hóa, nhu cầu về hàng xuất khẩu của Việt Nam giảm đi.

Không riêng gì Việt Nam mà nhiều quốc gia ở châu Á còn phải chịu những tác động sâu xa hơn từ việc thị trường xuất khẩu lớn nhất bị suy thoái. Mỹ là một nền kinh tế 70% tiêu dùng. Một khi mà người tiêu dùng Mỹ thắt chặt hầu bao, không còn vung tiền chi tiêu mua sắm ôtô, tivi, tủ lạnh, thực phẩm... thì các nền kinh tế dựa chủ yếu vào nguồn lợi từ xuất khẩu chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

Giá bất động sản ở Việt Nam cũng có thể xuống thấp hơn nữa. Mà bất động sản xuống thì tài sản ngân hàng cũng xuống theo và nợ xấu có thể tăng lên. Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước thì dư nợ cho vay bất động sản tính đến cuối tháng 9/2008 là 115.500 tỷ VND, chiếm 9,15% tổng dư nợ toàn hệ thống. Bao nhiêu là nợ đã quá hạn hoặc khó đòi thì không có báo cáo.

Kết quả tài chính của nhiều ngân hàng thương mại có thể không được như mong muốn vào cuối năm nay. Đấy là những tác động ngắn hạn.

Vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam có thể chững lại, thậm chí vốn đã cam kết sẽ thực hiện trễ hơn bởi khoảng 80% vốn đầu tư vào Việt Nam là đi vay. Khi không đi vay được thì nhà đầu tư sẽ khó giải ngân vào Việt Nam. Vốn cam kết thì lớn, nhưng vốn thực hiện có thể thấp, tình hình giải ngân những tháng cuối năm  sẽ gặp khó khăn.

Thị trường chứng khoán Việt Nam chưa gia nhập vào hệ thống thị trường chứng khoán thế giới nên ảnh hưởng tương đối nhỏ. Lo ngại là phần lớn nhà đầu tư nước ngoài sẽ rút vốn về khi nguồn vốn của họ bị co lại. Khi đó, một lượng không nhỏ USD sẽ ra khỏi Việt Nam.

Dù vốn của các nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam không nhiều, chỉ khoảng 20% tổng vốn, nhưng nếu họ rút ồ ạt thì sẽ ảnh hưởng ngay đến thị trường chứng khoán Việt Nam.

Nếu các nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu bán ra thì các cơ quan chức năng của chúng ta nên nghiên cứu vấn đề này. Do vậy, thời gian tới Ủy ban Chứng khoán, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính cần phải họp bàn xem các tổ chức nào sẽ có khả năng rút vốn ở thị trường Việt Nam và cần  dự báo các tổ chức đó bán cổ phần, cổ phiếu của Việt Nam đến mức nào, ảnh hưởng ra sao đến dự trữ ngoại hối; cũng cần phải cảnh báo với thị trường và các nhà đầu tư trong nước để tránh hoảng loạn trên thị trường.

Khu vực ngân hàng của Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn, nhưng không phải quá lớn. Những ngân hàng nhỏ với vốn điều lệ dưới mức tối thiểu quy định 1.000 tỷ đồng có thể sẽ phải sáp nhập với các ngân hàng lớn, nhưng sự đổ bể của hệ thống tài chính Việt Nam khó có khả năng xẩy ra.

Nhưng lợi nhuận của nhiều ngân hàng có thể giảm, thậm chí một số có thể lỗ. Đến cuối năm nợ xấu có thể tăng lên và lúc bấy giờ Chính phủ có thể buộc phải có giải pháp để xử lý các khoản nợ xấu.

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Bùi Thanh Thảo

    23:01 (GMT+7) - Thứ Bảy, 11/10/2008

    Bài viết của tác giả đã cung cấp tương đối đầy đủ những thông tin cơ bản để người đọc dễ hiểu và nắm được tình hình chung của cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay.

    Đồng thời giúp các nhà đầu tư có thông tin hai chiều về thị trường chứng khoán trong và ngoài nước để liên hệ và định hướng cho thời gian tới.

    Những bài viết thế này rất hiếm. Cảm ơn tác giả Bùi Kiến Thành và VnEconomy. Hy vọng sẽ có thêm nhiều bài viết hay thế này được đăng trên quý báo.

  • Nguyễn Thị Tuyết Nhung

    20:00 (GMT+7) - Thứ Bảy, 11/10/2008

    Tôi xin cảm ơn tác giả của bài viết này.

    Tôi là một sinh viên nên khi đọc bài phân tích đã giúp tôi có được một cái nhìn tổng quan nhất về thị trường tài chính Mỹ hiện nay và tác động đến Việt Nam như thế nào.

    Một lần nữa xin cảm ơn ông Bùi Kiến Thành.

  • Nguyễn Thanh Viên

    16:28 (GMT+7) - Thứ Bảy, 11/10/2008

    Tôi rất thích bài viết của tác giả Bùi Kiến Thành, bài viết đã nêu bật những vấn đề chính của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và tác động của nó đến thị trường tài chính nước ta nói riêng cũng như nền kinh tế nói chung.

    Tuy nhiên tôi thấy tác giả không có sự so sánh giữa cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997 và cuộc khủng hoàng tài chính thế giới hiện nay. Nếu có sự so sánh này thì người đọc có lẽ sẽ cảm nhận tốt hơn về thị trường tài chính thế giới.

  • Phạm Văn Tấn

    13:36 (GMT+7) - Thứ Bảy, 11/10/2008

    Một bài viết khá đầy đủ về tình hình tài chính của Mỹ, Việt Nam và các nước khác. Bài viết ngắn gọn dễ hiểu mà không kém phần bao quát. Rất hay

  • Tạ Thị Thu Phương

    08:42 (GMT+7) - Thứ Bảy, 11/10/2008

    Tôi rất thích bài viết của tác giả Bùi Kiến Thành. Nó giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cơn khủng hoảng tài chính ở nước Mỹ. Tác giả đã trình bày khá logic, đầy đủ và dễ hiểu, vì vậy mọi ngừời có thể dễ dàng hiểu cốt lõi vấn đề.

    Bên cạnh đó, tác giả còn chỉ ra những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính này tới các quốc gia, các nền kinh tế khác và đặc biệt là đối với Việt Nam một cách toàn diện, bao quát hầu hết các lĩnh vực...

    Mong VnEconomy sẽ có nhiều bài viết hay như vậy hơn nữa!

  • Phạm Văn Hiền

    21:26 (GMT+7) - Thứ Năm, 9/10/2008

    Tôi bị cuốn hút bởi bài viết thật hấp dẫn của tác giả Bùi Kiến Thành. Sự phân tích về nguyên nhân của cuộc khủng hoảng vừa ngắn gọn, vừa dễ hiểu mà lại rất logic. Nó chỉ cho chúng ta một cách nhìn sâu hơn về định chế tài chính của nước Mỹ. Hậu quả của nó như là một sự tất yếu của quy luật kinh tế.

    Đối với nước ta tác giả đặt vấn đề: Việt Nam có tránh được khủng hoảng tài chính? và lý giải thật hay, lại rất thuyết phục, song có lẽ vì giải pháp ở tầm vĩ mô nên ý kiến đề xuất của tác giả còn khiêm tốn quá.

  • Phạm Nguyên Phương

    18:12 (GMT+7) - Thứ Năm, 9/10/2008

    Bài viết của anh Bùi Kiến Thành rất hay. Nó cho người đọc thấy được bức tranh tổng thể phản ứng domino đi từ đâu tới đâu. Xin cảm ơn!

  • Minh Hải

    08:33 (GMT+7) - Thứ Tư, 8/10/2008

    Tôi thấy bài của anh Thành rất sâu sắc khi phân tích tình hình, nguyên nhân khủng hoảng và tác động đến ta.

    Sẽ hay hơn nếu tác giả đề xuất những giải pháp ở tầm vĩ mô, vi mô... để Chính phủ và các cơ quan hữu quan tham khảo và xử lý linh hoạt phù hợp với điều kiện Việt Nam.

  • Vu Khoan

    17:08 (GMT+7) - Thứ Ba, 7/10/2008

    Tôi đánh giá cao phân tích của tác giả Bùi Kiến Thành. Nhiều ảnh hưởng mà tác giả nêu ra hiện đã xảy ra tại Việt Nam.

    Về thị trường chứng khoán tôi nhất trí với ý kiến của anh Văn Hùng nhưng theo tôi nên có các giải pháp mạnh hơn để các nhà đầu tư phải tự giải toả tâm lý và thị trường chứng khoán phản ánh trung thực hơn các giá trị kinh tế của nó bằng cách không giới hạn biên độ giao dịch. Như vậy sẽ tăng lượng nhà đầu tư dài hạn và thị trường sẽ ổn định hơn.

  • Nguyen Thanh Trung

    08:26 (GMT+7) - Thứ Ba, 7/10/2008

    Bài phân tích của tác giả rất có cơ sở và khách quan.

    Vấn đề là các cơ quan hữu trách có được những giải pháp hợp lý cho mỗi diến biến của thị trường hay không. Các giải pháp này cần được công bố công khai và thực thi đúng thời điểm. Đây là yêu tố then chốt tạo niềm tin cho nhà đầu tư.

    Giải pháp đúng nhưng làm chậm hoặc quá sớm cũng phản tác dụng làm thị trường phản ứng tiêu cực ảnh hưởng đến quyền lợi nhà đầu tư. Thiếu công khai minh bạch thì chỉ có lợi cho một nhóm đặc quyền đặc lợi nhất định tạo ra bất bình trong xã hội.

  • Minh Long

    00:42 (GMT+7) - Thứ Ba, 7/10/2008

    Tôi thì nghĩ không dễ gì mà nhà đầu tư nước ngoài có thể rút vốn ra khỏi thị trường chứng khoán Việt Nam. Lượng cổ phiếu họ đang nắm giữ không phải là nhỏ, họ rút ra thì các nhà đầu tư Việt Nam cũng bắt đầu rút và gây ra tình trạng hoảng loạn. Bán không ai mua và cứ thế dìm nhau xuống đáy sâu.

    Việc SCIC thoái vốn cũng có thể coi là chạy khỏi thị trường với mục đích thế nào thì tôi cũng không rõ. Nhưng rõ ràng là SCIC không có tác dụng gì đối với thị trường chứng khoán Việt Nam. Cách đây mấy tháng khi thị trường chứng khoán Việt Nam xuống sâu, cổ phiếu đã cho phép SCIC mua vào, nhưng hành động mua của họ không ai biết là có mua hay không. Bây giờ thị trường xấu đi, SCIC lại bán!

  • La Trang

    00:19 (GMT+7) - Thứ Ba, 7/10/2008

    Tôi đồng ý với ý kiến của bạn Văn Cương. Chúng ta ko chỉ lo ngại sự thiếu hụt do nguồn vốn chảy ra, do FDI thực hiện nhỏ hơn nhiều so với FDI đăng ký; mà còn lo ngại cả sự "quá tải" của nguồn vốn.

    Việt Nam là thị trường đang phát triển, trong khi những thị trường khác khủng hoảng, tỷ lệ sinh lời cao có thể thu hút các dòng vốn đổ vào Việt Nam. Liệu có thể xảy ra một kịch bản rằng: cầu VND tăng, chúng ta lại đứng trước lựa chọn giữa tăng cung tiền để giữ cho VND không lên giá, hay không tăng cung tiền để kìm chế lạm phát?

  • Văn Hùng

    22:29 (GMT+7) - Thứ Hai, 6/10/2008

    Trong lúc này, thì trường đi xuống vì tâm lý là chính, vậy thì để tác động tâm lý tin tưởng cho nhà đầu tư phải làm sao đây? Đừng can thiệp hành chính nữa, hãy cho thị trường một lối thoát thật thoải mái. Tôi tin tưởng rằng toàn thể nhà đầu tư nội ngoại đều ủng hộ hai điểm dưới đây:

    1/ Trả lại biên độ 10% cho sàn Hà Nội vào thời điểm này tạo nên một niềm tin cho nhà đầu tư trong nươc. Chỉ cần tâm lý nhà đầu tư trong nước vững vàng cũng là tác động giúp thị trường đi lên. Hãy để thị trường vận hành không bị trói buộc.

    2/ Bỏ T+4 và thay bằng T+0 hoặc tối thiểu cũng là T+1. Nhưng tốt hơn là T+0 và cho phép mua bán cổ phiếu trong cùng 1 phiên để tạo tính thanh khoản tốt nhất. một thị trường có tính thanh khoản cao là một thị truờng phát triển.

    Mong Ủy ban Chứng khoán xem xét.

  • Nguyễn Văn Cương

    14:33 (GMT+7) - Thứ Hai, 6/10/2008

    Nói đến sự ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính Mỹ đối với Việt Nam, mình có mấy điểm sau đây:

    Thứ nhất, khủng hoảng trên thị trường tài chính Mỹ đã gây tâm lý trên thị trường chứng khoán các nước trên thế giới nói chung và trên thị trường chứng khoán Việt Nam nói riêng.

    Cụ thể là những ngày rớt điểm trong thời gian vừa qua. Nhưng tầm ảnh hưởng của khủng hoảng tới thị trường chứng khoán Việt Nam là không nhiều. Vậy thì chắc gì nhà đầu tư nước ngoài rút vốn về nước, trong khi nước họ còn bị ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng.

    Hành động rút vốn về nước của các nhà đầu tư nước ngoài giồng như "giọt nước rơi vào đống lửa". Vì thế theo cá nhân tôi thì nhà đầu tư sẽ không rút vốn khỏi thị trường chứng khoán Việt Nam.

    Thứ hai, khủng hoảng sẽ làm cho xuất khẩu của chúng ta sang thị trường Mỹ và châu Âu giảm và tình hình vẫn tương tự đối với các nước thiên về xuất khẩu như Trung Quốc.

    Khi đó họ sẽ tìm kiếm các thị trường mới và không ngoại trừ Việt Nam, vì Việt Nam là một thị trường rất tiềm năng. Vậy biện pháp của chúng ta sẽ như thế nào nếu tình hình này xảy ra?

  • Bien Phan

    14:21 (GMT+7) - Thứ Hai, 6/10/2008

    Tôi hoàn toàn nhất trí với những nhận định của tác giả Bùi Kiến Thành, những gì tác động đến nền kinh tế Việt nam đã được tác giả mô tả và tôi nghĩ rằng đây là thông tin đáng lưu tâm đối với những người làm chính sách và các nhà đầu tư.

    Chỉ có điều tôi băn khoăn là trong điều kiện thị trường chứng khoán đầy dãy những khó khăn như hiện nay thì việc tuyên bố thoái vốn của SCIC thực sự với mục tiêu gì?

    Một lần nữa công chúng lại đặt câu hỏi về chức năng của SCIC, nếu điều này không làm rõ thì họ luôn đúng trong mọi trường hợp khi thị trường lên nhưng không bán vì cho rằng chức năng chính không phải là kinh doanh mà là giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, nhưng khi thị trường xuống mà họ bán thì cho rằng chủ trương là thoái vốn.

    Chỉ có một điều luôn xác định được là nhà đầu tư bị tổn thương thực sự và vốn của nhà nước cũng mất thực sự.

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Tài chính

Mai Thiên Bình

11:14 (GMT+7) - Thứ Năm, 24/5/2012

Thật đơn giản, hãy hạ lãi suất huy động xuống thấp nữa và chỉ cho phép trần cho vay vênh 3-5% so với huy động. Tiền...

Trong bài: Ngân hàng thừa thanh khoản, doanh nghiệp suy kiệt vốn (8 ý kiến)

Nguyễn Hoàng Minh

10:38 (GMT+7) - Thứ Năm, 24/5/2012

Doanh nghiệp là nguồn thu nhập chính của người dân làm công ăn lương, các hộ buôn bán nhỏ cũng là doanh nghiệp. Ngân hàng...

Trong bài: Ngân hàng thừa thanh khoản, doanh nghiệp suy kiệt vốn (8 ý kiến)

Lê Minh Châu

09:53 (GMT+7) - Thứ Năm, 24/5/2012

DN nên tự cứu mình trước khi có 'phép màu' nào đó. Theo tôi, chính phủ nên cứu đa số nhân dân trước rồi mới...

Trong bài: Ngân hàng thừa thanh khoản, doanh nghiệp suy kiệt vốn (8 ý kiến)

Bùi Huy Tuấn

09:45 (GMT+7) - Thứ Năm, 24/5/2012

Để các NHTM thật sự giảm lãi suất cho vay, Tôi xin đề xuất một phương án: NHNN cho vay tái cấp vốn đối với...

Trong bài: Ngân hàng thừa thanh khoản, doanh nghiệp suy kiệt vốn (8 ý kiến)

HOPw

09:14 (GMT+7) - Thứ Năm, 24/5/2012

Doanh nghiệp nào thiếu vốn đâu? Ra quán nhậu mà xem, tối nào cũng đông nghẹt, toàn giám đốc, trưởng phòng, nhân viên công ty...

Trong bài: Ngân hàng thừa thanh khoản, doanh nghiệp suy kiệt vốn (8 ý kiến)