“Cân đong” các nguồn vốn cho gói kích cầu

NHÓM TÁC GIẢ

03/01/2009 16:11 (GMT+7)

picture Gói kích cầu được kỳ vọng sẽ giúp nền kinh tế Việt Nam nhanh chóng thoát ra những biểu hiện suy giảm - Ảnh: AFP.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Dự kiến về gói kích cầu trị giá 1 tỷ USD - có thông tin cho rằng có thể lên tới 6 tỷ USD - của Chính phủ gần đây đã được nhóm các nhà nghiên cứu từ Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách (CEPR - Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội) “mổ xẻ”.

Những tính toán trong bài thảo luận chính sách của nhóm tác giả Nguyễn Đức Thành, Bùi Trinh, Phạm Thế Anh, Đinh Tuấn Minh, Bùi Bá Cường, Dương Mạnh Hùng đã chỉ ra rằng việc huy động nguồn vốn để kích cầu có thể là khả thi, nhưng thâm hụt ngân sách nhiều khả năng sẽ lên mức cao, gây ra sự mất cân đối cho nền kinh tế.

VnEconomy xin trích giới thiệu một phần nghiên cứu này để độc giả cùng tham khảo.

Ba nguồn vốn chính

Theo như công bố gần đây của Chính phủ, việc thực hiện gói giải pháp kích cầu trị giá 100 ngàn tỷ (tương đương với khoảng 25% dự toán tổng thu ngân sách năm 2009) sẽ được tài trợ qua ba nguồn chính: phát hành trái phiếu Chính phủ; miễn giảm thuế; và sử dụng quỹ dự trữ Nhà nước.

Tài trợ thông qua phát hành trái phiếu trong nước có thể chia thành vay nợ từ công chúng hoặc từ hệ thống các ngân hàng thương mại.

Giả sử Chính phủ phát hành trái phiếu ra công chúng và dùng số tiền huy động được để tài trợ cho gói kích cầu. Trong trường hợp này cơ sở tiền tệ sẽ không đổi và không có tác động gì đến cung tiền lẫn sức ép lạm phát. Tuy nhiên, việc tài trợ này gặp phải những khó khăn nhất định.

Thứ nhất, việc phát hành trái phiếu ra công chúng sẽ gặp khó khăn khi mức lãi suất không còn hấp dẫn như trước, đồng thời lạm phát kỳ vọng có thể tăng trở lại khi Chính phủ phát đi tín hiệu kích cầu. Nguồn huy động được chắc chắn sẽ không lớn khi mức huy động vay nợ trong nước hiện nay của Chính phủ đã vào khoảng gần 50 ngàn tỷ đồng một năm.

Thứ hai, việc tài trợ cho gói kích cầu này thông qua vay nợ sẽ đẩy lãi suất lên cao và gây sức ép xấu đến khu vực tư nhân và tăng trưởng kinh tế. Huy động với lãi suất cao còn làm tăng các khoản trả lãi thêm hàng chục ngàn tỷ đồng mỗi năm trong tương lai, và làm trầm trọng thêm vấn đề thâm hụt ngân sách.

Ngược lại, nếu Chính phủ vay nợ hệ thống ngân hàng thương mại sẽ gây sức ép đối với dự trữ của các ngân hàng này và các ngân hàng sẽ đòi hỏi trợ giúp về khả năng thanh khoản từ Ngân hàng Nhà nước. Nếu những đòi hỏi này được đáp ứng, cơ sở tiền tệ sẽ tăng và lạm phát sẽ quay trở lại.

Nếu Ngân hàng Nhà nước không đáp ứng những đòi hỏi về tính thanh khoản này, các ngân hàng thương mại buộc phải giảm các nguồn tín dụng cho khu vực doanh nghiệp tư nhân và lao vào một cuộc cạnh tranh lãi suất huy động như những gì đã diễn ra trong đầu năm nay.

Do vậy, việc thực hiện gói kích cầu có thể không đạt được mục tiêu như mong đợi khi biện pháp tài trợ thông qua vay nợ trong nước được lựa chọn. Việc vay nợ sẽ đẩy lãi suất lên cao và  gây khó khăn thêm cho các doanh nghiệp tư nhân và không thúc đẩy được tăng trưởng kinh tế.

Tài trợ qua miễn, giảm, hoãn, chậm việc thu thuế để doanh nghiệp có nguồn đầu tư. Đây là một biện pháp có lợi và có thể giúp duy trì hoặc mở rộng sản xuất cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên, biện pháp nay cũng có những nhược điểm nhất định.

Thứ nhất, trong tình hình bội chi ngân sách như hiện nay (khoảng 5%/năm), việc miễn giảm thuế và chậm thu sẽ ảnh hưởng đến các khoản chi ngân sách khác và hạn chế tác động của việc kích cầu.

Thứ hai, tổng nguồn thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp hiện nay vào khoảng 100 ngàn tỷ đồng, do vậy lượng thuế mà các doanh nghiệp được hưởng miễn, giảm, hay chậm thu sẽ không nhiều.

Ngoài ra, biện pháp tài trợ này còn đặc biệt gặp khó khăn trong thực thi. Việc lựa chọn doanh nghiệp nào được hưởng lợi từ biện pháp này là một thách thức, dễ gây ra sự bất đồng và thiếu niềm tin vào sự công tâm của các cơ quan đại diện thực thi chính sách của Chính phủ.

Sử dụng quỹ dự phòng để tài trợ cho gói kích cầu thì quyết toán ngân sách nhà nước các năm cho thấy nguồn quỹ dự phòng là quá nhỏ so với gói kích cầu.

Tài trợ thông qua quỹ dự trữ ngoại hối thì ngoại tệ sẽ được bán ra công chúng cho tới khi dự trữ giảm xuống ngưỡng an toàn. Việc tài trợ này cực kỳ rủi ro nếu công chúng tin rằng dự trữ ngoại hối đang cạn dần và có thể dẫn đến sự tháo chạy của tư bản nước ngoài và đầu cơ ngoại tệ. Cuối cùng sẽ là sự phá giá đồng nội tệ và sức ép lạm phát.

Hiện nay, mức dự trữ ngoại hối của Việt Nam khoảng 20 tỷ USD. Việc kich thích đầu tư và tiêu dùng thường kéo theo sự gia tăng mạnh của nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng… và với mức dự trữ ngoại hối như vậy, có lẽ chỉ là vừa đủ ngưỡng đảm bảo an toàn của hệ thống tỷ giá (đặc biệt về mặt tâm lý).

Rõ ràng, việc sử dụng dự trữ ngoại hối tài trợ toàn bộ cho gói kích cầu vài tỷ USD là điều vừa không khả thi vừa không sáng suốt.

Tăng sản lượng khai thác và xuất khẩu dầu thô cũng là một nguồn tài trợ quan trọng khác cho chi tiêu Chính phủ.

Tổng nguồn thu từ dầu thô hàng năm trong năm các năm 2007-2008 là vào khoảng gần 70 ngàn tỷ đồng, chiếm hơn 20% tổng nguồn thu. Tuy nhiên, tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã khiến giá dầu thô giảm hơn 70% kể từ đỉnh cao 140 USD/thùng xuống dưới 40USD/thùng, và chưa có dấu hiệu tăng trở lại trong thời gian tới.

Điều này khiến cho việc duy trì tổng mức thu từ dầu theo kế hoạch trong năm 2009 giảm mạnh. Lấy một ước lượng sơ bộ và đơn giản là nguồn thu giảm khoảng 50%, thì đã tương đương 30 ngàn tỷ đồng.

In tiền để tài trợ cho thâm hụt ngân sách thì sẽ có hai trường hợp xảy ra. Một là Chính phủ có thể trực tiếp thông qua Ngân hàng Nhà nước in tiền để tài trợ cho chi tiêu. Biện pháp tài trợ này ngay lập tức sẽ dẫn đến tăng trưởng cơ sở tiền tệ và cung tiền.

Hai là Chính phủ ban đầu có thể vay tiền của công chúng và hệ thống ngân hàng thương mại thông qua phát hành trái phiếu. Nhưng nếu sau đó Ngân hàng Nhà nước can thiệp mua lại các khoản nợ này của chính phủ thông qua nghiệp vụ thị trường mở, hoặc nhằm đáp ứng sức ép thanh khoản gia tăng của hệ thống ngân hàng thương mại, thì một lượng tiền tương tự như khi in tiền trực tiếp cũng sẽ được bơm vào nền kinh tế.

Trong cả hai trường hợp, cơ sở tiền tệ và cung tiền sẽ tăng, gây ra lạm phát và bất ổn kinh tế vĩ mô trong tương lai.

Việc  tài trợ cho chi tiêu qua gói kích cầu thông qua Ngân hàng Nhà nước còn có thể làm trầm trọng hơn những  rủi ro kinh tế khi Ngân hàng Nhà nước theo đuổi chế độ tỷ giá gắn chặt với đồng USD như hiện nay.

Như đã nói ở trên, kích thích đầu tư và tiêu dùng thường kéo theo sự gia tăng mạnh của nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng. Vì vậy, việc tài trợ cho gói giải pháp kích cầu thông qua Ngân hàng Nhà nước, một mặt làm tăng cung nội tệ, mặt khác làm tăng cầu ngoại tệ do nhu cầu nhập khẩu tăng.

Khi đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ buộc phải can thiệp vào thị trường ngoại hối bằng cách bán ra ngoại tệ nhằm duy trì tỷ giá, gây sức ép về tính thanh khoản đối với hệ thống ngân hàng thương mại, thâm thủng dự trữ ngoại hối, phá giá đồng nội tệ, và cuối cùng là lạm phát.

Tài trợ thông qua vay nợ nước ngoài thì theo báo cáo nợ nước ngoài năm 2008 của Bộ Tài chính, tổng dư nợ nước ngoài tính đến hết năm 2007 đã vào khoảng 311 ngàn tỷ đồng (tương đương gần 30% GDP). Hơn nữa, khả năng vay nợ thêm nước ngoài trong bối cảnh khủng khoảng kinh tế toàn cầu cộng với việc  tạm ngừng cấp vốn ODA từ Nhật Bản là rất khó khăn.

Tác động của việc tài trợ cho gói kích cầu thông qua biện pháp vay nợ nước ngoài, nếu có, sẽ phụ thuộc nhiều vào chủ trương theo đuổi chế độ tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước trong thời gian tới.

Nếu Ngân hàng Nhà nước theo đuổi chính sách ổn định tỷ giá quanh mức công bố như hiện nay, điều này có nghĩa Ngân hàng Nhà nước sẽ phải can thiệp mua vào lượng dư cung ngoại tệ do Chính phủ đã bơm vào nền kinh tế sau khi vay nước ngoài. Cơ sở tiền tệ và cung tiền cuối cùng sẽ tăng và gây ra lạm phát.

Tuy nhiên, nếu Ngân hàng Nhà nước chủ động thả lỏng mức kiểm soát tỷ giá thì hậu quả của việc  làm này sẽ là sự lên giá của đồng nội tệ và tác động xấu đến khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới của hàng xuất khẩu Việt Nam.

Cuối cùng, Chính phủ có thể thông qua việc trì hoãn trả nợ tài trợ cho gói kích cầu. Đây là một trong những biện pháp quan trọng và thường xuyên được thực hiện ở các nền kinh tế chuyển đổi.

Theo những tính toán của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tổng nợ của Việt Nam tính đến cuối năm 2007 đã vào khoảng 50% GDP (trong đó nợ trong nước chiếm khoảng 2/5, nợ nước ngoài chiếm 3/5).

Việc tích lũy thêm nợ làm trì hoãn những tác động xấu có thể có của các biện pháp tài trợ gói kích cầu. Tuy nhiên, nó sẽ tác động đến kỳ vọng của khu vực tư nhân về sự phát triển trong tương lai của nền kinh tế. Các cá nhân và tổ chức kinh tế sẽ dự đoán về sự gia tăng của thuế và lạm phát, và làm xấu đi tình hình tài chính.

Các kịch bản

Chính phủ có thể kết hợp các nguồn tài trợ nói trên để tài trợ cho gói kích cầu, với giả định Chính phủ tiếp tục duy trì cơ cấu các khoản thu - chi khác và mức thâm hụt ngân sách hàng năm như hiện nay, và tìm các nguồn khác để tài trợ cho gói kích cầu.

Căn cứ trên các số liệu thực tế hoặc dự toán của năm 2008 đối với các nguồn tài trợ này, Chính phủ có thể tăng mỗi nguồn tài trợ này ở bốn mức khác nhau, tương ứng với bốn kịch bản sau (các kịch bản có cùng giả định nguồn thu từ dầu thô giảm một nửa trong năm tới so với năm 2008).

Kịch bản (1) (2) (3) (4)
1. Quy mô gói kích cầu (tỷ đồng)
17.000 50.000 75.000 100.000
1.1. Miễn giảm và chậm thu thuế thu nhập doanh nghiệp 5.000 15.000 20.000 25.000
1.2. Tăng chi tiêu 12.000 35.000 55.000 75.000
2. Tài trợ        
2.1. Dầu thô (thay đổi so với năm trước) -32.800 -32.800 -32.800 -32.800
2.2. Sử dụng quỹ dự trữ  10.000 14.000 17.000 20.000
2.3 Qua Ngân hàng Nhà nước (in tiền hoặc tương tự) 10.000 10.000 15.000 20.000
2.4. Phát hành trái phiếu (tăng so với năm trước) 19.800 38.800 31.500 62.800
2.5. Vay nợ nước ngoài (tăng so với năm trước) 10.000 20.000 25.000 30.000
Gia tăng thâm hụt ngân sách (so với 2008) 29.800 58.800 75.800 92.800
Thâm hụt ngân sách (% GDP) 7,03 8,99 10,15 11,31

Với kịch bản 1, để huy động được khoảng 1 tỷ USD trong một năm, Chính phủ cần tăng vay nợ trong nước lên tương đương 140% so với lượng vay trong năm 2008. Đồng thời, tất cả các nguồn khác đều phải nỗ lực huy động nhiều hơn năm trước. Trong trường hợp đó, thì thâm hụt ngân sách cũng tăng khoảng gấp rưỡi, lên tới khoảng 100.000 tỷ đồng, và bằng 7% GDP.

Với kịch bản 2, 100.000 tỷ được huy động trong hai năm (trung bình 50.000 tỷ một năm). Theo cách lựa trọn tài trợ như trong bảng trên, thâm hụt ngân sách lên tới khoảng 9% GDP. Đây là những mức thâm hụt rất lớn và trầm trọng.

Với kịch bản 3, 75.000 tỷ được huy động trong mỗi năm, thì phải phát hành trái phiếu bằng 160% năm 2008, đồng thời tăng vay nợ thêm 1.5 tỷ USD so với năm 2008, song song với việc miễn giảm thuế 20.000 tỷ, giảm dự trữ khoảng 1 tỷ USD và tài trợ bằng in tiền cũng một khoảng gần như vậy.  Đây là một gói giải pháp khá mạo hiểm, và thâm hụt ngân sách có thể lên tới hơn 10% GDP, một có số đáng báo động về mất cân đối vĩ mô.

Với kịch bản 4, chúng ta giả định quy mô gói kích cầu lên tới 100.000 tỷ đồng trong một năm, trong đó 25% là thông qua miễn giảm thuế, và 75% là tăng chi tiêu. Thông qua việc sử dụng quỹ dự trữ 20.000 tỷ và in thêm một lượng tiền tương tự, thì mức thâm hụt ngân sách ước tính vẫn tới hơn 11,3% GDP, và gấp 2,5 lần mức thâm hụt hiện nay xét về giá trị (150.000 tỷ đồng). Để tài trợ cho khoản thâm hụt khổng lồ này, có thể cần tăng vay nợ nước ngoài gấp 3 lần và nợ trong nước hơn gấp đôi so với năm 2008.

Nói tóm lại, việc huy động thêm khoảng 1 tỷ USD/năm trong hai năm tới là khả thi. Để đạt được điều này, Chính phủ phải chấp nhận mức thâm hụt lên tới gần 7% GDP. Nếu Chính phủ muốn huy động nhiều hơn chỉ tiêu trên, mức thâm hụt sẽ nhanh chóng đạt và vượt mức 10% GDP. Đây là mức có thể gây những mất cân đối nghiêm trọng đối với nền kinh tế mà hậu quả chưa lường hết được về mặt vĩ mô.

* Bạn đọc có thể download toàn văn bài thảo luận tại đây.

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Bùi Huy Tuấn

    12:59 (GMT+7) - Thứ Ba, 10/2/2009

    Theo tôi, gói kính cầu của Chính phủ thông qua chính sách hỗ trợ lãi suất đối với người vay vốn tại các ngân hàng thương mại hình như lại kích cung nhiều hơn vì:

    - Việc bù lãi suất chỉ áp dụng đối với cho vay vốn lưu động bằng VND. Mà chỉ có các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì mới vay vốn lưu động, do vậy hàng hoá sẽ được sản xuất nhiều hơn khi được bơm nguồn vốn với lãi suất thấp.

    - Đối với cầu hàng hoá thì đang giảm (thu nhập người lao động giảm do thất nghiệp ra tăng; hoạt động đầu tư giảm, xuất khẩu giảm...).

    Hiện tại hàng hoá đang rất khó tìm đầu ra, nay lại được kích cung để sản xuất nhiều hơn thì hậu quả sẽ lại càng lớn.

  • Phạm Tuấn Sơn

    21:58 (GMT+7) - Thứ Ba, 6/1/2009

    Bài viết cũng như phần góp ý đều là những đóng góp tích cực mong tìm một giải pháp cho vấn đề suy thoái kinh tế Việt Nam .
    Tôi chỉ xin lưu ý là chúng ta đang nói đến việc chữa cháy và ngọn lửa đang bùng ra khắp mọi nơi, trong nhà ta cũng như nhà hàng xóm, kẻ giầu cũng như người nghèo. Nói một cách khác đây là một vấn đề suy thoái kinh tế toàn cầu.

    Hiện nay mọi quốc gia dùng biện pháp kích cầu. Việt Nam có nên bắt chước không ? Tôi nghĩ để có tính khoa học và hợp lý , phải theo thứ tự sau :
    ư
    1-Phải có một cái nhìn toàn diện về chính sách phát triển kinh tế quốc gia .
    2- Việc kích cầu phải nằm trong chính sách đó .
    3-Từ đó định ra được đối tượng được hưởng sự hỗ trợ này .
    4-Từ đó các chuyên gia có thể tính được nhu cầu cần thiết để thực hiện hiệu quả chính sách này .
    5- Lúc đó mới biết rõ lấy từ những nguồn vốn nào, bao nhiêu.

    Một chính sách đúng cần đưa ra được một mô hình phát triển hài hòa, bền vững cho đất nước và được sự đồng thuận của toàn dân. Điều kiện cần và đủ để thành công. Nếu không làm được chuyện này, mọi biện pháp đều trong tình trạng bị động, chữa ngọn lủa lớn, bằng một thùng nước nhỏ, hiệu quả thật mỏng manh.

  • Trung Nguyen

    11:03 (GMT+7) - Thứ Hai, 5/1/2009

    Tôi thấy nhóm tác giả chưa xác định được hai vấn đề rất quan trọng và có ảnh hưởng trực tiếp tới phương pháp cũng như hiệu quả của việc "kích cầu". Đó là việc xác định đối tượng của kích cầu và nguồn vốn được sử dụng để kích cầu.

    Về đối tượng kích cầu, nếu nhà nước thực sự quan tâm tới hiệu quả và sẽ hỗ trợ chủ yếu cho khối doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì sẽ không thể nào có chuyện lãi suất bị đẩy lên cao được, vì Chính phủ đã có chủ trương hỗ trợ doanh nghiệp về mặt lãi suất.

    Đây mới là vấn đề khó nhất, vì nếu chúng ta xác định đúng và hỗ trợ đúng những đối tượng cần hỗ trợ bằng những biện pháp cần thiết thì kích cầu sẽ đạt hiệu quả cao. Còn nếu Chính phủ cứ tiếp tục hỗ trợ cho các doanh nghiệp Nhà nước thì chắc chắn sẽ gây ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của việc kích cầu, nhưng cũng sẽ rất khó để đẩy mặt bằng lãi suất lên cao. Vì tình hình kinh tế khó khăn nói chung đã đẩy các doanh nghiệp vào thế khó, nếu các ngân hàng thương mại tăng lãi suất thì cũng không thể cho ai vay được.

    Việc thực hiện giãn, giảm thuế cho các doanh nghiệp cũng không phải là quá khó làm. Chúng ta không cần thiết và cũng không thể xác định nên giãn, giảm thuế cho từng doanh nghiệp một lượng thuế cụ thể là bao nhiêu. Tổng cục thuế chắc chắn đã có số liệu tổng quan về các loại hình doanh nghiệp và có thể đưa ra kiến nghị về việc giãn, giảm cụ thể cho từng loại đối tượng. Tuy có thể ai đó cho rằng như thế là hỗ trợ theo kiểu cào bằng nhưng thực chất thì vẫn thể hiện sự quan tâm và hỗ trợ của Nhà nước để doanh nghiệp có thể yên tâm sản xuất, kinh doanh.

    Về việc sử dụng nguồn dự trữ ngoại hối cho kích cầu thì đúng là sẽ không sáng suốt nếu sử dụng toàn bộ 6 tỷ đô la cho kích cầu từ nguồn vốn này. Tuy nhiên, nếu chỉ trích một phần từ nguồn này thì cũng sẽ không gây hậu quả tới mức như trong bài phân tích. Muốn sử dụng nguồn vốn này nhưng không gây hậu quả lớn về mặt tâm lý của người dân thì Nhà nước có thể sử dụng nhiêu biện pháp khác nhau. Như tuyên truyền cụ thể cho người dân rõ mục đích sử dụng, lượng ngoại tệ dự trữ được sử dụng.

    Còn việc cho vay để đầu tư máy móc, thiết bị vào thời điểm này, đặc biệt là với những công nghệ cao hơn so với những công nghệ sản xuất còn thô sơ và gây ô nhiễm tại Việt Nam là điều cần thiết. Và không lúc nào thích hợp hơn lúc này khi mà kinh tế thế giới bước vào tình trạng suy thoái và chúng ta có thể đầu tư vào công nghệ cao với giá rẻ hơn so với trước đây.

    Để tránh tình trạng phải bơm nhiều tiền vào lưu thông thì Ngân hàng Nhà nước có thể xem xét việc cho doanh nghiệp vay trực tiếp bằng ngoại tệ và sau đó có thể trả lại bằng nội tệ theo một tỷ giá có lợi cho doanh nghiệp. Còn khi doanh nghiệp trả nợ hay khi Ngân hàng Nhà nước phải trả nợ trái phiếu thì vẫn có thể sử dụng một số công cụ của Ngân hàng Nhà nước, như tạm thời tăng dự trữ bắt buộc và giảm dần tỷ lệ này để hạn chế việc một lúc cung một lượng tiền lớn vào trong lưu thông gây áp lực lạm phát.

    Hơn nữa, khi phát hành trái phiếu thì cũng vẫn là huy động bằng tiền Việt và khi trả nợ thực chất chỉ có lượng tiền trả lãi mới thực sự là lượng tiền mới được đưa vào lưu thông.

    Chúng ta cũng không thể quá dựa vào lượng tiền tài trợ của các nhà tài trợ nước ngoài, chẳng hạn như Nhật Bản. Thực chất, vừa qua họ chỉ tạm dừng không viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam để chờ kết quả vụ PCI. Đó là lượng tiền không lớn nếu so với tổng vốn ODA của Nhật Bản cho Việt Nam. Hơn nữa, vốn ODA cũng chỉ được các tổ chức sử dụng để tài trợ cho những nước còn gặp nhiều khó khăn. Việt Nam trong những năm qua đã thực hiện khá tốt nên khả năng ODA bị cắt giảm cũng sẽ không còn xa nữa. Do đó, chúng ta cần phải học cách tự đứng trên đôi chân của chính mình.

  • Bang Ecoy

    10:09 (GMT+7) - Thứ Hai, 5/1/2009

    Theo kinh nghiệm của những lần khủng hoảng trước đây, các nước trên thế giới cũng liên tục đưa ra các gói giải cứu khủng hoảng khổng lồ trị giá hàng chục tỉ và thậm chí lên tới ngàn tỉ USD.

    Việc kích cầu đầu tư và kích cầu tiêu dùng là một giải pháp có thể nói là hữu hiệu nhất trong hoàn cảnh hiện tại của mỗi quốc gia. Nhưng vấn đề đặt ra ở đây với các nhà hoạch định chính sách là: Tiền lấy ở đâu? Kích cầu vào chỗ nào để đạt hiệu quả và hiệu suất cao nhất?

    Nhưng có lẽ trước khi đi tìm những điều đó, cần phải tự hỏi rằng chúng ta cần bao nhiêu tiền để giải quyết vấn đề hiện tại?sẽ giải quyết vấn đề ở mức độ nào ? hay là chúng ta thấy người ta làm thì mình cũng bắt chước làm theo.

    Theo tôi trong giải pháp 1tỷ hay 6 tỷ USD trên các nhà hoạch định chính sách cần phải xác định thật rõ chúng ta cần bao nhiêu để giải quyết vấn đề? tất nhiên chúng ta cũng phải đối mặt với tình trạng nợ nước ngoài, thâm hụt ngân sách ... nhưng điều đó cũng là bình thường nếu như chúng ta tiêu tiền đúng chỗ, kích thích có hiệu quả để rồi chúng ta phục hồi nhanh chóng.

    Theo tôi chúng ta cũng cần hướng gói giải pháp trên vào các địa chỉ như:
    Cần phải tạo ra nhiều việc làm thì kích cầu mới có hiệu quả, ví dụ như như các công trình đóng tàu, xây lắp điện, xây dựng ...
    Kích thích tiêu dùng và sản xuất nội địa, tránh nhập khẩu thiết bị máy móc, đồ dùng xa xỉ để tiết kiệm ngoại tệ cho quốc gia. Hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất trong nước tiêu thụ hàng hoá, hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa nơi sử dụng nhiều lao động.

    Đầu tư vào khu vực nông thôn như các dự án hạ tầng giao thông, đô thị các dự án phát triển nông nghiệp.
    Xây dựng nhà ở cho người thu nhập trung bình và thấp nhằm kích cầu đầu tư - tiêu dùng, an sinh xã hội.

    Tuy nhiên bên cạnh các giải pháp trên thì các nhà hoạch định chính sách cũng cần phải có những cơ chế và chính sách phù hợp. Quan trọng nhất, theo tôi nghĩ đó là chính sách xã hội. Chúng ta phải giải quyết việc làm của người dân để đảm bảo an sinh xã hội, vì việc làm của người lao động mới chính là gốc rễ của vấn đề.

  • Vu Tinh

    23:00 (GMT+7) - Thứ Bảy, 3/1/2009

    Các tình huống có thể xảy ra khi kích thích tiêu dùng trong nước đã đề ra ở bài viết.

    Nhìn chung đều có sự trả giá. Cho nên việc sử dụng giải pháp nào trong lúc này cần phải cân nhắc kĩ.

    Theo tôi:

    Để kích thích nhu cầu tiêu dùng trong nước, cần có những chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp trong nước. Các doanh nghiệp trong nước chủ yếu vừa và nhỏ. Phải đảm bảo cho các doanh nghiệp phát triển nhưng không phải bao cấp tất cả. Những doanh nghiệp nào có khả năng phát triển tốt thì nên trợ giúp, định hướng cho họ.

    Ngoài những thị trường chiếm tỉ trọng lớn về xuất khẩu, chúng ta nên tìm những thị trường khác nhằm cải thiện cho việc giảm sút của xuất khẩu ròng khi các nước cắt giảm chi tiêu.

    Nhu cầu tiêu dùng trong nước rất lớn. Việc người dân thích tiêu dùng hàng ngoại do chất lượng đảm bảo. Do đó việc hỗ trợ cho doanh nghiệp lúc này phải tạo lòng tin cho người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm. Cơ quan nhà nước phải giám sát các doanh nghiệp trong khi sản xuất. Tránh tình trạng về nhiều vụ sản xuất chạy theo lợi nhuận mà bất chấp thủ đoạn.

    Nhà nước không nên đặt mục tiêu quá cao về tăng trưởng như đã đề ra là 6,5%. Việc tăng trưởng cao cần sự đánh đổi lạm phát, sẽ khó mà đạt mục tiêu giảm lạm phát xuống 1 con số. Điều đó sẽ ảnh hưởng lâu dài cho nền kinh tế. chúng ta sẽ mất nhiều thời gian hơn để vực dậy nền kinh tế.

    Tóm lại, lúc này nên tạo tâm lý tốt cho người tiêu dùng về hàng trong nước sản xuất.

    Cần có quan hệ ngoại giao tốt hơn nữa của nhà nước sang các thị trường khác. điều đó làm mở rông thị trương tiêu thụ hàng hoá, làm tăng kim ngạch xuất khẩu.

  • Anh Quân

    18:54 (GMT+7) - Thứ Bảy, 3/1/2009

    Chúng ta đã cân nhắc đến nhiều yếu tố của kích cầu, tuy nhiên có một điểm rất quan trọng mà ít được phân tích, đó là việc tiền ở đâu sẽ quyết định đầu tư thế nào.

    Ví dụ, khi Việt Nam thực hiện chủ trương kích cầu vào các năm 1997-1998, chúng ta dùng tiền từ nguồn đi vay nước ngoài là chính. Điều này dẫn tới việc bị áp đặt lĩnh vực đầu tư, áp đặt dự án đầu tư và áp đặt nơi giải ngân vốn kích cầu.

    Trong một số dự án giai đoạn này, chúng ta đã phải mua nguyên liệu, thuê tư vấn, chọn nhà thầu chính theo yêu cầu của phía trợ giúp vốn. Có thể cho rằng giá trị bị "thổi phồng" của giá trị dự án là không nhỏ so với việc nếu chúng ta tự đầu tư.

    Chính kiểu đầu tư không hiệu quả này là một phần nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạm phát về sau này mà chúng ta đã trải qua từ tháng 9/2007 đến tháng 9/2008.

    Cho nên, theo tôi cần cân nhắc rất kỹ cách sử dụng nguồn vốn kích cầu.

    Nền kinh tế như một "con quay" đang quay với tốc độ lớn, chỉ có thể tác động những lực rất nhỏ, từ từ và có thể là tác động nhiều lần vào đó thì mới không gây ra những "đau đớn". Ngược lại thì con quay có thể chao đảo và mất phương hướng.

    Yếu tố quan trọng lúc này là đúng lúc, đúng liều lượng và thực sự hiệu quả.

  • Vu Khoa

    17:17 (GMT+7) - Thứ Bảy, 3/1/2009

    Nhóm tác giả với cách nhìn nhận một cách khoa học đã đưa ra được những kịch bản mang tính định lượng như trên, sẽ là căn cứ để tham khảo rất tốt cho để cân nhắc việc kích cầu.

    Mặt khác, bài viết còn đưa ra được những rủi ro gặp phải khi Chính phủ sử dụng các biện pháp kích cầu nền kinh tế. Đây cũng có thể coi như một bài viết mang tính phản biện kinh tế khi cân nhắc biện pháp kích cầu.

    Ngoài ra, biện pháp kích cầu dù thế nào thì cũng phải nhìn nhận một cách rộng hơn đó là tình hình kinh tế thế giới. Việt Nam là nước mà từ mấy năm nay lấy việc xuất khẩu làm động lực để phát triển.

    Nếu nền kinh tế thế giới chưa ra khỏi chu kỳ suy thoái thì việc kích cầu bây giờ chỉ có thể là kích cầu tiêu dùng và kích cầu đầu tư đối với các dự án hạ tầng cơ sở có sử dụng hàng hoá nội địa. Nhóm tác giả cũng đã đưa ra là việc kích cầu đầu tư thì sẽ dẫn đến việc nhập khẩu máy móc thiết bị, như vây thì không thể nói là kích cầu được.

    Kích cầu chỉ có thể được khi kích thích được nhu cầu đầu tư và nhu cầu tiêu dùng đối với các hàng hoá nội địa. Nếu việc kích cầu, vô hình chung dẫn đến việc nhập các thêm các loại máy móc thiết bị thì chúng ta chưa kích được cầu mà lại làm lượng cung càng nhiều thêm!

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Tài chính

NVK

10:19 (GMT+7) - Thứ Bảy, 26/5/2012

Giải toả vốn chết ở BĐS? Tại sao? Khi mà mục đích của kinh doanh là kiếm lời? Mà muốn kiếm lời thì phải dựa...

Trong bài: Các ngân hàng đang gặp những khó khăn gì? (4 ý kiến)

pvd

09:50 (GMT+7) - Thứ Bảy, 26/5/2012

Một là: “Các loại vàng miếng bao gồm SJC và các nhãn hiệu khác đã được cấp phép sản xuất trước đây thuộc quyền sở hữu...

Trong bài: Cho 6 tháng để chuyển đổi mua bán vàng miếng (2 ý kiến)

Shani

08:42 (GMT+7) - Thứ Bảy, 26/5/2012

Chẳng hiểu sao, các khoản vay cá nhân của tôi đến giờ vẫn đang chịu lãi suất 22,3%/năm. Khiếp quá... Các DN muốn vay lại...

Trong bài: Đồng loạt giảm các lãi suất điều hành (2 ý kiến)

vinh

04:39 (GMT+7) - Thứ Bảy, 26/5/2012

Theo tôi chính phủ nên quy định sắp tới sẽ buộc nhà đầu tư cá nhân hay tổ chức khi mua bán vàng phải mua...

Trong bài: Cho 6 tháng để chuyển đổi mua bán vàng miếng (2 ý kiến)

Nguyễn Đức Thắng

22:14 (GMT+7) - Thứ Sáu, 25/5/2012

Nguyên nhân gốc rễ của việc rối loạn lãi suất những năm qua chủ yếu là do chính hệ thống ngân hàng gây ra. Điều...

Trong bài: Thống đốc Nguyễn Văn Bình: Xem xét lại lãi suất cơ bản (6 ý kiến)