VnEconomy > Tài chính 09:04 (GMT+7) - Thứ Ba, 10/2/2009

Tỷ giá 2009: Tăng trong vòng kiểm soát?

Hầu hết các tổ chức cũng như báo cáo gần đây đều có xu hướng dự báo tỷ giá USD/VND có chiều hướng tăng...

Tỷ giá 2009: Tăng trong vòng kiểm soát?

Giảm được nỗi lo nhập siêu là yếu tố căn bản loại bỏ được phần lớn mối đe doạ mất cần đối cung cầu ngoại tệ - Ảnh: Getty Images.

Tỷ giá là đề tài được quan tâm khá nhiều từ đầu năm 2009 đến nay. Hầu hết các tổ chức cũng như báo cáo gần đây đều có xu hướng dự báo tỷ giá có chiều hướng tăng, thậm chí còn xuất hiện lo ngại tỷ giá USD/VND có thể lên tới mức xấp xỉ 20.000 vào thời điểm cuối năm 2009.

Xu hướng tăng được nhiều quan điểm biện hộ bằng các dấu hiệu như xuất khẩu khó khăn, các nguồn vốn nước ngoài như FDI, FII giảm sút. Mặc dù vậy, mới đây Thủ tướng Chính phủ đã có thông điệp cho thấy Chính phủ sẽ kiềm chế và không có chủ trương phá giá đồng VND.

Chúng ta hãy xem xét thêm các yếu tố ủng hộ xu hướng tăng và ngược lại, từ đó có thêm cái nhìn nhiều chiều hơn về câu chuyện tỷ giá, để có được bức tranh về diễn biến tỷ giá năm 2009 cho chính mình.

Các yếu tố ủng hộ tỷ giá xu hướng tăng, gồm có:

Thứ nhất, do ảnh hưởng của cung cầu ngoại hối, nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu dự báo giảm mạnh. Số liệu về xuất khẩu trong tháng 1 cho thấy nhiều vấn đề đáng lo ngại đối với bức tranh xuất khẩu. So với tháng 1 cùng kỳ năm ngoái, xuất khẩu đã giảm 24% về giá trị.

Bên cạnh đó, số liệu không khả quan về FDI tháng 1 cũng dự báo một năm khó khăn về thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

Ngoài ra, nguồn thu kiều hối trong xu thế kinh tế thế giới suy thoái cũng được dự báo không khả quan. Đây là 3 nguồn thu ngoại tệ chủ yếu của Việt Nam, quyết định khá lớn trong cán cân cung cầu ngoại hối.

Thứ hai, với mục đích hỗ trợ xuất khẩu, tỷ giá có thể được điều chỉnh tăng theo sự chủ động điều hành chính sách tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước.

Hiện nay, giá trị xuất khẩu chiếm đến 70% GDP của Việt Nam, và nền kinh tế cũng khá mở với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tương đương 1,7 lần GDP. Tỷ giá do vậy là công cụ rất quan trọng để kích thích tăng trưởng.

Ngoài ra, so với các đồng tiền khác trong khu vực cũng có xu hướng mất giá so với USD (chẳng hạn Rupee của Ấn Độ mất giá 18%, Rupiah của Indonesia mất giá 14%, Peso của Philipinnes mất giá 13%), việc tăng tỷ giá sẽ giúp Việt Nam tiếp tục duy trì sức cạnh tranh với những nước này.

Thứ ba, chính sách kích cầu của Chính phủ sẽ đi kèm với nới lỏng hơn tiền tệ, và như vậy đã làm yếu đồng VND một cách tương đối so với USD do cung tiền đồng tăng lên.

Bên cạnh đó nguồn vốn để kích cầu nếu có sử dụng nguồn từ dự trữ ngoại hối, cũng sẽ gây áp lực lên dự trữ ngoại hối của Việt Nam. Trong bối cảnh nguồn thu giảm mạnh (xuất khẩu dầu thô giảm mạnh) và tình trạng bội chi kéo dài, áp lực này có thể làm tăng tỷ giá.

Thứ tư, áp lực tiếp tục rút vốn của nhà đầu tư nước ngoài trong bối cảnh suy thoái kinh tế là khó tránh khỏi, trong đó có cả các nguồn vốn đầu tư gián tiếp.

Theo một nguồn ước đoán, số vốn nước ngoài đầu tư cả cổ phiếu và trái phiếu tại Việt Nam hiện khoảng còn từ 3-4 tỷ USD (so với hồi đỉnh cao 8-9 tỷ USD).

Nếu tình trạng ảm đạm của đầu tư chứng khoán tại Việt Nam không cải thiện, số vốn này có thể được dần rút ra, gây áp lực lên tỷ giá.

Về cơ bản, người viết cũng cho rằng tỷ giá có thể có xu hướng tăng theo các lý do trên. Tuy nhiên, các vấn đề tăng do mất cân đối cung cầu nghiêm trọng, khủng hoảng tâm lý... sẽ không xảy ra, mà nằm chủ yếu ở sự điều hành có chủ ý của và chủ động của Ngân hàng Nhà nước.

Xu hướng điều chỉnh tăng tỷ giá có lẽ là khó tránh khỏi, tuy nhiên mức độ, liều lượng là bao nhiêu cũng cần sự thận trọng nhất định.

Mức tỷ giá USD/VND được người viết dự báo cuối năm nằm trong khoảng 18.500-19.000. Lý do của sự tăng thận trọng này dựa trên một số yếu tố sau:

Thứ nhất, mặc dù xuất khẩu giảm, song nhập khẩu cũng giảm theo. Số liệu tháng 1 cho thấy mức nhập siêu chỉ là 300 triệu USD, thấp nhất trong vòng 1 năm qua.

Tình hình xuất nhập khẩu tháng 1 cho thấy nhập siêu đang có xu hướng giảm trong năm 2009.

Bức tranh nhập siêu giảm mạnh đầu năm 2009 có điểm khác so với đầu năm 2008, khi mà nhập khẩu tăng mạnh do các doanh nghiệp nhập dự trữ và được hưởng nguồn tín dụng dồi dào.

Khác với năm 2008, hiện nay doanh nghiệp xuất khẩu và khối sản xuất đều đang trên con đường tìm lại đầu ra. Do vậy xu thế nhập siêu giảm này có lẽ sẽ còn kéo dài trong nhiều tháng tiếp theo của năm 2009.

Giảm được nỗi lo nhập siêu là yếu tố căn bản loại bỏ được phần lớn mối đe doạ mất cần đối cung cầu ngoại tệ.

Thứ hai, khác với trước đây, khi lạm phát còn cao, tỷ giá có áp lực tăng để hạn chế sự suy giảm của tỷ giá thực, nâng cao sức cạnh tranh cho xuất khẩu Việt Nam, thì hiện nay, lạm phát đã hạ nhanh và tiếp tục cho thấy xu thế hạ ít nhất đến giữa năm 2009. Do vậy áp lực giảm tỷ giá được giảm bớt.  

Thứ ba, mặc dù vẫn còn có nguy cơ các nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục rút vốn trên thị trường chứng khoán, tuy nhiên lượng vốn đã rút ra khá nhiều trong năm 2008 nên áp lực rút vốn còn lại không nhiều (theo một nguồn ước tính số lượng chứng khoán mà nhà đầu tư nước ngoài đang nắm giữ khoảng 3- 4 tỷ USD so với hồi đỉnh cao 8-9 tỷ USD).

Thứ tư, mặc dù lạm phát vẫn đang trong giai đoạn giảm, tuy nhiên nguy cơ mặt bằng giá cả các mặt hàng có khả năng tăng trở lại trong nửa cuối năm 2009.

Rủi ro lạm phát tăng trở lại có thể khiến chính sách điều chỉnh tăng tỷ giá có thể sẽ trở nên thận trọng hơn, do tỷ giá tăng sẽ làm tăng giá các mặt hàng nhập khẩu, đẩy lạm phát tăng cao.

Tỷ giá biến động như thế nào còn tuỳ thuộc vào tình hình diễn biến thực tế. Khả năng cao vẫn là trong xu thế tăng, tuy nhiên nằm trong sự kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước với mức tăng từ 5-7% trong năm 2009. Đến cuối năm 2009, tỷ giá nhiều khả năng nằm trong khoảng 18.500-19.000.

* Các tác giả bài viết làm việc tại Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt (BVSC).
  Bình luận (4)
Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết. Đang hiển thị 4/4 bình luận.
  • Trong dài hạn, sự phá giá đồng tiền không làm tăng tính cạnh tranh cho hàng hóa xuất khẩu. Một nhà Marketing nổi tiếng cũng đã từng nhấn mạnh ý này khi nói rằng tỷ giá không tạo nên năng lực cạnh tranh của quốc gia. Điều này hoàn toàn đúng đắn với quan điểm marketing hiện đại vốn cho rằng giá cả chỉ là phương án lựa chọn cuối cùng để tăng khả năng cạnh tranh sau khi sự thỏa mãn của khách hàng đã được khai thác triệt để và cạn kiệt bởi các nhà cung cấp.

    Thương hiệu quốc gia là chìa khóa để tăng tính cạnh tranh, gia tăng giá trị trong hàng hóa xuất khẩu. Thay vì chạy theo nỗi lo về tỷ giá trong ngắn hạn, các quốc gia tiến bộ đã có một tầm nhìn dài hạn hơn trong việc tập trung xây dựng thương hiệu quốc gia.

    Trong xu hướng toàn cầu hóa, nền kinh tế mở, mà Việt Nam đã
    quyêt định tham gia cuộc chơi khi gia nhập WTO, các thị trường sản phẩm và thị trường vốn ngày càng xích lại gần nhau và lưu thông mạnh mẽ hơn.

    Một khi mở cửa thị trường vốn và Việt Nam muốn sử dụng công cụ lãi suất để kích thích sản xuất thì tỷ giá phải được trả về với thị trường.

    Các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam đã được cảnh báo trước một thời gian dài để thay đổi, thích ứng với điều kiện mới, đối diện với tỷ giá thực, chi phí thực do cung cầu ngoại tệ trên thị trường quyết định.

    Nhưng dường như thay vì thay đổi chiến lược cạnh tranh bằng sự vượt trội trong qui trình sản xuất hiệu quả, hình thức, chất lượng sản phẩm, khả năng phân phối, marketing, xây dựng thương hiệu… các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam vẫn còn chậm chạp trong thay đổi tư duy, ỷ lại vào sự hỗ trợ trong chính sách tỷ giá của chính phủ.

    Tỷ giá chỉ là công cụ, không phải là mục tiêu. Chính phủ cần nhanh chóng nghiên cứu để tìm ra những chính sách hợp lý, phối hợp sử dụng những công cụ thích hợp để duy trì sự ổn định của tỷ giá, tạo tâm lý ổn định cho các nhà đầu tư nước ngoài hiện có, tạo môi trường kinh tế ổn định để góp phần thu hút các nhà đầu tư nước ngoài tiềm năng. Đó cũng chính là góp phần xây dựng cho thương hiệu quốc gia.

    11:44 (GMT+7) - Thứ Năm, 12/2/2009 Trả lời Thích
  • Một bài viết hay, thể hiện quan điểm rất rõ ràng, tuy nhiên có một điểm không đồng ý với tác giả về mặt lý luận.

    Bài viết có đoạn: ”Thứ nhất, mặc dù xuất khẩu giảm, song nhập khẩu cũng giảm theo. Số liệu tháng 1 cho thấy mức nhập siêu chỉ là 300 triệu USD, thấp nhất trong vòng 1 năm qua.”

    Trong toàn bộ bài viết, tất cả các luận điểm của tác giả đều có lý giải rất rõ ràng và logic bằng các mối quan hệ nhân quả trong kinh tế học vĩ mô, ngoại trừ ở luận điểm này.

    Xuất khẩu tăng và nhập khẩu cũng tăng chỉ là một quan hệ có tính tương quan, không có cở sở khoa học chắc chắn nào cho thấy rằng xuất khẩu và nhập khâu chuyển động cùng chiều.

    Một khẩu hiệu như “người Nhật dùng hàng Nhật” mà Nhật Bản đã từng áp dụng sẽ làm thay đổi chiều hướng của mối tương quan này. Cảm giác dễ thấy là khi xuất khẩu tăng, thu nhập tăng, tiêu dùng tăng, trong đó có cả tiêu dùng hàng hóa nhập khẩu. Tuy nhiên, xuất khẩu và nhập khẩu phụ thuộc vào nhiều yếu tố không phải là dễ dàng nhận thấy.

    1. Độ co giãn cung cầu xuất - nhập khẩu theo giá (theo điều kiện Marshall Lerner việc phá giá tiền tệ chỉ có tác động đến cán cân thương mại khi tổng độ co giãn cung-cầu xuất-nhập khẩu theo giá lớn hơn 1, với giả định thu nhập khả dụng của người tiêu dùng không đổi).

    2. Chiến lược phát triển kinh tế của từng quốc gia.
    3. Hiệu ứng bắt chước (demonstration effect).
    4. Văn hóa, thị hiếu người tiêu dùng.
    5. Các yếu tố khác.

    Vậy, vì theo thực chứng, ở Việt Nam xuất khẩu giảm và nhập khẩu cũng giảm nên dẫn đến kết luận không nên tăng tỷ giá quá nhanh vì sẽ làm xuất khẩu tăng và dẫn đến nhập khẩu tăng là một kết luận không có cơ sở khoa học. Và nên xác định rõ ràng tăng hay giảm ở đây là xét về tính tương đối, như thế mới có ý nghĩa.

    10:59 (GMT+7) - Thứ Năm, 12/2/2009 Trả lời Thích
  • Vấn đề tỷ giá như thế nào có rất nhiều yếu tố tác động. Thứ nhất là do cung cầu ngoại tệ. Thứ hai là các mục tiêu mà chính phủ muốn hướng nền kinh tế đạt được, tiếp nữa là các điều kiện kinh tế chung...

    Tôi chỉ xin phép bày tỏ ý kiến về yếu tố thứ nhất : cung cầu ngoại tệ.

    Ngày nay, trong các cuộc trò chuyện giữa những người tiêu dùng, chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp những câu hỏi như: Cái này/mặt hàng này bao nhiêu đô?.

    Các công ty, cá nhân có nguồn thu nhập từ kiều hối, từ xuất khẩu có tâm lý cất trữ đô la để phục vụ tiêu dùng. Mặc dù tâm lý này vẫn tồn tại từ trước nhưng trong hoàn cảnh kinh tế hiện nay nó càng có dịp nở rộ.

    Hiện tại lượng USD ngoài các ngân hàng là rất lớn. Đây chính là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng khan hiếm USD đã xảy ra hồi tháng 6-7/2008.

    Mặt khác, chúng ta thấy tỷ giá của chúng ta có sự chênh lệch lớn giữa tỷ giá niêm yết và tỷ giá mua thực tế. Nó làm cho người có USD cảm thấy sự không ổn định. Họ tự đặt câu hỏi: tỷ giá ngày mai là như thế nào?

    Theo cá nhân tôi đây là những yếu điểm làm thắt chặt nguồn cung USD của chúng ta. Để giải quyết vấn đề này chúng ta nên chăng:

    -Cương quyết không để tình trạng đô la hoá nền kinh tế bằng các biện pháp, chế tài để giảm thiểu đến mức tối đa việc sử dụng USD cho các hoạt động kinh tế trong nước.

    - Giảm thiểu đến mức thấp nhất sụ chênh lệch giữa tỷ giá niêm yết và tỷ giá thực tế.

    Nếu giải quyết tốt hai vấn đề này thì sẽ giúp cân bằng được cán cân cung cầu USD.

    13:39 (GMT+7) - Thứ Ba, 10/2/2009 Trả lời Thích
  • Bài này và một loạt bài trước trên VnEconomy đã nói nhiều đến việc điều chỉnh tỷ giá theo hướng giảm giá VND so với USD trong năm 2009. Tôi thử đưa ra một cái nhìn khác:

    Tác giả viết “Rupee của Ấn Độ mất giá 18%, Rupiah của Indonesia mất giá 14%, Peso của Philipinnes mất giá 13%”. Khi dẫn những số liệu này, tác giả nên đưa ra thời hạn cụ thể mà đồng tiền mất giá vì trong thời gian 3 năm qua, phần lớn các đồng tiền đã tăng giá so với USD trước khi mất giá trở lại.

    Cũng nên dẫn những con số đối lập khác, ví dụ như đồng Baht Thailand tăng giá 16% trong 3 năm qua rồi có giảm không đáng kể gần đây, đồng Nhân dân tệ cũng tăng giá đáng kể và thậm chí đồng Kíp Lào đã tăng từ 10 ngàn kíp/USD năm 2006 lên 8,2 ngàn hiện nay.

    Như vậy không chỉ có bây giờ tỷ giá mới cứu được xuất khẩu mà xuất khẩu của Việt Nam đã được hưởng đồng VND yếu trong suốt thời gian nhiều năm qua, đặc biệt là VND yếu trên nền đồng đô la yếu, tức là yếu kép. Hưởng lợi dài như thế mà không mạnh lên thì phải chăng đã hết thuốc chữa?

    Mặt khác nhập siêu tháng 1/2009 chỉ có 300 triệu USD. Nếu ngoại suy ra thì cả năm chỉ thâm hụt 3,6 tỷ USD, một con số chẳng có gì đáng lo ngại nếu so với lượng kiều hối hàng năm hơn 8 tỷ USD. Dù FDI và kiều hối có giảm thì tổng hai nguồn cũng dễ dàng gấp đôi con số 3,6 tỷ USD. Như vậy có thể xảy ra dư cung USD! Vậy thì tỷ giá khó mà tăng.

    Có lẽ việc tăng tỷ giá theo thị trường không gây khó chịu bằng tỷ giá “trong và ngoài” quá chênh lệch như hiện nay. Tỷ giá đó làm cho khách hàng có ngoại tệ chỉ muốn rút tiền mặt ra bán ngoài chứ không chấp nhận bán cho ngân hàng. Kết quả là chi phí giao dịch tăng lên cho cả khách hàng lẫn ngân hàng.

    Vấn đề làm biến động tỷ giá chỉ còn lại là lạm phát VND. Sự việc có thể lặp lại những năm qua, khi mà mọi thứ ở Việt Nam đắt lên không chỉ so với VND mà còn so với USD. Việt Nam đắt đỏ hơn so với các nước trong khu vực sẽ là rào cản lâu dài đối với đầu tư nước ngoài và du lịch. Những khó khăn này có thể sẽ đeo bám chúng ta nhiều năm, ngay cả sau khi thế giới đã ra khỏi cuộc khủng hoảng hiện nay.

    10:32 (GMT+7) - Thứ Ba, 10/2/2009 Trả lời Thích
Bình luận của bạn
Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu.
Gõ Telex Gõ VNI
Chọn hình đại diện cho bình luận của bạn?