VnEconomy > Tài chính 23:40 (GMT+7) - Thứ Bảy, 17/1/2009

Nhà nước bù chênh lệch lãi suất: Nên hay không?

Ở các nước, việc hạ lãi suất doanh nghiệp vay vốn thường được thực hiện qua chính sách tiền tệ...

Nhà nước bù chênh lệch lãi suất: Nên hay không?

Nếu ngân hàng thương mại cần huy động vốn để cho vay thì có thể chiết khấu các hợp đồng cho vay với ngân hàng trung ương hoặc trực tiếp vay vốn từ ngân hàng trung ương - Ảnh: Việt Tuấn.

Trong phương án sử dụng khoản kích cầu đầu tư 17.000 tỷ đồng trong năm 2009 vừa được thông qua, Chính phủ dự định sẽ dùng phần lớn số tiền này để hỗ trợ 4% lãi suất vay vốn cho một số đối tượng doanh nghiệp, với mục đích “duy trì sản xuất, kinh doanh, đẩy mạnh xuất khẩu, bảo đảm việc làm”.

Việc hạ thấp lãi suất vay vốn để doanh nghiệp duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh là cần thiết, nhưng thực hiện mục đích này bằng phương thức dùng tiền ngân sách bù chênh lệch giữa lãi suất ngân hàng và lãi suất doanh nghiệp vay vốn có phải là một giải pháp tốt nhất hay không thì theo người viết vẫn còn cần cân nhắc.

Ở các nước, việc hạ lãi suất doanh nghiệp vay vốn thường được thực hiện qua chính sách tiền tệ, ít thấy có nước nào áp dụng phương thức nhà nước bù chênh lệch lãi suất.

Từ Mỹ đến Nhật Bản và châu Âu, để hỗ trợ doanh nghiệp được vay vốn với lãi suất thấp, ngân hàng trung ương thường hạ lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn cho ngân hàng thương mại, tạo điều kiện để ngân hàng thương mại cho doanh nghiệp vay với lãi suất thấp.

Nếu ngân hàng thương mại cần huy động vốn để cho vay thì có thể chiết khấu các hợp đồng cho vay với ngân hàng trung ương hoặc trực tiếp vay vốn từ ngân hàng trung ương.

Ngân hàng trung ương có đặc điểm là một định chế tài chính công quyền, được luật pháp ủy thác quyền phát hành tiền tệ, tín dụng, mà không phải đi huy động vốn từ trong nhân dân hay vay vốn từ bất cứ nguồn nào. Ngân hàng trung ương có quyền phát hành tiền nên không phải trả lãi suất để huy động vốn.

Tại Mỹ, lãi suất ngân hàng trung ương cấp vốn cho ngân hàng thương mại đã được hạ xuống còn 0% đến 0,25%. Tại Nhật, lãi suất ngân hàng trung ương chiết khấu và tái cấp vốn cho ngân hàng thương mại được hạ xuống còn 0,3%. Dựa trên lãi suất được ngân hàng trung ương cấp vốn từ 0% đến 0,3%, ngân hàng thương mại có thể cho doanh nghiệp vay từ 3-4% mà không cần phải có sự can thiệp của chính phủ hay hỗ trợ từ ngân sách.

Cần phân biệt chính sách tài khóa với chính sách tiền tệ. Điều tiết mức lãi suất ngân hàng là phạm vi trách nhiệm của chính sách tiền tệ, không phải là phạm vi can thiệp của chính phủ qua chính sách tài khóa.

Điều phối lãi suất, dung lượng và lưu lượng tiền tệ để hỗ trợ cho nền kinh tế phát triển bền vững và ổn định, và đồng thời kiềm chế không để xảy ra lạm phát hay thiểu phát là trách nhiệm của chính sách tiền tệ mà cơ quan quản lí là ngân hàng trung ương. 

Trở lại với trường hợp của Việt Nam, nếu chính sách của lãnh đạo Đảng và Nhà nước là cần hạ lãi suất cho doanh nghiệp vay vốn, người viết cho rằng phương thức hợp lý và hữu hiệu nhất là điều chỉnh lãi suất ngân hàng trung ương - ở đây là Ngân hàng Nhà nước - chiết khấu và tái cấp vốn cho hệ thống ngân hàng thương mại.

Nếu 4-5% là định mức lãi suất cần thiết để doanh nghiệp có điều kiện duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh thì ngân hàng trung ương có thể hạ lãi suất chiết khấu và tái cấp vốn xuống mức từ 1 đến 2%. Không cần Chính phủ phải dùng ngân sách để hỗ trợ lãi suất qua phương thức “bù chênh lệch”.

Ngoài việc điều tiết lãi suất qua chính sách tiền tệ do ngân hàng trung ương quản lý là hợp lý, việc triển khai cũng sẽ bảo đảm tính chất khách quan, nhanh gọn, và có thể tránh được những nguy cơ tiêu cực liên quan đến việc các cơ quan hành chính giám định và giải quyết các hồ sơ “xin” được hỗ trợ bù chênh lệch lãi suất.

Hơn nữa, trong khi chính sách tiền tệ hoàn toàn có thể giải quyết được việc cung ứng vốn cho doanh nghiệp phát triển mà nhà nước không phải tốn kém chi phí “bù chênh lệch lãi suất”, việc áp dụng phương thức lấy tiền ngân sách để “hỗ trợ doanh nghiệp” trả lãi cho ngân hàng thương mại có thể là một sự lãng phí, trong bối cảnh ngân sách còn đang thâm hụt.
  Bình luận (15)
Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết. Đang hiển thị 10/15 bình luận.
  • Dùng biện pháp này hay biện pháp kia không phụ thuộc vào đã có ai dùng nó hay chưa (tất nhiên chưa dùng bao giờ thì rủi ro lớn hơn), mà phụ thuộc vào việc triển khai nó.

    Sẽ bù như thế nào, bù cho đối tượng nào, kỳ hạn nào, chi tiết thực hiện như thế nào... Cần phải có những phân tích kinh tế hết sức rõ ràng trước khi thực hiện.

    Nhưng có lẽ cũng chỉ nên dùng biện pháp mới nếu biện pháp cũ, biện pháp phổ thông được chứng minh là không còn tác dụng, mà theo tôi thì hiện trạng chưa đến nỗi phải làm như vậy.

    17:25 (GMT+7) - Thứ Năm, 22/1/2009 Trả lời Thích
  • Tôi đã từng có suy nghĩ hỗ trợ lãi suất là lãng phí, nhưng không theo cách nghĩ của tác giả là "không có nước nào làm thì mình không nên làm".

    Việc hỗ trợ lãi suất có thời hạn, vậy nó là bao lâu, 1 năm, 2 năm? Chính sách kích cầu sẽ thành công khi doanh nghiêp vượt qua khó khăn và tăng sản lượng sản xuất. Nhưng trong tình hình hiện nay khi nền kinh tế toàn cầu sụt giảm trầm trọng thì Việt Nam cũng không thể tránh khỏi sự suy giảm về lượng cầu.

    Có thể nói, nếu không tăng trưởng trong năm 2009 thì số tiền hỗ trợ 4% lãi suất sẽ tan biến mất, hoặc chỉ có tác dụng làm đẹp bảng báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

    Khi kích cầu trong thời kỳ khủng hoảng là chấp nhận hiện quả không thể cao được. Nếu nói về sự lãng phí thì vô cùng, tuy quan điểm có người nói đó là lãng phí, có người nghĩ là không.

    Ai cũng biết khi suy thoái đang xảy ra, một đồng vốn để kích thích sản xuất kinh doanh nhiều khi không đem lại đồng lời nào thậm chí mất cả vốn. Nhưng tại sao hầu như toàn bộ tất cả các quốc gia trên thế giới phải bơm tiền vào nền kinh tế để chống suy thoái. Vì suy thoái thì an sinh xã hội sẽ bị ảnh hưởng thất nghiệp tràn lan, dân đói nghèo. Vậy để tránh cho cả triệu người mất nhà cưa công ăn việc làm thì việc hỗ trợ này có phải là lãng phí?

    Tôi thiết nghĩ mỗi doanh nghiệp khi nhận được đồng vốn hỗ trợ của Chính phủ phải biết trân trọng và làm thế đạt được hiệu quả cao nhất hiểu được ý nghĩa của đồng vốn mình nhận.

    Tiền này không phải của Chính phủ, mà của cả triệu đồng bào trên khắp đất nước Việt Nam và cả nước ngòai. Khủng hoảng xảy ra, "người nghèo đang cứu người giàu", xin đừng quên điều này.

    14:16 (GMT+7) - Thứ Năm, 22/1/2009 Trả lời Thích
  • Tôi nghĩ việc Chính phủ bù chênh lệch lãi suất là có lý do, một chính sách đưa ra không chỉ là quan điểm của một hai người, và không phải là những suy nghĩ bất chợt mà đã phải có sự cân nhắc, tính toán kỹ càng.

    Tác giả cũng không nên cứng nhắc so sánh chính sách của nước mình với nước khác, vì mỗi nước có những điều kiện và hoàn cảnh không giống nhau.

    Tôi rất đồng tình với tác giả về sự phân biệt rạch ròi giữa chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ. Nhưng tôi không nghĩ sự hỗ trợ doanh nghiệp là đồng nghĩa với việc can thiệp vào mảng lãi suất của Ngân hàng Nhà nước. Số tiền này là để hỗ trợ cho doanh nghiệp - nhân tố đảm bảo cho sự phát triển kinh tế của nước nhà - chứ không phải là tiền hỗ trợ cho nhân dân sử dụng vào tiêu dùng cá nhân. Còn nếu xem xét nên chăng hạ lãi suất hay không thì cũng phải cân nhắc xem mình còn muốn lạm phát của mình đến mức nào nữa khi mà phải mất rất nhiều Chính Phủ ta mới kiềm chế được lạm phát giai đoạn giữa năm 2008.

    Quan trọng là doanh nghiệp phải nỗ lực cải thiện, nâng cao năng lực sản xuất chứ sự giúp đỡ của nhà nước cũng chỉ là một phần nào đó mà thôi.

    08:57 (GMT+7) - Thứ Ba, 20/1/2009 Trả lời Thích
  • Theo ý kiến của tôi, chính sách kích cầu do Chính phủ Việt Nam ban hành là có sự tham khảo ý kiến của rất nhiều chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực kinh tế.

    Do đó, việc "bù lãi suất" cho vay doanh nghiệp là có mục đích riêng của chính phủ, và điều đó đã được cân nhắc kĩ càng so với hàng chục chính sách kích cầu khác được đưa ra thảo luận.

    Theo quan điểm của tôi, việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện nay hạ lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn xuống còn 1-2% để mở rộng cho vay thông qua việc phát hành tiền như ý kiến của tác giả là KHÔNG nên.

    Lý do :

    - Thứ nhất, lượng tiền mặt mà Ngân hàng Nhà nước cung ứng cho nền kinh tế trong nhiều năm vừa qua tăng trưởng rất cao. Nếu so sánh với các nước trong khu vực thì Việt Nam là nước có tốc độ tăng cung tiền cao nhất, trong khi % tăng GDP lại không tương xứng.

    Đó là lý do tại sao đầu năm 2008, lạm phát ở Việt Nam cao hơn nhiều so với nhiều quốc gia trên thế giới. Mặt khác, tuy hiện Việt Nam đang giai đoạn giảm phát, nhưng thực ra giá cả các mặt hàng thiết yếu như lương thực thực phẩm, thuốc men,... (quả thực tôi vẫn chưa thấy mặt hàng nào trong số mặt hàng trên giảm giá, trái lại còn tăng cao hơn tháng trước) vẫn cao hơn nhiều so với cùng thời điểm năm 2007.

    Do đó, việc tăng cung tiền quá mức thông qua lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn còn 1-2% là nguy cơ làm lạm phát bùng phát trở lại.

    - Thứ hai, lãi suất chiết khấu và lãi tái cấp vốn phải đi cùng với lãi suất cơ bản, nghĩa là lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu từ 1-2% từ lãi suất cơ bản sẽ tương ứng như vậy. Đây là việc không tưởng, vì lãi suất cơ bản mà từ 1-2% thì tức là lãi suất trần sẽ là 1.5%-3% và lãi suất sàn là 0.5%-1%. Điều này có thành hiện thực được không??

    - Thứ ba, bất kì chính sách kinh tế nào cũng có mặt lợi và mặt hại. Do đó, chúng ta chỉ có thể đòi hỏi chính sách đó ở mức hợp lý nhất có thể, không nào có 1 chính sách nào là vẹn toàn cả.

    - Thứ tư, mỗi nước mỗi đặc điểm riêng về nên kinh tế. Không nên cứng nhắc áp dụng lại các chính sách kích cầu của các nước phát triển như Mĩ, châu Âu, Nhật,...

    23:57 (GMT+7) - Thứ Hai, 19/1/2009 Trả lời Thích
  • Sử dụng ngân sách để bù lãi suất cho doanh nghiệp, có lẽ chính phủ muốn kết hợp ưu điểm của cả chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ.

    Nếu sử dụng chính sách tài khóa để kích cầu, tức là vay tiền thông qua việc phát hành trái phiếu chính phủ, thì sẽ tạo sức ép làm tăng lãi suất, dẫn đến sự suy giảm đầu tư của các doanh nghiệp.

    Còn nếu sử dụng chính sách tiền tệ, cắt giảm lãi suất để kích cầu, thì có nguy cơ kích hoạt lạm phát. Do đó, giải pháp dùng ngân sách bù lãi suất có tác dụng vừa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vay vốn, vừa ngăn ngừa lạm phát trở lại.

    Tuy nhiên, dù sử dụng biện pháp nào để kích thích sản xuất đi chăng nữa, thì hiệu quả chính sách chỉ có được nếu gói kích cầu có tác dụng lan tỏa, tức là sự gia tăng đầu tư tư nhân phải dẫn đến sự gia tăng chi tiêu của các hộ gia đình.

    Trong tình hình hiện nay, nếu người dân vẫn bi quan với tình hình kinh tế, thì ngay cả khi thu nhập có tăng lên (do các doanh nghiệp thu hút thêm lao động để mở rộng sản xuất sau khi được vay vốn với lãi suất ưu đãi), thì người dân cũng không dám tiêu dùng nhiều hơn.

    Họ có thể cho rằng, sang năm tiếp theo, khi chính phủ không còn huy động được tiền để kích cầu nữa, thất nghiệp là không thể tránh khỏi.

    Theo tôi, trong năm 2009, các mặt hàng xa xỉ và lâu bền sẽ rất khó tiêu thụ. Nếu người dân có việc làm thu nhập nhờ gói kích cầu thì họ sẽ dùng để đầu cơ vàng hoặc ngoại tệ.

    22:30 (GMT+7) - Thứ Hai, 19/1/2009 Trả lời Thích
  • Qua bài viết của tác giả và một số bài viết của những người tham gia ý kiến tôi thấy toát lên vấn đề có thể dẫn đến khả năng tiêu cực nếu Chính phủ giảm 4-5% lãi suất cho một số đối tượng doanh nghiệp.

    Thực chất với 17.000 tỷ đồng quả là nhỏ so với nền kinh tế Việt nam hiện tại. Hiện tại có những bất cập cụ thể như sau:

    1. Nếu đem dàn trải 17.000 tỷ đồng để chi vào việc hạ lãi suất cho vay đồng đều khoảng 2% thì tác động đến lạm phát không phải là nhiều như hạ lãi suất đến 4 - 5%. Điều này có thể tác động tốt đến nền kinh tế nói chung, nhưng không thể tập trung được vào các ngành kinh tế mũi nhọn.

    2. Nếu chọn một số ngành mũi nhọn để hỗ trợ 4 - 5% lãi suất thì rất dễ dẫn đễn cơ chế xin - cho, khó kiểm soát.

    Đề nghị:

    Chính phủ có thể dùng 50 - 70% của 17.000 tỷ bù cho toàn hệ thống ngân hàng thương mại hạ lãi suất khoảng 1,3 - 1,8%. Số còn lại sẽ bù vào các ngành kinh tế mũi nhọn để họ được hưởng lãi suất thấp hơn.

    20:29 (GMT+7) - Thứ Hai, 19/1/2009 Trả lời Thích
  • Quan điểm của người viết bài này thiếu tính khai phá.

    Thứ nhất, không phải cái gì trên đời này chưa có người làm thì nó không tốt. Người ta hay, mình vẫn có cái khác hay hơn chứ đâu nhất thiết phải làm theo cái hay của người ta.

    Thứ hai, tôi không biết việc bù lãi suất cho vay hay đến đâu, nhưng chắc chắn một điều là sẽ hay hơn cách giảm lãi suất chiếc khấu và lãi suất tái cấp vốn. Bởi vì nếu hạ lãi suất này thì các ngân hàng thương mại chỉ việc đi vay vốn của Ngân hàng Nhà nước về cho các doanh nghiệp vay lại để lấy chênh lệch mà quên đi trách nhiệm quan trọng nhất của ngân hàng thương mại là huy động vốn từ các nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân để đưa vào sản xuất. Tiền lại từ Ngân hàng Nhà nước tuôn ra thị trường, Ngân hàng Nhà nước làm sao có đủ tiền cho các ngân hàng thương mại vay? chẳng lẽ lại in thêm tiền trong khi tiền nhàn rỗi trong nhân dân không biết làm gì. Và khi đó ngân hàng thương mại chỉ là đại lý của Ngân hàng Nhà nước để làm việc phát hành tiền mà thôi.

    Điều xấu nhất trong giải pháp hỗ trợ lãi suất vay là việc người vay mang tiền đó gửi lại ngân hàng để hưởng chênh lệch. Nhưng để ngăn ngừa việc này cũng rất đơn giản là khống chế mức hỗ trợ ở mức vừa phải để lãi suất huy động không lớn hơn lãi suất cho vay.

    Nói một cách dễ hiểu thì giải phảp bù lỗ lãi suất là việc các ngân hàng thương mại "huy động vốn không công" cho nhà sản xuất, Nhà nước sẽ trả công huy động cho ngân hàng thương mại. Với giải pháp này ta được hai việc: nhà sản xuất tiếp cận được nguồn vốn giá rẻ và ngân hàng thương mại cũng thu hút được tiền nhà rỗi trong nhân dân.

    Còn giải pháp giảm lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn thì chúng ta chỉ được điều thứ nhất, còn nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân thì đi đâu, về đâu vẫn không điều tiết được. Mà một nguồn vốn lớn như vậy không được điều tiết thì lạm phát rất dễ xảy ra.

    15:54 (GMT+7) - Thứ Hai, 19/1/2009 Trả lời Thích
  • Trước hết tôi đồng tình với lập luận của tác giả, cần phải nhìn nhận vai trò của Ngân hàng Nhà nước là thông qua chính sách tiền tệ để ổn định giá trị đồng tiền. Chính sách tiền tệ là tập hợp các chính sách khác nhau nhưng với mục tiêu tác động vào lượng cung tiền trong lưu thông. Do vậy, khi nền kinh tế phát triển nóng, chính sách tiền tệ phải được thực hiện trên nguyên tắc thắt chặt, và khi nền kinh tế phát triển chậm chính sách tiền tệ phải được thả lỏng.

    Ở Việt nam, trong thời gian qua Ngân hàng Nhà nước đã thả lỏng chính sách tiền tệ để thúc đẩy nền kinh tế thông qua việc hạ lãi suất cơ bản, lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu. Như vậy, bản thân Ngân hàng Nhà nước đã thông qua chính sách tiền tệ để thúc đẩy kinh tế.

    Tuy nhiên, trong điều kiện Việt Nam thì những biện pháp đó là chưa đủ, hay cụ thể hơn nó chỉ thể hiện mong muốn của Ngân hàng Nhà nước chứ thực sự không có tác dụng nhiều với các ngân hàng thương mại.

    Đối với các ngân hàng thương mại, việc họ đang tích cực làm là giảm lãi suất đầu vào, còn việc giảm lãi suất đầu ra vẫn còn hạn chế về mặt thực tiễn (về lý thuyết, các ngân hàng thuơng mại đã giảm lãi suất vay nhưng dòng vốn với lãi suất thấp này thực sự còn nhỏ so với tổng dư nợ mà các doanh nghiệp đang phải cõng trên lưng). Như vậy, có thể nói việc chỉ dùng chính sách tiền tệ để kích thích nền kinh tế là chưa đủ trong điều kiện hiện nay.

    Với chính sách kích cầu của Chính phủ, về lý thuyết ở đây có sự bất hợp lý khi việc tài trợ chi phí vốn cho doanh nghiệp được sử dụng từ ngân sách chi tiêu của Chính phủ. Rõ ràng việc tăng chi cho hỗ trợ lãi suất sẽ giảm chi cho các khoản mục khác, do vậy nếu việc tăng chi này không phải là từ tiết kiệm chi phí hành chính thì có nghĩa là một số khoản mục đầu tư nào đó (sẽ thu lợi trong tương lai) sẽ bị cắt giảm và điều này sẽ chỉ là giải quyết bài tóan ngắn hạn trong khi bỏ bài toán dài hạn.

    Tuy nhiên, vấn đề nhiều người lo lắng không phải là việc áp dụng chính sách tiền tệ hay chính sách tài khoá mà là nếu không minh bạch trong cơ chế bù lãi suất thì đây lại là cơ hội cho việc lạm dụng chính sách. Chúng ta biết rõ trong hoạt động tín dụng việc vay hộ và nhờ vay là chuyện quá bình thường ở Việt Nam. Do vậy nếu không có giải pháp hợp lý thì vốn vay đến với doanh nghiệp chỉ là hình thức, còn tiền chi trả từ ngân sách là thực tế.
    Xin cảm ơn tác giả vì ý kiến thẳng thắn trong bài viết này.

    11:03 (GMT+7) - Thứ Hai, 19/1/2009 Trả lời Thích
  • Theo tôi, việc chính phủ kích cầu thông qua việc can thiệp vào lãi suất (cho dù bù lãi suất hay giảm lãi suất chiết khấu) xét về bản chất chính là chính sách tiền tệ.

    Theo lý thuyết vĩ mô, việc thực hiện chính sách tiền tệ thường do ngân hàng trung ương thực hiện còn chính sách tài khóa là do Chính phủ.

    Trường hợp này của Việt Nam có thể thấy, có sự pha trộn nào đấy giữa hai chính sách này. Tôi cũng đồng tình với tác giả bài viết, nếu kích cầu thông qua lãi suất thì nên dùng ngân hàng trung ương (Ngân hàng Nhà nước) sẽ "đúng bài" hơn.

    Trên thực tế, chính sách tiền tệ trong thời gian qua chưa phát huy tác dụng là do tâm lý hay kỳ vọng của thị trường chưa được hồi phục. Vậy nên, gói 17.000 tỷ đồng này nên sử dụng bằng cách thức thực sự là của chính sách tài khóa.

    09:40 (GMT+7) - Thứ Hai, 19/1/2009 Trả lời Thích
  • Tại sao người ta cứ hay nói là tại nước này áp dụng thế này, tại nước kia áp dụng thế kia, sao Việt Nam không áp dụng như thế thế nhỉ? Chẳng nhẽ Việt Nam không nên làm theo cách của mình cho là đúng hay sao?

    08:48 (GMT+7) - Thứ Hai, 19/1/2009 Trả lời Thích
Xem tiếp bình luận
Bình luận của bạn
Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu.
Gõ Telex Gõ VNI
Chọn hình đại diện cho bình luận của bạn?