VnEconomy > Chứng khoán 15:15 (GMT+7) - Thứ Ba, 30/12/2008

“Năm 2008, thị trường chứng khoán phải trả giá quá đắt!”

“Khi đứng ở thời điểm cuối năm 2007 đầu năm 2008, người ta không ngờ được thị trường lại xuống quá sâu như hiện nay”...

“Năm 2008, thị trường chứng khoán phải trả giá quá đắt!”

"Rất tiếc là hiện vẫn có những người giữ trọng trách trong doanh nghiệp, trong quản lý chưa thấy hết vai trò của thị trường. Thành kiến của họ là sự cản trở, không chỉ thiệt cho thị trường mà cho cả nền kinh tế" - Ảnh: Minh Đức.

“Khi đứng ở thời điểm cuối năm 2007 đầu năm 2008, người ta không ngờ được thị trường lại xuống quá sâu như hiện nay.

Có thể thấy cuối năm 2007 chiều hướng đã không tốt, nhưng ít ai nghĩ nó xấu đến như vậy. Sau Tết âm lịch cũng đã loáng thoáng thấy chiều hướng nó xấu rồi, nhận định có thể rõ nét hơn. Nhưng ngay cả ở thời điểm đó, người ta cũng không có ngờ”.

Trong câu chuyện cuối năm với VnEconomy, nhìn lại một năm đầy khó khăn với thị trường chứng khoán trong nước, ông Huy Nam, chuyên gia chứng khoán độc lập, đã nhận định như vậy.

“Năm 2008 phải trả nợ cho năm 2007”

Vậy theo ông, đâu là những nguyên nhân khiến thị trường có một năm xấu như vậy?

Tôi cho là có hai nguyên nhân. Một là nội tại, “tại tôi”; hai mới là tại khách quan.

Giai đoạn “tại tôi”, có nhiều nguyên nhân cụ thể. Như khi thị trường chuyển từ năm 2007 qua 2008, cuối 2007 đã có những dấu hiệu cho thấy sẽ có sự điều chỉnh; thậm chí cuối 2007 đã có những đợt điều chỉnh mạnh. Tưởng rằng sau những đợt điều chỉnh đó, khả năng nó sẽ đứng lại. Lúc đó hầu như ai cũng hy vọng, cũng như nhiều chuyên gia trong đó có tôi, nó sẽ đứng ở mức 1.000 điểm cuối 2007.

Đó là mức điểm ở thời điểm mà nền kinh tế mình đang mạnh lên, tương đối mạnh. Và đối với một nền kinh tế phát triển mạnh như vậy thì các chỉ số có thể cao hơn mức trung bình của thế giới một chút. Dựa vào một số phân tích, chính bản thân tôi cũng nghĩ như vậy. Và dự tính năm 2008 nó sẽ lên xuống với sự duy trì ở mức tương đối lạc quan.

Nhưng tình hình xấu đi kể từ sau Tết Âm lịch. Nền kinh tế rơi vào lạm phát và chống lạm phát. Những biện pháp mạnh chống lạm phát nó làm ảnh hưởng tới thị trường. Đó là những giải pháp về tiền tệ, thắt chặt quá mạnh. Anh mạnh khỏe, anh ốm cũng phải chịu một liều thuốc mạnh và suy yếu chung.

Thứ hai là các biện pháp về tài khóa, nó cũng làm cho một số hoạt động liên quan đến chứng khoán giảm.

Sau khi thị trường chứng khoán giảm khá sâu, trước tiên là những tập đoàn, công ty nhà nước có tham gia thị trường bắt đầu rút vốn. Thị trường bị hẫng một lượng rất lớn. Điều đó ít ai dự liệu được trong năm 2007 để bước vào năm 2008. Kế tiếp là các tổ chức đầu tư, các doanh nghiệp không phải là những tập đoàn trên, cũng bắt đầu tính toán, cấu trúc lại và rút bớt nguồn tiền ra khỏi thị trường, do giá chứng khoán đi xuống mạnh, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của họ. Lực lượng rút tập trung đầu năm 2008 làm cho thị trường suy giảm mạnh, kế sau chuyện thắt chặt tiền tệ.

Đó là những vấn đề có tính chất phản ứng của thị trường. Còn nếu xét về những yếu tố mang tính kỹ thuật thì có thể nói thế này, thị trường của năm 2007 được định giá quá cao, nó thể hiện qua hai mặt.

Thứ nhất, đối với các doanh nghiệp cổ phần hóa hoặc niêm yết trên sàn, họ đều đưa ra những mức giá quá cao. Thứ hai, ở phía nhà đầu tư, người ta cũng kỳ vọng quá cao. Hai yếu tố này gặp nhau và đẩy thị trường lên khá cao. Và cuối năm 2007, thị trường đã nhận ra điều đó và có phản ứng.

Ở phía nhà đầu tư rõ ràng là có phản ứng, người ta không chịu mua cao nữa, trong khi cái quán tính hay sự chuẩn bị của rất nhiều công ty để phát hành tăng vốn hay cổ phần hóa thì vẫn tiếp tục triển khai, phát hành hoặc niêm yết giá cao. Khi mà thị trường không chấp nhận nữa mà anh vẫn tiếp tục đẩy ra giá cao như thế thì thị trường buộc phải kéo xuống. Chính lý do đó đã làm cho chỉ số giảm mạnh.

Ngoài ra, một số doanh nghiệp vẫn tiếp tục tranh thủ, vì người ta tiếc, đưa ra thị trường với giá cao để gọi vốn. Đáng chú ý là càng về sau, như quý 4/2007, là những doanh nghiệp lớn như Vietcombank, Bảo Việt… nên mức độ chi phối lớn, kéo thị trường xuống rất nhanh.

Có thể kết luận là năm 2008 phải trả nợ cho năm 2007, xét về vấn đề định giá cao. Đó là vấn đề mặc nhiên của thị trường, nhưng thêm vào đó nó phải nhận thêm cú bồi của các chính sách tiền tệ và tài khóa.

Còn những nguyên nhân khách quan thì sao, thưa ông?

Khi thị trường xuống sâu, nhiều người vẫn chờ đợi cơ hội, tính toán các kế hoạch đầu tư. Ví như hồi đầu tháng 3 JP Morgan tuyên bố sẽ đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam khoảng 1 tỷ USD…

Và khi nó xuống dưới 500 điểm, biên độ bắt đầu bị siết lại xuống +/-1%. Thị trường lập tức phản ứng theo hướng tiêu cực. Thời điểm đó tôi cũng đã có nhận định rằng giải pháp đó không phù hợp, nó ảnh hưởng nặng tới thị trường, gần như thanh khoản mất. Nhà đầu tư lớn người ta không tham gia, bởi tham gia vào bị kẹt thì cửa thoát quá hẹp. Nó chặn luôn các dự định đầu tư của nhiều tổ chức khi thấy thị trường đã giảm xuống hấp dẫn.

Lúc đó tôi cũng có khuyến nghị là nên bỏ biện pháp siết biên độ vì thanh khoản kém, chứng khoán xuống những mức có thể xem là hấp dẫn rồi. Và khi biên độ được giãn ra từ từ thì thị trường bật lên khá mạnh. Tới cuối tháng 8, nó từ 366 điểm lên gần 570 điểm.

Như từ cuối tháng 8 và sang tháng 9 lúc đó mới tại khách quan. Thị trường mình vừa mới được hồi phục, một cơ thể vừa ốm dậy, chưa khỏe hẳn thì bị cơn bão khủng hoảng tài chính ập tới. Thị trường chứng khoán thế giới bắt đầu suy giảm mạnh thì Việt Nam không tránh khỏi sự ảnh hưởng, cho tới giờ phút này.

Đó là cú đánh bồi làm thị trường xuống sâu, có lúc xuống còn khoảng 286 điểm và giờ đang lừng khừng trên dưới 300.

Tóm lại, năm 2008, thị trường chứng khoán Việt Nam đã phải trả giá quá đắt. Một là nguyên nhân chủ quan đi đầu, hai là nguyên nhân khách quan. Nếu không có nguyên nhân chủ quan thì nó không nặng thế. Giảm khoảng 70%, quá nặng.

Ông đánh giá thế nào về những phản ứng của cơ quan quản lý trong năm 2008, như thu hẹp biên độ, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) vào cuộc?

Theo tôi, nhà điều hành thị trường cần tính toán trước các kịch bản, tránh những giải pháp quá tình thế như thời gian qua. Những giải pháp quá tình thế đối với một thị trường nó quá ư nhạy cảm và chuyên biệt thế này đôi khi không giải quyết được vấn đề, đôi khi nó làm cho vấn đề sâu sắc hơn. Ví dụ như việc giảm biên độ như tôi đã đề cập ở trên, có thể đó là điều cần rút kinh nghiệm.

Rồi câu chuyện SCIC can thiệp. Lúc đó tôi cho rằng đó cũng không phải là giải pháp. Tại vì SCIC không phải là một tổ chức chuyên ngành, đặc biệt là xét về đầu tư chứng khoán. Họ là tổ chức quản lý tiền, tài sản của nhà nước. Tất nhiên là họ có chuyên môn về thị trường chứng khoán nhưng kinh nghiệm hạn chế.

Cái thứ hai, anh có tiền chưa chắc đã giải quyết được. SCIC dù sao cũng là một doanh nghiệp, không phải “cây cao bóng cả” để đi bình ổn thị trường. Như đến thời điểm này thì cái quan trọng nhất của họ vẫn là bảo toàn vốn. Họ cũng phải đặt mục tiêu kinh doanh hiệu quả, tối thiểu là phải bảo toàn vốn. Trong kinh tế, bảo toàn không có nghĩa anh giữ 1 đồng đầu năm và cuối năm vẫn là 1 đồng, mà anh phải tính toán để làm sao nó phải làm ra bao nhiêu.

Và khi thủy triều xuống…

Về “quán tính” phát hành mà ông nói đến, theo ông nó có ảnh hưởng đến chất lượng hàng của thị trường không?

Đúng là ngoài quán tính đó cần phải nói thêm về chất lượng. Nó liên quan đến nhiều yếu tố, trong đó có việc đánh giá mình quá cao trong chiều hướng thị trường đang lạc quan, doanh nghiệp đặt ra những kết quả huy động cao và bằng mọi cách để thực hiện được.

Trong năm 2007, nhiều doanh nghiệp đã đạt được điều đó. Cho tới năm 2008, về chất lượng, người ta nói một câu rất đúng là khi thủy triều xuống thì sẽ biết ai tắm mặc đồ như thế nào.

Người ta nói nhiều về Bông Bạch Tuyết, nhưng đó cũng chỉ là một trường hợp thôi. Vì nó quá nặng. Nhưng từ đó cũng có thể đánh giá một vấn đề là sự quan tâm đến chất lượng hàng hóa, đến chất lượng thực sự của hàng hóa thời gian thị trường lạc quan dường như đã bị xem nhẹ, cả từ ba phía.

Một là nhiều nhà đầu tư chưa thực sự quan tâm, đó là lỗi mà tôi cho rằng phải đề cập đến một cách công bằng; nhiều người thấy người ta mua cũng mua theo. Hai là bản thân doanh nghiệp cũng tranh thủ có một lượng huy động cao, bằng mọi cách để đưa giá lên mà chưa đề cao sự xứng đáng hay không với giá trị thực sự của nó. Đó là trách nhiệm từ các doanh nghiệp phát hành. Và các bên khác, như các công ty chứng khoán, tư vấn cũng hầu như xem nhẹ nghiệp vụ đo lường giá trị hàng hóa. Bên cạnh đó là nhiều đơn vị cung cấp những thông tin chính xác, khách quan nhất, ví dụ như các công ty kiểm toán, cũng xem nhẹ vấn đề chất lượng. Bằng chứng là trường hợp của Bông Bạch Tuyết.

Những yếu tố đó đặt ra nỗi lo của thị trường là giá chứng khoán phát hành không phản ánh đúng giá trị đáng có. Năm 2008 cho thấy đến một thời điểm nào đó người ta sẽ quay lại xem giá trị đó một cách thận trọng.

Vẫn phải hỏi một câu cơ bản và đã được đề cập nhiều, theo ông phải làm sao để khắc phục những vấn đề trên, đặc biệt là ở khía cạnh bảo vệ nhà đầu tư?

Tôi tiếc là thời gian qua, khi chủ quan làm cho thị trường sụt giảm, đến khách quan làm cho thị trường lảo đảo, thì mình lại dừng lại nhiều dự tính, hay là những cải thiện hơn về chất lượng thị trường, hỗ trợ thị trường.

Có thể nói nhiều nghiệp vụ có tính chất chuyên ngành, chuyên nghiệp, mức độ cải thiện dường như đứng lại, thậm chí có nhiều tuyên bố của những người nghiên cứu chưa tới, tìm hiểu chưa sâu mà đã lo ngại, dừng lại trong khí đáng lẽ nó phải tiếp tục triển khai để làm cho thị trường tốt hơn.

Tôi lấy ví dụ như sau Chỉ thị 03, tiền vào thị trường bị thắt chặt nhưng không có một giải pháp nào để thay thế cái đó, trong khi đó ở thế giới người ta có, như Margin Trading (giao dịch cho phép nhà đầu tư mượn tiền trước của nhà môi giới - PV). Đó là một trong những công cụ rất tốt, nghiệp vụ tốt hỗ trợ cho thị trường và mang tính chuyên nghiệp cao. Mình cũng có dự tính đó rồi nhưng thấy thị trường trong và ngoài nước như thế nên mới lo và không mạnh dạn làm. Hay xa hơn là các công cụ phái sinh Options, Futures… trong chứng khoán.

Nhưng khi thấy thị trường thế giới như thế, có những người đưa ra những tuyên bố gây lo âu, trong khi cần phải nghiên cứu sâu những công cụ đó để có thể hỗ trợ thị trường. Bản thân con dao nó không có lỗi, khi mình không nghiên cứu kỹ hay hiểu nó thì công dụng của nó mình không dám dùng, thị trường theo đó vẫn cứ đơn điệu, 8 năm rồi nó vẫn cứ đơn điệu, mua rồi giữ đó chờ mai mốt bán, không có công cụ nào để bảo vệ nhà đầu tư hay để họ tự bảo vệ mình; hay các tổ chức có thể sử dụng để có thể bảo vệ thành quả đầu tư của họ, hay ngăn chặn lỗ…

Vẫn còn những thành kiến cản trở

Nhìn về năm 2009, ông có nhận định gì không?

Đoán thị trường theo một tình trạng bình thường thì không ai dám, có thể nó chỉ đúng trong ngắn hạn, dài hạn rất khó, do có nhiều thay đổi mình không thể lường trước được.

Với những yếu tố có thể nhìn được bây giờ thì chỉ có thể nói một cách cổ điển thôi: không thể có diễn biến chỉ một chiều, tới một mức độ nào đó nền kinh tế tự bản thân nó cũng phải tự điều chỉnh.

Những diễn biến của thị trường, theo tôi, tới giờ phút này cũng là quá đủ rồi. Trong chừng mực nào đó, mình thấy diễn biến của các chỉ số, sự tập trung phân tích của nhiều giới để tính toán lại cũng cho mình nhận định là có thể mức hiện nay là sự trả giá vừa đủ rồi.

Có một điều mà tôi có thể nói được là, tuy nó xấu trong năm 2008, nhưng với năm 2009 thì nó là một mức có thể kỳ vọng được. Đây là một thử thách nói chung, nhiều ý kiến cũng đã đề cập, nếu mình co cụm và thận trọng quá mình chịu thiệt, vì thấy nó bật thật sự rồi mới tham gia thì có thể muộn mất rồi. Năm 2008 đã kéo lùi hai năm, biết đâu đây lại là mức khởi đầu trở lại.

Đó là tôi nói mang tính quan điểm nhận định cá nhân của mình thôi.

Riêng có một cái, tôi cho rằng thị trường cần có những công cụ, nghiệp vụ như đã nói để có sự đa dạng, sinh động, giảm bớt sự đơn điệu; cũng như việc xây dựng hành lang, rõ ràng hơn. Nhà đầu tư có thể mạo hiểm, thậm chí biết mạo hiểm nhưng họ mạo hiểm trên cơ sở tính toán chứ không phải mù mù không biết mai mốt nó như thế nào.

Là một người nghiên cứu về thị trường chứng khoán, ông nói gì về vai trò của nó, cũng như những gì đã thể hiện trong năm 2008?

Có một điều rất quan trọng là phải nhìn lại là sự đóng góp của thị trường chứng khoán và vai trò của nhà đầu tư.

Hiện nay rất tiếc là rất nhiều người giữ trọng trách trong doanh nghiệp cũng như quản lý nói chung vẫn không thấy, hoặc thấy chưa hết, cho nên nhiều người vẫn có những nhận định rằng thị trường chứng khoán, giao dịch mua đi bán lại đâu có mang lại ích lợi gì cho xã hội đâu mà quan tâm. Đáng tiếc là hiện nay vẫn có những người như thế! Họ không hiểu! Tôi rất thất vọng!

Thị trường chứng khoán đang bị dị ứng ở những người như thế, thậm chí cả ở thị trường bất động sản. Đó là những cái nhìn hẹp, quá hẹp! Nó cản trở sự phát triển của thị trường. Thành kiến của họ ảnh hưởng tới thị trường. Tôi cho như thế thì thiệt cho nền kinh tế thôi chứ không phải thiệt cho một số người mà họ cho là giàu. Thậm chí cá nhân tôi cho rằng họ giàu được từ chứng khoán một cách chính đáng thì mình vỗ tay ủng hộ.

Quan điểm của tôi, thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán là hai thị trường nền. Chỉ khi tôi nói không theo kinh tế thị trường nữa thì thôi. Tôi nhớ cách đây dăm ba năm, đi tìm vốn 10 tỷ bạc thôi, lấy đâu? Nhờ thị trường chứng khoán. Thậm chí nhiều nhà máy lớn hàng trăm tỷ đồng huy động được.

Nhiều ý kiến cho rằng đầu tư chứng khoán là một nghề đòi hỏi sự nghiêm túc về trình độ, công sức cũng như tâm huyết. Năm 2008 còn cho thấy đó là một nghề khắc nghiệt. Ý kiến của ông thế nào?

Đúng, đó là một nghề. Đó là một ý thức quan trọng. Tôi có cùng quan điểm đó.
  Bình luận (12)
Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết. Đang hiển thị 10/12 bình luận.
  • Cũng không phải là không có người ngờ vực và tin chắc thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ đi xuống.

    Như tôi, một người hoạt động trong lĩnh vực khoa học tự nhiên cũng đoán được VN- index sẽ xuống < 400 điểm (và thực tế còn tệ hơn thế) trong cuối năm 2008.

    Vì sao vậy? Vì chẳng có loại kinh doanh thực thụ nào mà cứ lên như diều gặp gió như thế. Lãi suất của đầu tư chứng khoán vượt quá xa so với lãi suất ngân hàng, trong lúc đó lãi suất ngân hàng ở Việt nam vốn dĩ đã vượt quá xa so thế giới (khoảng 5% năm).

    Đầu tư chứng khoán như tôi hiểu là ta góp vốn cho các doanh nghiệp để được ăn chia. Ta chỉ góp vốn cho các doanh nghiệp được tin là làm ăn nghiêm túc, có lãi. Nhưng để hiểu được biết được doanh nghiệp nào là nghiêm túc, có lãi thực sự là vấn đề nan giải, bởi các loại thông tin của chúng ta chưa ở dạng "đúng luật". Và nghiễm nhiên, nếu như thế, thì việc đầu tư sẽ khó, thị trường sẽ ở dạng ảo, bị cuốn theo các lời đồn thổi. Đó là cái đáng lo nhất.

    Thông tin cần được chuẩn hoá, luật hoá, phải tin được, nói sai sẽ bị phạt ... chắc chắn sẽ là một yêu cầu cấp thiết của Việt Nam trong giai đoạn toàn cầu hoá. Vấn đề này chỉ có Chính phủ mới giải quyết được.

    17:00 (GMT+7) - Thứ Sáu, 2/1/2009 Trả lời Thích
  • Không một sự vật hiện tượng nào lại không tồn tại hai mặt đối lập. Thị trường chứng khoán cũng không ngọai lệ. Nó có mặt tốt, mặt xấu, vấn đề là các nhà quản lý bằng các công cụ chính sách, luật lệ đặt ra nhằm phát huy cao độ mặt tốt của nó là kênh huy động vốn cho nền kinh tế.

    Người tham gia dù dưới mục đích đầu tư dài hạn hay "lướt sóng" đếu phải chấp nhận rủi ro. Vấn đề là hãy trang bị kiến thức để gia nhập cuộc chơi. Tôi kêu gọi những người có kiến thức đừng lôi kéo người kém hiểu biết vào cuộc chơi. Đừng nghĩ rằng vì thị trường chứng khoán đã có từ trăm năm nay trên thế giới nên chỉ có phát triển mà không có sụp đổ. Mọi vật không có gì là bất biến.

    14:13 (GMT+7) - Thứ Sáu, 2/1/2009 Trả lời Thích
  • Đọc bài phân tích của chuyên gia Huy Nam làm cho những người đầu tư vào chứng khoán chúng tôi cảm thấy được an ủi phần nào. Một năm nay chúng tôi chỉ toàn là thua với thua.

    Trong khi đó các chính sách hỗ trợ đối với người kinh doanh chứng khoán không nhiều. Hy vọng năm 2009, chúng tôi không phải trả giá đắt như năm vừa qua. Xin gửi lời cảm ơn đến chuyên gia Huy Nam .

    10:10 (GMT+7) - Thứ Sáu, 2/1/2009 Trả lời Thích
  • Chuyên gia Huy Nam chắc cũng đã trả một giá khá cao cho thị trường 2008 nên có phát biểu khá đúng tâm trạng của các nhà đầu tư!

    17:49 (GMT+7) - Thứ Tư, 31/12/2008 Trả lời Thích
  • Bài viết của anh Huy Nam có những phân tích sâu sắc về thị trường chúng khoáng Vieetj Nam. Nhưng theo tôi chúng ta đang sống trong thế giới ảo, nội gián, làm giá kèm theo đó là sự minh bạch tài chính của các doanh nghiệp không rõ ràng và không ai kiểm soát, nếu có kiểm tra thì đó có phải là sự thật?

    Bên cạnh đó Nhà nước lại đưa ra những chính sách trói buộc để rồi tự tháo gỡ. Kết quả tất yếu là thị trường chứng khoán như thế, nhất là khi bị cơn bão tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu xô ngã.

    Chưa ai dám chắc số dư nợ bất động sản xấu của các ngân hàng thực tế là bao nhiêu? Rủi ro khi đầu tư chứng khoán vào lĩnh vực này không lường được. Qúi I.2009 là thời kỳ đáo hạn , lúc đó mới biết doanh nghiệp nào bị phá sản? Như vậy đầu tư chứng khoán lúc này có nhiều rủi ro không?

    16:17 (GMT+7) - Thứ Tư, 31/12/2008 Trả lời Thích 1 người thích bình luận này
  • Trong các loại thị trường thì thị trường chứng khoán là kênh huy động vốn nhàn rỗi hiệu quả và nhanh nhất để đầu tư phát triển sản xuất. Thị trường chứng khoán đã có hàng trăm năm nay và hầu như các nước trên thế giới đều không nghi ngờ về vai trò to lớn, tính hiệu quả của nó đối với sự phát triển kinh tế của đất nước. Song nó cũng giống bao thị trường khác là nó cần một yếu cơ bản nhất để tồn tại và phát triển đó chính là lòng tin.

    Mặc dù bài viết của tác giả đã phản ánh khá sâu sắc nguyên nhân "khách quan, chủ quan" dẫn đến sự suy giảm của thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm qua, nhưng không hiểu sao tác giả lại quên đi một nguyên nhân quan trọng, đó là tính minh bạch của các doanh nghiệp niêm yết và trách nhiệm, uy tín của cơ quan quản lý.

    Sự không minh bạch, không uy tín và vô trách nhiệm dựa trên lòng tin của nhà đầu tư đã đẩy bản chất thuần tuý tốt đẹp của thị trường chứng khoán thành canh bạc cho những người lướt sóng.

    Đùng nói quá nhiều và quá quan trọng vào chỉ số Index, vì chỉ số Index có tăng thì vẫn có vô số các cổ phiếu giảm giá. Hãy nói thật nhiều về các phương án kinh doanh hiệu quả mang về lợi nhuận cho nhà đầu tư của từng các nhân doanh nghiệp niêm yết một cách trung thực và minh bạch. Hãy đưa thị trường chứng khoán về đúng bản chất tốt đẹp vốn có của nó đó chính là huy động vốn để phát triẽn sản xuất kinh doanh hiệu quả và định hướng đầu tư dài hạn trong đầu tư chứng khoán.

    Khi đưa ra nhận định phân tích một vấn đề cần phải công tâm và công bằng, phải phân tích tất cả các mặt của vấn đề có liên quan.

    14:57 (GMT+7) - Thứ Tư, 31/12/2008 Trả lời Thích
  • Bài viết thật hay. Thiết nghĩ trong giai đoạn hiện nay, chúng ta rất cần những ý kiến và suy nghĩ khách quan về chứng khoán và thị trường chứng khoán như anh Huy Nam. Lời khuyên không bao giờ cũ là "biết mình là ai và mình thất sự muốn gì?"

    11:49 (GMT+7) - Thứ Tư, 31/12/2008 Trả lời Thích
  • Bài viết đã phản ánh khá sâu sắc nguyên nhân suy giảm thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm qua, tuy nhiên không hiểu sao lại quên đi một nguyên nhân quan trọng, đó là tính minh bạch của doanh nghiệp.

    Các công ty niêm yết chưa thể hiện được sự minh bạch cần có cũng như các biện pháp quản lý của cơ quan chủ quản không thực sự có sức mạnh và uy tín.

    Nếu không giải quyết được vấn đề này thì thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ vẫn chưa có sức hút thực sự đối với nhà đầu tư lớn.

    10:41 (GMT+7) - Thứ Tư, 31/12/2008 Trả lời Thích
  • Những vấn đề về thị trường chứng khoán ở tầm quản lý đã được chia sẻ một cách sâu sắc.

    Ở các loại thị trường thì có lẽ thị trường chứng khoán là nơi chia sẻ và huy động vốn nhàn rỗi hiệu quả và nhanh nhất.

    Chúng ta cần có những động thái và công cụ quản lý tốt để huy động tối đa sức dân cũng như các nguồn lực kinh tế để " "nhân dân và Nhà nước cùng làm kinh tế" ở mọi phương diện, mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề và dưới mọi hình thức.

    Vốn nhàn rỗi trong dân thì nhiều (so với GDP quốc gia) đầu tư trong dân thì lan man, có thị trường chứng khoán cũng là một công cụ giúp Nhà nước cơ cấu đầu tư trong dân hiệu quả hơn. Đơn giản là cả dân và doanh nghiệp có nhiều sự lựa chọn gửi vốn và huy động vốn.

    Thị trường chứng khoán ra đời và tồn tại cho đến ngày hôm nay, đã chứng thực rằng hiệu quả như thế nào đối với hình thái nền kinh tế hiện tại.

    Kết lại, chưa có thì làm cho có. Có rồi thì sử dụng cho hiệu quả.

    18:27 (GMT+7) - Thứ Ba, 30/12/2008 Trả lời Thích
  • Tôi rất nhất trí với phân tích của ông Huy Nam. Thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2008 có thể nói là suy sụp vì tác động kép của yếu tố chủ quan và khách quan, trong đó chủ quan là chính.

    Nếu trong năm tới không có sự nhìn nhận lại một cách thấu đáo của những người có trách nhiệm về tầm quan trọng của thị trường chứng khoán đối với sự phát triển kinh tế thị trường ở nước ta, để từ đó có những quyết sách, biện pháp mạnh dạn, hợp lý thì thị trường khó có thể hồi phục.

    Ta không chấp nhận định giá cổ phiếu cao chóng mặt, không đúng giá trị thật như trong năm 2007. Nhưng đồng thời chúng ta càng không thể chấp nhận khi IPO những doanh nghiệp lớn với giá " bèo" như hiện nay. Không biết các nhà quản lý có thấy Nhà nước mất đi bao nhiêu tài sản không?

    17:42 (GMT+7) - Thứ Ba, 30/12/2008 Trả lời Thích
Xem tiếp bình luận
Bình luận của bạn
Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu.
Gõ Telex Gõ VNI
Chọn hình đại diện cho bình luận của bạn?