Tản mạn chuyện dự báo kinh tế

DƯƠNG NGỌC

09/02/2009 10:43 (GMT+7)

picture Có một điều khá hài hước là có hai ngân hàng thuộc loại khổng lồ trên thế giới đầu năm ngoái đã dự báo năm 2008 lạm phát Việt Nam sẽ vượt quá 30%, nhập siêu sẽ vượt quá 30 tỷ USD - Ảnh: Việt Tuấn.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Khi thế giới rơi vào khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, tình hình diễn biến rất nhanh, rất phức tạp và khó lường, thì dự báo lại càng quan trọng hơn nữa.

Dự báo đúng thì việc xác định mục tiêu mới có cơ sở và giải pháp đề ra mới phù hợp. Dự báo sai thì mục tiêu sẽ sai, giải pháp sẽ không phù hợp, chẳng những không “tiến” mà còn “lùi”, chẳng những không cải thiện được tình hình mà còn làm cho tình hình xấu thêm.

Nhưng để dự báo đúng không dễ, chưa nói đến là rất khó khăn và đúng đắn.

Chẳng thế mà năm ngoái thế giới vào đầu năm thì lạm phát cao, cuối năm thì rơi vào khủng hoảng và suy thoái kinh tế, mặc dù đã được “ủ bệnh” từ cách đó một năm, nhưng có mấy người biết trước!

Và bây giờ, ai có thể dự báo đúng là khủng hoảng trên thế giới lúc nào sẽ kết thúc?

Có một điều khá hài hước là có hai ngân hàng thuộc loại khổng lồ trên thế giới đầu năm ngoái đã dự báo năm 2008 lạm phát Việt Nam sẽ vượt quá 30%, nhập siêu sẽ vượt quá 30 tỷ USD, sẽ phải phá giá đồng tiền của mình tới 20-25% và Việt Nam phải cầu cứu sự cứu trợ về tài chính của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) như một số nước trong cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ cách đây 10 năm!

Nhưng chỉ một thời gian sau đó, một ngân hàng thì tuyên bố phá sản, còn một ngân hàng thì bị thua lỗ nặng nề, trong khi Việt Nam lạm phát, nhập siêu bằng chưa đến hai phần ba mức cảnh báo của họ, không phải phá giá đồng tiền của mình và không phải cầu cứu sự hỗ trợ tài chính của IMF như hai ngân hàng trên cảnh báo!

Ở trong nước, vào tháng 10/2007, đã có mấy ai dự báo Việt Nam năm 2008 lạm phát lại có thể cao gấp rưỡi năm 2007 và tăng trưởng kinh tế lại có thể thấp hơn 7%, nên mãi đến quý 1/2008 mới chuyển đổi mục tiêu từ ưu tiên tăng trưởng kinh tế sang ưu tiên kiềm chế lạm phát...?

Đến tháng 10/2008, có mấy ai đã dự báo tăng trưởng kinh tế cả năm 2008 chỉ đạt 6,23%, mà vẫn đinh ninh là sẽ đạt trên 6,7%? Còn có thể kể ra đây nhiều dự báo chưa đúng để chứng minh sự khó khăn của dự báo.

Ngay với thị trường chứng khoán, hầu như các dự báo của các tổ chức và cá nhân đều bị sai.

Ngay nhiều nhà đầu tư từ “võ say” đến các “đại gia” cũng còn thua lỗ liểng xiểng, bởi có mấy ai dự báo VN-Index năm 2008 lại giảm từ 927 điểm xuống còn 300 điểm, sau khi đã xuyên thủng hết “đáy” này đến “đáy” khác theo dự báo của các chuyên gia, để rồi bây giờ trở về điểm xuất phát cách đây 4-5 năm.

Muốn dự báo đúng, có hai vấn đề đặt ra, đó là phải có thông tin đúng và phải lường định đúng các yếu tố tác động. Ở đây xin nêu những vấn đề ở tầm vĩ mô, bởi vĩ mô mà dự báo sai thì vi mô cũng bị ảnh hưởng theo.

Về vấn đề thứ nhất, bên cạnh những kết quả, tiến bộ về nhiều mặt, nhưng cũng còn có nhiều hạn chế, bất cập, trong đó có bốn mặt chủ yếu sau đây.

Thứ nhất, thông tin hiện nay vừa thừa, vừa thiếu. Thừa những thông tin vi mô ở tầm vĩ mô, thừa những thông tin vĩ mô ở tầm vi mô. Thiếu một số thông tin liên quan đến chất lượng tăng trưởng kinh tế thực, thiếu nhiều chỉ tiêu về kinh tế tài chính- tiền tệ, khá nhiều chỉ tiêu về xã hội, rất nhiều chỉ tiêu về môi trường.

Thứ hai, có một số thông tin độ tin cậy chưa cao, như tỷ lệ nợ xấu, lãi, lỗ; ngay tốc độ tăng GDP, quy mô dân số... là những chỉ tiêu quan trọng như thế nhưng cũng có sự chênh lệch lớn giữa số liệu do địa phương tính và các Bộ, ngành tính trên phạm vi cả nước.

Nếu cộng diện tích trồng rừng do các nơi báo cáo thì rừng đã phủ kín diện tích cả nước. Độ tin cậy chưa cao do nhiều nguyên nhân.

Có nguyên nhân do nguồn lực dành cho việc thu thập, tổng hợp thông tin còn hạn hẹp.

Có nguyên nhân từ sự can thiệp của tư tưởng thành tích ở không ít cấp, ngành, đơn vị cơ sở. Có nguyên nhân do sự yếu kém về trình độ chuyên môn nghiệp vụ và bản lĩnh nghề nghiệp của một số cán bộ làm công tác kế toán, thống kê ở các cơ sở, các cấp, các ngành.

Thứ ba, nhiều thông tin cung cấp chưa kịp thời (điển hình là tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán, tốc độ tăng dư nợ tín dụng năm 2007 báo cáo rất chậm).

Thứ tư, có thông tin rồi, nhưng việc đánh giá, phân tích còn hạn chế cả về tầm khái quát cũng như mức độ sâu sắc, cả về tính phản biện và tham mưu... Một số lãnh đạo các ngành, cấp hoặc là không sử dụng để có kế hoạch điều hành, hoặc cho rằng vẫn “trong tầm kiểm soát”...

Về vấn đề thứ hai là lường định các yếu tố tác động, bên cạnh những kết quả tích cực, cũng còn có những hạn chế, bất cập dưới những góc độ khác nhau. Ở một số người còn có tư tưởng chủ quan, coi thường sự ảnh hưởng của những yếu tố này nên thường không có biện pháp chủ động đối phó.

Có khi nước đến chân mới nhảy, thường lúng túng ứng phó, ưa dùng biện pháp hành chính, biện pháp tình thế, “vá” chỗ này lại “thủng” chỗ khác, nên thường tốn kém, khắc phục chậm, hiệu quả thấp... ở một số người lại quá thổi phồng sự tác động, thường có phản ứng thái quá, dễ gây tâm lý hoang mang.

Dự báo là một khoa học, vừa phải có trình độ chuyên môn, trình độ lý luận và thực tiễn, đòi hỏi phải có thông tin trung thực, khách quan và bản thân việc dự báo cũng phải trung thực, khách quan... Dự báo cũng phải có tính độc lập.

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Van Cao

    11:06 (GMT+7) - Thứ Ba, 10/2/2009

    Có lẽ chưa khi nào những kịch bản dự báo kinh tế Việt Nam 2009 lại được bàn luận, phân tích rất sôi nổi trên nhiều diễn đàn công luận như thời gian vừa qua. Lý do chính bắt nguồn từ dư chấn nặng nề của khủng hoảng tài chính và suy giảm toàn cầu, mà hậu quả đã vượt xa ngoài dự đoán của nhiều giới nghiên cứu và học giả, gây ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ kinh tế thế giới, trong đó có nước ta.

    Nhìn chung, tâm lý lo lắng đang bao phủ lên hầu khắp mọi lĩnh vực làm ăn kinh tế. Sự ưu tư về tương lai vốn dĩ đã thường trực ở mỗi doanh nghiệp và doanh nhân, nay trong bối cảnh khủng hoảng lại nhân lên gấp bội phần.

    Trong giai đoạn hiện nay mọi người dường như trở nên thiếu tự tin hơn khi đưa ra bất cứ dự báo nào được xem là khả thi. Thậm chí một số ý kiến bi quan đến mức khá cực đoan khi khẳng định không muốn tin vào điều gì nếu nó vẫn còn đang ở phía trước ?

    Thiết nghĩ, cảm nhận kinh tế năm 2009 nên xuất phát từ một góc nhìn khác hơn so với mọi năm, bắt đầu bằng câu hỏi : Giả sử nếu không có khủng hoảng, lạm phát hoặc suy giảm . . . thì “con tạo” sẽ xoay vần đến đâu? Giống như một cơ thể sống, khi chưa xảy ra sự cố bất ngờ hoặc chưa phát sinh bạo bệnh thì sẽ không thấu hiểu được sức chịu đựng cũng như năng lực đề kháng của bản thân đến mức nào.

    Chính vì vậy, thời khắc này có thể xem như một khoảng lặng lý tưởng, là điểm dừng tất yếu để mỗi người có thể tự trải nghiệm trước khi tiếp tục dấn bước tiến lên trên con đường sinh tồn mà sự vô hạn nhiều khi vẫn còn là dấu hỏi vô cùng lớn.

    Có ý kiến cho rằng, năm 2009 Việt Nam không nên đặt nặng chỉ tiêu tăng trưởng mà cần tập trung bồi dưỡng "sức khỏe" cho nền kinh tế, vun đắp sức dân, mở mang thị trường nội địa, chấn hưng dân trí, chấn chỉnh và hoàn thiện thể chế điều hành để đáp ứng cuộc đua hội nhập mang tính lâu dài, càng ngày càng khắc nghiệt hơn.

    Sự hợp lý của kiến nghị này nằm ở chỗ nó tạo ra “cảm giác bất tương thích” đối với lề lối suy nghĩ truyền thống. Trong đó chỉ tiêu GDP dường như là mệnh lệnh số một, hoặc có khi phải đạt bằng mọi giá mặc dù chứa đựng nhiều giá trị ảo hơn là thực, hại hơn là lợi.

    Dù sao thực tiễn cũng đã rất nhiều lần chứng minh rằng, phương pháp tiếp cận tư duy mới, cách thức để khởi nguồn sự sáng tạo, khơi mầm cho những đột phá mới chính là không ngại đoạn tuyệt với lề thói cũ, biết suy nghĩ độc lập và kiên trì theo đuổi sự khác biệt.

    Thế giới ngày nay buộc phải nhìn nhận lại mình. Tư duy dự báo cũng phải thay đổi triệt để. Các nhà hoạch định chính sách Việt Nam không nên và không được phép bỏ qua thời khắc này.

  • Nguyễn Tiểu Ngôn

    09:53 (GMT+7) - Thứ Ba, 10/2/2009

    Trong thời gian qua đã có nhiều bài báo và cả các nhà lãnh đạo Việt Nam trả lời về công tác dự báo. Hầu hết các bài báo và tác giả trả lời phỏng vấn đều nêu lên yêu cầu phải dự báo đúng, chính xác?

    Nếu dự báo là đúng và chính xác thì các nhà quản lý không cần phải có trình độ quản lý và kinh nghiệm...mà chỉ cần làm theo đúng kết quả các dự báo là được. Thật ra không có dự báo nào chính xác 100% mà đều có sai số và xác xuất (khả năng) xảy ra với kết quả dự báo.

    Do đó công tác dự báo là nhằm nêu ra nhiều khả năng xảy ra trong tương lai và xác suất xảy ra để từ đó đề ra biện pháp đối phó thích hợp với từng hình huống dự báo. Nhưng điều quan trọng nhất là phải dự báo dựa trên các con số có thực và bài toán tính toán có thực chứ không nên dựa trên tình huống cảm nhận không có căn cứ và bốc đồng như trong thời gian qua.

    Vậy nên không nên đem các dự báo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và các ngân hàng khác ra để chỉ trích rằng họ đã dự báo sai.

    Về nguyên nhân cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay trên thế giới, theo dõi diễn đàn kinh tế thế giới tại DAVOS, hiện nay các nhà lãnh đạo thế giới và các chuyên gia kinh tế hàng đầu vẫn chưa xác định được nguyên nhân của cuộc khủng hoảng này. Và do đó họ cũng chưa dự báo được khi nào thì mới chặn đứng cuộc suy thoái kinh tế này cũng như khả năng phục hồi của nền kinh tế thế giới trong tương lai.

  • N.T.Đ

    16:52 (GMT+7) - Thứ Hai, 9/2/2009

    Khoa học công nghệ của ta còn kém, dữ liệu lại không thích hợp nên việc dự báo không tốt ở những thời điểm nhạy cảm như hiện nay là điều có thể hiểu.

    Tuy nhiên, khi xảy ra biến động, cần phải thay đổi dự báo thì khả năng đưa ra dự báo mới là quá chậm. Dự báo sai vài % không phải là vấn đề lớn nhưng khi phát hiện nó không
    hợp lý thì cần điều chỉnh kịp thời.

  • Lê Kim Hà

    13:26 (GMT+7) - Thứ Hai, 9/2/2009

    Cái chuyện dự báo sai do thiếu thông tin và xử lý thông tin kém thì dường như ai cũng biết. Xin có mấy câu hỏi sau:

    1. Nước ta lúc nào cũng thiếu thông tin, và khả năng xử lý thông tin lúc nào cũng kém. Tại sao mấy năm trước các dự báo của ta không đến nỗi sai trầm trọng lắm, mà chỉ có năm rồi mới sai nhiều thế?

    2. Nước Mỹ có thiếu thông tin, thiếu minh bạch, thừa bệnh thành tích không? Họ, với vô số kinh tế gia hàng đâu, với vô số mô hình xử lý thông tin tân tiến nhất, khả năng xử lý thông tin có kém không? Vậy tại sao họ cũng dự báo sai bét, và cũng giống như ở ta, sai nặng nề nhất là vào năm rồi, chứ mấy năm trước thì hình như không đến nỗi thế?


    3. Phải chăng ở đây còn có cái gì đó sâu xa hơn mà các nhà phân tích, dự báo kinh tế chưa nắm được, nên họ chưa thể đưa ra các dự báo chính xác? Phải chăng họ mới chỉ thấy và phân tích các hiện tượng bề mặt, chứ chưa nắm được các vấn đề mang tính bản chất của nền kinh tế? Mấy năm trước dự báo của họ chưa sai lắm phải chăng chỉ là ăn may?

  • Ng.T.T

    12:09 (GMT+7) - Thứ Hai, 9/2/2009

    Xét cho cùng, việc dự báo vĩ mô của các ngân hàng nước ngoài về Việt Nam khá là chính xác. Chúng ta phải thấy may mắn là khủng hoảng đã không vượt quá khỏi tầm kiểm soát.

    Còn việc các ngân hàng khi bị phá sản chẳng qua là họ nằm trong "tâm bão" mà thôi. Theo như tác giả chúng ta cần phải : được cung cấp thông tin không thiếu cũng không thừa, thông tin phải có độ tin cậy cao, thông tin phải thật cập nhật, và cuối cùng có thông tin rồi phải phân tích thật là chính xác.

    Bài viết của tác giả thật đúng như tựa đề "Tản mạn về một cái gì đó".

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Doanh nhân

BLDP

21:15 (GMT+7) - Thứ Năm, 24/5/2012

@Hai Truong: Bạn nhầm rồi ! Đứng ở góc độ vĩ mô, ở các nước, họ chỉ hỗ trợ 1 số ít doanh nghiệp hoặc...

Trong bài: “Cứu” doanh nghiệp: “Nên hỏi xem họ khó gì, cần gì” (6 ý kiến)

Đỗ Duy Chính

18:41 (GMT+7) - Thứ Năm, 24/5/2012

Ý kiến của ĐB Nguyễn Hồng Sơn và Nguyễn Minh Quang thật xác đáng, thực tế quá. Chính phủ cần phải xem xét ý kiến...

Trong bài: “Cứu” doanh nghiệp: “Nên hỏi xem họ khó gì, cần gì” (6 ý kiến)

Hai Truong

17:06 (GMT+7) - Thứ Năm, 24/5/2012

Tôi vẫn ủng hộ giải pháp cứu doanh nghiệp, đồng ý là doanh nghiệp phải chịu quy luật cạnh tranh gay gắt của thị trường,...

Trong bài: “Cứu” doanh nghiệp: “Nên hỏi xem họ khó gì, cần gì” (6 ý kiến)

Lê Minh Châu

16:08 (GMT+7) - Thứ Năm, 24/5/2012

@ bạn Đặng Thế Quyết: Ai có thể cứu DN nếu DN không thể tự cứu mình. Tôi có cách nhìn lkhác với bạn. DN thành...

Trong bài: “Cứu” doanh nghiệp: “Nên hỏi xem họ khó gì, cần gì” (6 ý kiến)

HOGFG

15:31 (GMT+7) - Thứ Năm, 24/5/2012

Yếu thì phải chết chứ kêu ca làm gì. Ở đây là kinh tế là cải cách kinh tế chứ có phải chổ làm từ...

Trong bài: “Cứu” doanh nghiệp: “Nên hỏi xem họ khó gì, cần gì” (6 ý kiến)