Thống đốc Ngân hàng Nhà nước: “Tôi đã chịu rất nhiều áp lực”

NGUYỄN HOÀI

23/01/2009 08:28 (GMT+7)

picture Ông Nguyễn Văn Giàu, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Ảnh: Việt Tuấn.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Từ nửa cuối năm 2007 đến hết năm 2008 là thời điểm đầy sóng gió của hoạt động điều hành chính sách tiền tệ.

Nhân dịp Xuân Kỷ Sửu, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu đã có cuộc trò chuyện với chúng tôi xung quanh các vấn đề về điều hành lãi suất, thanh khoản và tỷ giá.

“Khủng hoảng tài chính sẽ còn tồi tệ hơn trong năm nay”

Thưa Thống đốc, nếu đưa ra những phác thảo sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đối với nền kinh tế Việt Nam, ông sẽ nói gì?

Năm 2008, nền kinh tế thế giới diễn ra rất nhiều sự kiện phức tạp và khó lường. Từ cuộc khủng hoảng cho vay thế chấp nhà tại Mỹ đã lan rộng thành khủng khoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, đẩy tình trạng nợ xấu, vỡ nợ leo thang, khiến hàng loạt ngân hàng ở Mỹ và nhiều nền kinh tế khác bị đóng cửa.

Chỉ tính riêng tại Mỹ từ đầu năm đến nay đã có 23 ngân hàng bị giải thể, đóng cửa, đẩy tỷ lệ thất nghiệp đến tháng 10/2008 tăng tới 6,7%, vượt 2% so với 2007.

Sự phức tạp của cuộc khủng hoảng này không chỉ diễn ra trên phạm vi toàn cầu mà còn chạy từ thái cực này sang thái cực khác.

Nếu nửa đầu năm 2008, giá dầu, lương thực tăng trong khi chứng khoán, bất động sản giảm, lạm phát phổ biến thì cuối năm, giá dầu giảm mạnh từ mức kỷ lục 147 USD/thùng (giữa tháng 7/2008) và xuống mấp mé dưới 40 USD/thùng vào trung tuần tháng 12/2008. Kèm theo đó là giá lương thực giảm sâu hơn, thất nghiệp tăng cao, hình thành xu hướng giảm phát.

Như vậy, kinh tế thế giới đã chuyển từ áp lực lạm phát cao sang xu hướng thiểu phát và giảm phát đi liền suy thoái kinh tế toàn cầu.

Chúng tôi cho rằng, cuộc khủng hoảng này sẽ còn tồi tệ hơn trong năm nay.

Điều đáng lo ngại là nền kinh tế Việt Nam trong cùng một thời điểm vừa phải đối phó với tác động xấu từ bên ngoài, vừa vấp phải những khó khăn nội tại: lạm phát tăng mạnh, thâm hụt cán cân thương mại đạt mức kỷ lục, thị trường chứng khoán liên tục sụt giảm.

Để giữ ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững, Chính phủ đã chuyển hướng ưu tiên hàng đầu cho mục tiêu kiềm chế lạm phát, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý.

Những tháng cuối năm, khi diễn biến kinh tế và lạm phát Việt Nam nằm trong xu hướng suy thoái chung của thế giới, Chính phủ đã đưa ra nhóm 5 giải pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế, ổn định vĩ mô, trong đó đặc biệt quan tâm đến nhóm giải pháp về chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ theo hướng chặt chẽ, linh hoạt, hiệu quả để vừa duy trì tốc độ tăng trưởng, vừa ổn định kinh tế vĩ mô.

Có thể nói rằng, năm 2008 là năm mà ngành ngân hàng Việt Nam phải đối phó với những khó khăn thách thức chưa từng có trong hơn 20 năm đổi mới.

Nhiều ý kiến cho rằng, lạm phát đột biến vừa qua không đơn thuần do tác động bên ngoài mà phần lớn là do sự nới lỏng tiền tệ từ các năm trước. Quan điểm của Thống đốc như thế nào?

Những năm trước, do chúng ta muốn tăng trưởng kinh tế cao và buộc phải thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ.

Trong giai đoạn 2003 - 2007, ở một số nước, tăng trưởng tín dụng mỗi năm chỉ gấp 0,66 lần so với tăng trưởng GDP. Một số nước gần gũi với Việt Nam như Thái Lan hay Singapore thì chỉ số này là 1/1 (chẳng hạn, GDP tăng 7% thì tín dụng cũng tăng 7%).

Thế nhưng, ở Việt Nam chỉ trong 4 năm (2003 – 2006), chỉ số này tăng 3,85 lần, riêng năm 2007 tăng đột biến lên 6,3 lần. Dĩ nhiên, hoàn cảnh kinh tế mỗi nước mỗi khác nhưng phải thấy rằng, nếu muốn tăng trưởng cao thì phải chấp nhận như vậy.

Cuối tháng 5/2007, xuất hiện dấu hiệu lạm phát. Mặc dù lạm phát xảy ra do nhiều nguyên nhân nhưng bao giờ cũng có nguyên nhân tiền tệ. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước đã ra quyết định tăng gấp đôi tỷ lệ dự trữ bắt buộc (từ 5% lên 10%).

Vì sao lúc đó lại phải tăng gấp đôi? Tại thời điểm đó, xuất hiện hai hiện tượng bong bóng: chứng khoán và bất động sản.

Cùng với việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, ngày 28/5/2007, Ngân hàng Nhà nước cũng ban hành Chỉ thị 03/CT - NHNN, khống chế dư nợ cho vay chứng khoán. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cũng chỉ đạo kiểm soát cho vay thị trường bất động sản.

Đến đầu tháng 8 và cuối tháng 10/2007, Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành hai chỉ thị về vấn đề này. Và mặc dù đã có biện pháp chặn trước nhưng đến tháng 10/2007, CPI tăng 0,74%.

Cùng với đó, trong hai tháng 11 và 12/2007, chúng ta tăng giá xăng dầu, tăng lương và những yếu tố này đã đẩy lạm phát lên mức cao.

Và ứng xử tiếp theo của Ngân hàng Nhà nước là gì, thưa Thống đốc?

Trước diễn biến phức tạp này, trong 6 tháng đầu năm 2008, Ngân hàng Nhà nước đã có những phản ứng chính sách kịp thời, sử dụng đồng bộ và quyết liệt về điều hành chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát có hiệu quả và ổn định kinh tế vĩ mô.

Các công cụ chính sách tiền tệ được điều hành linh hoạt để hút tiền từ lưu thông nhưng vẫn đảm bảo tính thanh khoản cho nền kinh tế và thị trường, điều hành linh hoạt tỷ giá theo tín hiệu thị trường.

Nhờ đó, từ tháng 7/2008 đến nay, nền kinh tế đã xuất hiện những tín hiệu khả quan, lạm phát được khống chế.

Tuy nhiên, nằm trong xu hướng chung của thế giới, tình hình kinh tế đứng trước nguy cơ suy giảm và Ngân hàng Nhà nước phải thực hiện nới lỏng chính sách tiền tệ bằng các giải pháp linh hoạt để thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh.

“Ở Việt Nam, lãi suất đã được tự do hóa”

Để ổn định thị trường tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước đưa lãi suất thị trường xoay quanh trục lãi suất cơ bản. Nhưng hiện tại, lạm phát đã được kiểm soát, Ngân hàng Nhà nước có nghĩ đến việc dỡ bỏ công cụ này?

Phải thấy rằng, trong giai đoạn đó, việc sử dụng công cụ lãi suất để bình ổn thị trường tiền tệ rất khó khăn, bởi lẽ, các loại lãi suất của ta gần như tự do hóa theo cơ chế thị trường.

Trong khi đó, ở Trung Quốc lại không thực hiện như vậy mà duy trì 2 loại lãi suất: đối với huy động, họ khống chế trần có thời điểm ở mức không quá 3,6%/năm và sau đó hạ xuống 2,5%/năm; còn lãi suất cho vay khống chế sàn không quá 10%/năm.

Họ cho rằng, làm như vậy, sẽ tránh được tình trạng “cá lớn nuốt cá bé” và hệ thống ngân hàng sẽ hoạt động tốt hơn.

Còn ở Việt Nam, lãi suất đã được tự do hóa, việc Ngân hàng Nhà nước ban hành 16/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 nhằm đưa lãi suất cơ bản trở thành định hướng cho các loại lãi suất khác là việc không đơn giản. Nhưng rồi mọi việc cũng xong và chúng tôi đánh giá đó là một quyết định sáng suốt cho đến thời điểm này.

Mặc dù vẫn còn quan điểm chưa thống nhất nhưng trong hoàn cảnh nhiều biến động như hiện nay, việc thiết lập “barie” lãi suất cơ bản hầu như không ảnh hưởng đến hoạt động huy động, cho vay của các tổ chức tín dụng.

Ví dụ: lãi suất cơ bản là 14%/năm, với trần quy định không vượt quá 150% lãi suất cơ bản thì về lý thuyết, các tổ chức tín dụng được phép huy động và cho vay từ 0% đến 21%/năm.

Tất nhiên, chẳng có tổ chức tín dụng nào huy động hay cho vay ở mức 0% cả và nếu có thì Ngân hàng Nhà nước sẵn sàng “gõ cửa” ngay.

Dù vậy, tôi không cho rằng, việc quy định trần - sàn lãi suất theo lãi suất cơ bản như hiện nay là phù hợp với mọi giai đoạn. Đến một thời điểm nào đó cần thay đổi, chúng ta sẽ nghiên cứu tiếp.

Trong năm 2008, tỷ giá liên tục lên xuống, trồi sụt, khiến thị trường này ít nhiều bị rối loạn. Thống đốc đưa ra lời giải thích như thế nào?

Tỷ giá là bài toán khó đối với phạm vi quốc gia, chứ không riêng với một Thống đốc ngân hàng. Ở đây, không thể không nhắc tới câu chuyện của Trung Quốc.

Trong hơn 10 năm đổi mới (1978 - 1990), họ đã chuyển từ nước nhập siêu sang xuất siêu và xuất siêu mãi cho tới bây giờ.

Về nguyên lý muốn giữ tỷ giá thì phải giữ cân đối cung cầu ngoại tệ. Nhưng điều này lại phụ thuộc vào hàng loạt thành tố như cán cân thương mại, cán cân vốn (FDI, FII, vay nợ chính phủ), cán cân vãng lai, thu dịch vụ.

Muốn điều chỉnh quan hệ tỷ giá theo quan điểm nào thì cũng phải cân đối được nguồn ra nguồn vào.

Tôi đã làm việc với Giám đốc IMF phụ trách khu vực Đông Nam Á, ông này khẳng định, chính sách tỷ giá dựa trên quan hệ cung cầu và có sự điều chỉnh linh hoạt mà Việt Nam đang thực hiện là đúng đắn.

Còn vị Chủ tịch ADB cũng nói với tôi rằng: “Thống đốc đã rất may mắn khi kiểm soát được tỷ giá, nếu không thì con đường kiểm soát lạm phát còn dài thêm”.

Ông này cũng nhận định với những giải pháp điều hành tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước, kết quả tích cực sẽ rơi vào tháng 11/2008 nhưng thực tế thì chúng đến sớm hơn.

Tôi cũng tiết lộ một điều là để ổn định được thị trường tỷ giá là cả một cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ, bởi lẽ: nhập siêu tháng 1, 2, 3/2008 tăng với tốc độ phi mã.

Nếu như trong các năm từ 1999- 2001, nhập siêu bình quân chỉ 1 tỷ USD/năm, thời kỳ 2002 – 2006, bình quân 5 tỷ USD/năm thì đến 2007, nhảy vọt lên 14 tỷ USD/năm. Nếu 2008 không quyết liệt và Ngân hàng Nhà nước không duy trì lượng ngoại hối cỡ 20,7 tỷ USD thì sẽ rất khó bình ổn được tỷ giá.

“Tôi đã chịu rất nhiều áp lực”

Cũng có không ít chê trách rằng, thời điểm quý 2/2008, mặc dù biết nhiều ngân hàng thương mại rơi vào khó khăn thanh khoản nhưng Ngân hàng Nhà nước vẫn không bơm vốn cho họ. Thống đốc nghĩ sao về điều này?

Tôi lại nghĩ, nếu làm thế thì quá đơn giản vì thời điểm đó, nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước là phải rút bớt tiền từ lưu thông về để kiềm chế lạm phát. Muốn làm được điều này, buộc Ngân hàng Nhà nước phải nâng lãi suất để hút tiền về.

Vì thế, tôi và các cộng sự trong ban lãnh đạo đã phải kiên trì, chịu rất nhiều áp lực từ phía dư luận, từ các ngân hàng thương mại cũng như quan điểm chưa thực sự thống nhất trong bộ máy.

Nhờ đó có thời điểm, Ngân hàng Nhà nước đã rút được 37 nghìn tỷ đồng tiền mặt và kết quả này được giới phân tích tài chính nước ngoài đánh giá rất cao.

2009 được coi là năm đặc biệt khó khăn và rất có thể, dòng vốn đầu tư sẽ tiếp tục chảy ra, Ngân hàng Nhà nước đối phó với vấn đề này ra sao?

Bây giờ là làm ăn theo thị trường, người ta đưa vốn vào được thì cũng phải để họ rút vốn ra, chứ không thể lấy hành chính để ép buộc. Chính phủ cũng tuyên bố như vậy.

Hơn nữa, khi ổn định được cung cầu ngoại tệ thì việc vào - ra trở nên hết sức bình thường. Năm 2008, doanh số ngoại tệ vào - ra khá lớn nhưng không thể gây trở ngại lớn cho hoạt động điều hành của Ngân hàng Nhà nước.

Một bằng chứng là những tháng gần đây, nhiều nhà đầu tư nước ngoài bán trái phiếu, cổ phiếu ròng, thu hồi vốn, nhưng họ chẳng phàn nàn về việc không mua được ngoại tệ. Điều này không phải Ngân hàng Nhà nước ưu tiên, mà đó là tất nhiên.

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Duy Vu

    09:25 (GMT+7) - Thứ Năm, 29/1/2009

    Là người trong ngành ngân hàng, tôi thấy những lời của Thống đốc thật sự là những lời chia sẻ tâm huyết. Rõ ràng cán cân ngoại tệ, tỷ giá hối đoái một khi đã khống chế được sẽ là một đòn bẩy vững chắc cho nền kinh tế phát triển. 20,7 tỉ USD, một con số nhỏ nhưng lại có thể sử dụng hiệu quả như vậy quả thật là một thành công của Ngân hàng Nhà nước.

    Tuy nhiên, nói đi phải nói lại, con số 52000 tỷ đồng hình như vẫn bị Thống đốc bỏ quên, vì đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng "khô tiền" trong nền kinh tế, mà cho đến thời điểm này vẫn không có ai chịu trách nhiệm và có những giải trình hợp lý. Có lẽ đã đến lúc cho các ngân hàng quốc doanh tự chịu trách nhiệm về hành động của mình. Có thế, tư duy làm việc và cách suy nghĩ của các "đại gia" này mới thay đổi được, khi đó mới mong đợi nền kinh tế tăng truởng bền vững.

  • Trung Nguyen

    21:14 (GMT+7) - Chủ Nhật, 25/1/2009

    Theo tôi, Thống đốc đã quá "sách vở" khi cho rằng chỉ cần cân đối cung cầu là có thể kiểm soát được vấn đề tỷ giá tại Việt Nam. Nếu thực sự như vậy thì khi biết tỷ lệ dự trữ ngoại tệ của Việt Nam hiện nay thì không có lý nào ngay từ trước khi Ngân hàng Nhà nước công bố chính thức công bố biên độ dao động tỷ giá mới mà thị trường ngoại tệ "chợ đen" lại tăng cao như vậy, ngay cả tỷ giá của các Ngân hàng cũng luôn ở mức cận trên của biên độ.

    Như vậy, có thể thấy rằng cần phải kiểm soát được tốt vấn đề thị trường "chợ đen" và nắm bắt được tâm lý của người dân để đưa ra những quyết sách kịp thời thì mới có thể kiểm soát được vấn đề tỷ giá tại Việt Nam.

    Hơn nữa, chính sách tiền tệ không phải là công cụ vạn năng để điều hành nền kinh tế. Nó cần phải được đặt trong tổng thể các mối quan hệ kinh tế thì mới đạt được tác dụng cụ thể. Như chúng ta đều biết tình hình xuất khẩu của Việt Nam hiện đang gặp nhiều khó khăn do khó khăn kinh tế ở nhiều thị trường truyền thống và Bộ Công thương đã nhiều lần khuyến nghị các doanh nghiệp xuất khẩu nên chú trọng hơn tới thị trường nội địa để có thể vượt qua khó khăn. Trong tình cảnh như vậy, đáng lẽ ra không nên quá chú trọng vào việc phá giá đồng Việt Nam để doanh nghiệp có cơ hội nhập khẩu các công nghệ tiên tiến, nâng cao năng suất và chất lượng nhằm chiếm lĩnh thị trường trong nước. Tuy nhiên, với việc đồng Việt Nam bị phá giá như hiện nay thì cơ hội này của các doanh nghiệp đã không còn. Hơn nữa, triển vọng xuất khẩu vẫn không sáng sủa lên nhiều do không có thị trường tiêu thụ. Vậy phải chăng chính sách tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước đã đi ngược lại với khuyến nghị của Bộ Công thương?

    Nếu nền kinh tế không được điều hành một cách thống nhất thì hậu quả sẽ khôn lường. Đây là lúc Chính phủ cần có sự lựa chọn hợp lý để thúc đẩy cả nền kinh tế tiến lên hoặc ít nhất cũng không bị thụt lùi.

  • Vu Minh

    22:59 (GMT+7) - Thứ Bảy, 24/1/2009

    Thống đốc Giàu nhìn nhận vấn đề như đã phản ánh trong bài viết này là rất đúng mức, có tình, có lý. Tâm huyết của cán bộ lãnh đạo đã được thể hiện qua nội dung trao đổi và khá nhiều ý kiến đã đánh giá rất cao Thống đốc. Chúng tôi cũng chia sẻ những đánh giá đó.

    Năm 2009, tình hình sẽ còn khó hơn nhiều vì nhiều nền kinh tế chủ chốt trên thế giới đang tiến dần đến đỉnh cao của suy thoái kinh tế. Do vậy, mức độ ảnh hưởng đến Việt nam là không hề nhỏ( vì ta đã hội nhập khá sâu vào kinh tế thế giới).

    Mong Ngân hàng Nhà nước Việt nam và Thống đốc Nguyễn Văn Giàu phát huy cao những kinh nghiệm và quyết tâm đã có trong năm 2008 để linh hoạt ứng phó với tình hình 2009, góp phần đưa đất nước ta vượt qua bão tố, vượt qua khủng hoảng.

  • Vũ Văn Thảo

    17:27 (GMT+7) - Thứ Bảy, 24/1/2009

    Thống đốc nói:" Tôi đã chịu nhiều áp lực"

    Nhưng tôi nghĩ áp lực đó là cần thiết để điều hành kinh tế có lợi "cho tất cả".

    Với sự điều hành của Thống đốc và cộng sự trong thời gian qua thì tôi lại thích có nhiều vị trí tương đương trong Chính Phủ chịu áp lực.

    Áp lực để làm việc tốt hơn, tại sao không?

  • Nguyen Linh

    08:43 (GMT+7) - Thứ Bảy, 24/1/2009

    Những ai đã và đang hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng đều hiểu rằng việc điều hành chính sách tiền tệ quốc gia một cách linh hoạt và hiệu quả là hết sức khó khăn.

    Trong năm 2008, có rất nhiều thời điểm những quyết định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không nhận được sự đồng thuận từ phía các ngân hàng thương mại và dư luận nói chung.

    Riêng cá nhân tôi, tôi cho rằng, Ngân hàng Nhà nước đã đạt được thành tích lớn trong năm qua. Chúng ta đã đi qua được giai đoạn đầy khó khăn với những quyết định tưởng như "vô lý, vô tình" của Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ.

    Tôi tin rằng, mọi quyết định luôn có sự đánh đổi và chúng ta thật khó có thể đạt được mọi mục tiêu vào cùng một thời điểm, tuy vậy, trong dài hạn, mọi quyết sách đều hướng tới mục tiêu đem lại lợi ích cho đại đa số mọi người.

    Xin chúc mừng những thành công của Ngân hàng Nhà nước trong một năm đầy biến động của nền kinh tế Việt Nam và thế giới. Chúc Thống đốc và các đồng nghiệp năm mới sức khỏe, sáng suốt để tiếp tục có những quyết định đúng đắn.

  • Orinnguyen

    17:53 (GMT+7) - Thứ Sáu, 23/1/2009

    Có thể nói điều hành chính sách tiền tệ nói theo lý thuyết thì rất dễ, nhưng thực tế thì cực kỳ khó khăn, bởi nó giống như dòng sông bên lở bên bồi.

    Với đặc điểm nền kinh tế mỗi nước mỗi khác và Ngân hàng Nhà nước đã không chịu được áp lực dư luận mà ở đây là báo chí khi điều hành lãi suất thực dương đẫn đến lãi suất cơ bản quá cao ở nữa cuối năm 2008 dẫn đến hậu quả bây giờ tìm cách hạ quá đột ngột dẫn đến các ngân hàng thương mại lãnh đủ.

    Nhưng nhìn chung thì năm qua là năm thành công của Ngân hàng Nhà nước khi nền kinh tế thế giới có quá nhiều thay đổi.

  • Vinh

    09:48 (GMT+7) - Thứ Sáu, 23/1/2009

    Tôi đánh giá rất cao bài phỏng vấn này, và cuộc trò chuyện của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

    Xin cảm ơn ông.

  • Van Cao

    09:19 (GMT+7) - Thứ Sáu, 23/1/2009

    Có thể tóm tắt một cách ngắn gọn về thành quả đỉều hành chính sách tiền tệ năm 2008 đó là “Vượt ải thành công”.

    Nét nổi bật nhất trong tổng thể các nỗ lực chống lạm phát không chỉ dừng ở chỗ đã kiểm soát, khống chế được tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) mà quan trọng hơn chính là nâng cao năng lực thích nghi, làm chủ tình hình và ứng xử linh hoạt của hệ thống kinh tế nước nhà trước những biến cố dồn dập của khủng hoảng tài chính toàn cầu.

    Trước một cục diện quá nhiều rối ren, hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn trụ vững, cơ bản giữ được thế ổn định, đồng thời đảm đương khá tốt vai trò xung kích trên cả hai mặt trận vừa kiềm chế lạm phát hiệu quả vừa ra sức chống suy giảm kinh tế.

    Tuy nhiên, ẩn số khó khăn nhất đặt ra cho chính sách tiền tệ năm 2009 và những năm tiếp theo chính là diễn biến suy giảm tăng trưởng toàn cầu vẫn còn đang rất ngổn ngang, phức tạp, thậm chí chưa tìm thấy lối ra.

    Mọi khả năng đều trở nên khó lường đoán hơn nhiều so với những gì chúng ta đã từng trải nghiệm và xử lý, điều này có tác động thường trực đến sự an nguy của nền kinh tế đất nước.

    Bài học kinh nghiệm đầu tiên cần rút ra trong hoạt động điều hành vĩ mô nói chung và điều hành chính sách tiền tệ nói riêng đó là đừng bao giờ để mình trở thành “tù nhân” của các kết quả dự báo kinh viện thuần túy, giáo điều, xa rời thực tiễn, hay nói khác đi là những dự báo tồi.

    Dự báo điều hành chính sách phải là kết quả của một chuỗi hoạt động nghiên cứu khoa học nghiêm túc, có tính sáng tạo và nghệ thuật cao, điều tối quan trọng trong thời buổi hội nhập là phải đáp ứng được tiêu chí “tư duy toàn cầu - hành động cụ thể”.

    Mọi kịch bản dự báo vĩ mô cần phải được thể chế hóa và công khai hóa, chấp nhận mọi sự phản biện tích cực, từ đó mới có tác dụng định hướng hành vi ứng xử hiệu quả cho mọi chủ thể liên quan trong nền kinh tế.

    Bài học quan trọng thứ hai đó là khả năng phát huy nội lực nền kinh tế, thông qua đó nâng cao trình độ ứng phó linh hoạt của chính sách tiền tệ.

    Lần đầu tiên từ trước đến nay, Việt Nam chính thức công khai dự trữ ngoại tệ năm 2008 ở mức gần 21 tỷ USD. Con số này xem ra không lớn so khi so sánh với những nước trong khu vực cũng như so với quy mô đang phát triển nhanh của nền kinh tế, tuy nhiên động thái này thể hiện bước đột phá mới về tư duy điều hành, sự tự tin vào khả năng nguồn lực đất nước, thông qua đó gởi đi một thông điệp đáng tin cậy và có hiệu lực trong quá trình bình ổn tâm lý, mang lại hiệu ứng tích cực trong điều hành tỷ giá theo định hướng kiềm chế nhập siêu và hỗ trợ xuất khẩu.

    Một bài học khác thực sự có ý nghĩa chiến lược đối với việc xây dựng và hoàn thiện thể chế điều hành vĩ mô, đó là cần cân nhắc đầy đủ vai trò trung tâm chính sách tiền tệ trong cơ chế thị trường hiện đại để đưa ra sự lựa chọn sáng suốt giữa mục tiêu ổn định giá cả và tăng trưởng kinh tế.

    Trong điều kiện đất nước còn kém phát triển, nhu cầu tăng trưởng trên mọi lĩnh vực rất bức xúc, dễ dẫn đến hệ quả đặt nặng mục tiêu tăng trưởng hơn là tôn trọng các quy luật vận hành tiền tệ, tư duy này không sớm thì muộn sẽ buộc nền kinh tế phải trả giá.

    Xét trên cả khía cạnh lý thuyết và thực tiễn, hiện có rất nhiều khái niệm thú vị về vai trò tiền tệ. Kinh tế chính trị xem tiền tệ như là “hàng hóa đặc biệt” , “vật ngang giá chung”. Trong cuộc sống đời thường dân gian lại ví von tiền tệ như là phương tiện hội tụ nhiều sức mạnh vạn năng theo kiểu “có tiền mua tiên cũng được”.

    Khi đi vào bình diện quốc gia, tiền tệ đã trở thành công cụ điều hành vĩ mô vô cùng hệ trọng đối với tương lai phát triển đất nước. Bất luận thế nào đi nữa, chìa khóa thành công của chính sách tiền tệ trong năm 2009 không thể xa rời phương châm “đồng tiền đi liền khúc ruột”.

    Tạo sức hấp dẫn và lòng tin yêu đối với đồng tiền Tổ quốc, biết nâng niu quý trọng từng đồng vốn, có cơ chế sử dụng nguồn lực quốc gia thực sự hiệu quả, chắc chắn tiền tệ sẽ chứng minh được vai trò hữu hiệu và không thể thay thế của mình trong đời sống kinh tế - xã hội nước nhà.

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Tài chính

O_209V

21:00 (GMT+7) - Thứ Năm, 24/5/2012

Hoàn toàn đồng ý với cua đồng !...

Trong bài: Ngân hàng thừa thanh khoản, doanh nghiệp suy kiệt vốn (10 ý kiến)

cua đồng

17:47 (GMT+7) - Thứ Năm, 24/5/2012

Vấn đề chính là xuất khẩu bị giảm sút do khủng hoảng kinh tế, tính cạnh tranh của nền kinh tế thấp. Nếu bây giờ...

Trong bài: Ngân hàng thừa thanh khoản, doanh nghiệp suy kiệt vốn (10 ý kiến)

Hữu Trần

17:31 (GMT+7) - Thứ Năm, 24/5/2012

Tất cả không nằm ở chính sách mà nằm ở chỗ điều hành, kiểm tra, xử lý các đơn vị bị ảnh hưởng bởi chính...

Trong bài: Thống đốc Nguyễn Văn Bình: Xem xét lại lãi suất cơ bản (4 ý kiến)

Mai Thiên Bình

17:14 (GMT+7) - Thứ Năm, 24/5/2012

Cứ xác định lãi suất cơ bản phù hợp, thực hiện đúng luật ngân hàng thì chẳng cần trần nào cả và đây chính là...

Trong bài: Sẽ dứt điểm câu chuyện lãi suất cơ bản? (1 ý kiến)

Nguyễn Trường An

15:17 (GMT+7) - Thứ Năm, 24/5/2012

Thiết lập lại LSCB là cần thiết: 1. LSCB là cương để NHNN điều hành TT tiền tệ. NHNN không phải cứ chạy vòng từ trần LS...

Trong bài: Thống đốc Nguyễn Văn Bình: Xem xét lại lãi suất cơ bản (4 ý kiến)