Báo cáo Harvard: Việt Nam cần từng bước giảm giá VND

HOÀNG VŨ

16/02/2009 09:34 (GMT+7)

picture Một nguyên nhân của tình trạng thâm hụt thương mại là VND đã trở nên quá mạnh so với các đồng tiền của các đối tác thương mại chủ yếu.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Chính phủ cần ưu tiên cao cho việc từng bước giảm giá VND và chú trọng đúng mức tới xu thế và mức tỷ giá hiệu dụng thực.

Đó là một trọng tâm khuyến nghị trong bản thảo luận chính sách số 4 của Chương trình Việt Nam tại Đại học Harvard, vừa chuyển tới Chính phủ nhằm đáp ứng yêu cầu mới về những phân tích chính sách độc lập thường kỳ.

Và một trong 7 khuyến nghị mà nhóm nghiên cứu của Harvard đặt ra đối với Chính phủ Việt Nam, cũng là một lựa chọn của chính sách, là cần từng bước giảm giá VND.

“VND đã trở nên quá mạnh”

Theo tính toán của nhóm nghiên cứu, tỷ giá hiệu dụng thực của VND đã giảm trong giai đoạn 2000 - 2003, nhưng sau đó đã tăng gần như liên tục (trừ một giai đoạn giảm giá ngắn trong nửa đầu 2006) khi lạm phát bắt đầu tăng nhanh.

Tỷ giá thực của VND vào thời điểm tháng 9/2008 đã cao hơn mức của tháng 1/2000 là 20% và cao hơn mức của tháng 1/2004 tới 33%. Và xu hướng tăng tỷ giá thực của VND vẫn được duy trì trong 3 tháng cuối năm 2008 do đồng USD mạnh lên so với đồng EURO, cũng như với hầu hết các đồng tiền của châu Á.

Báo cáo nghiên cứu của Harvard nhận định, trong hai năm 2007 và 2008, Việt Nam đã tiếp nhận một lượng vốn rất lớn từ bên ngoài. Đồng thời, để đạt mục tiêu tăng trưởng cao, Chính phủ đã không ngừng đẩy mạnh đầu tư. Hệ quả của hai sự kiện này làm thâm hụt ngân sách nặng nề, thâm hụt thương mại kỷ lục và nền kinh tế trở nên quá nóng.

Một nguyên nhân của tình trạng thâm hụt thương mại là VND đã trở nên quá mạnh so với các đồng tiền của các đối tác thương mại chủ yếu.

Khi đồng tiền được định giá cao, nhập khẩu sẽ trở nên rẻ hơn còn xuất khẩu trở nên đắt hơn, do vậy lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu sẽ giảm. Là một nền kinh tế dựa nhiều vào xuất khẩu và ngày càng mở cửa đối với nhập khẩu nên Việt Nam không thể giữ tỷ giá thực của VND quá cao trong một thời gian quá dài, đặc biệt trong bối cảnh suy giảm toàn cầu năm 2009.

Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cho rằng thâm hụt thương mại của Việt Nam hiện rất cao. Việc đơn giản tăng chi tiêu của Chính phủ trong khi giữ tỷ giá cố định sẽ nới rộng thâm hụt thương mại trong khi không giúp kích cầu nội địa đáng kể. Không những thế, các doanh nghiệp trong nước sẽ phải chịu rủi ro cạnh tranh hàng nhập khẩu rẻ tiền.

Với những phân tích trên, Bản thảo luận chính sách số 4 của nhóm nghiên cứu Harvard cho rằng Chính phủ cần ưu tiên cao cho việc từng bước giảm giá VND và chú trọng đúng mức tới xu thế và mức tỷ giá hiệu dụng thực.

Nhóm nghiên cứu cũng đánh giá quyết định tăng thêm 3% tỷ giá bình quân trên thị trường liên ngân hàng vào ngày 25/12/2008 (thực chất là giảm giá VND 3%) của Ngân hàng Nhà nước là một sự khởi đầu đúng hướng. Trên thực tế, thị trường cũng đã phản ánh tích cực. Tỷ giá kỳ hạn không chuyển giao (NDF) của VND đã giảm sau sự điều chỉnh của chính sách. Tuy nhiên, thực tế tỷ giá trên thị trường ngay lập tức đụng trần cho thấy sẽ cần thêm những đợt nới rộng tỷ giá tiếp theo.

Cảnh giác những rủi ro

Chính sách giảm giá VND có kiểm soát là cần thiết, nhưng nhóm nghiên cứu cũng đưa ra một số rủi ro liên quan mà Chính phủ Việt Nam cần cảnh giác nếu theo đuổi chính sách đó.

Cụ thể, rủi ro thứ nhất là nhiều doanh nghiệp của Việt Nam đã vay USD từ các ngân hàng trong nước và quốc tế. Nếu nguồn thu nhập chính của họ bằng VND và phải trả nợ bằng USD thì khi tỷ giá USD/VND tăng, lợi nhuận của các doanh nghiệp này sẽ giảm, thậm chí một số trường hợp có thể không trả được nợ và ngân hàng phải chịu thêm nợ xấu.

Vì lý do trên, khuyến nghị đưa ra là việc điều chỉnh tỷ giá nên tiến hành theo từng bước và Ngân hàng Nhà nước phải phát đi những tín hiệu rõ ràng để những người đi vay ngoại tệ có thời gian điều chỉnh.

Thứ hai là rủi ro về lạm phát. Giá nội tệ giảm làm hàng nhập khẩu trở nên đắt hơn một cách tương đối. Khi đó, nếu các nhà sản xuất trong nước có thể cung cấp những hàng hóa thay thế hàng nhập khẩu với giá rẻ hơn thì người tiêu dùng và doanh nghiệp sẽ chuyển sang mua những hàng hóa này. Tuy nhiên, thực tế là nhiều hàng hóa mà người dân và doanh nghiệp cần trong nước lại chưa sản xuất được, hay sản xuất được nhưng có mức giá cao hơn hay chất lượng thấp hơn hàng nhập khẩu. Kết quả là nền kinh tế sẽ “nhập khẩu” lạm phát từ bên ngoài khi VND giảm giá.

“Đây là một nguyên nhân khiến cho việc tăng thâm hụt ngân sách tại thời điểm này trở nên rất rủi ro. Nếu áp lực lạm phát cao trở lại, việc giảm giá VND sẽ dẫn tới tình trạng leo thang giá cả. Đối với một nền kinh tế nhỏ và mở như Việt Nam, chính sách giảm giá đồng nội tệ tỏ ra hợp lý hơn việc gia tăng thâm hụt ngân sách. Nếu hai điều này xẩy ra cùng một lúc thì lạm phát sẽ còn tăng nhanh hơn nữa”, nhóm nghiên cứu nhận định.

Thứ ba, tỷ giá USD/VND có thể bị “tăng quá mức” khi người trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài mất niềm tin vào khả năng quản lý cung tiền của các cơ quan điều hành chính sách tiền tệ. Người dân và doanh nghiệp sẽ tranh mua ngoại tệ mạnh hay vàng khi đồng nội tệ bắt đầu mất giá.

Nếu tính huống đó xẩy ra, hệ quả mà nhóm nghiên cứu đề cập tới là “trong nỗ lực bảo toàn tài sản, người ta có thể chấp nhập trả một mức giá cao bất thường miễn là mua được ngoại tệ, và không một mức lãi suất nào đủ cao để kéo họ trở lại với đồng nội tệ”.

Với lý do trên, Chính phủ không thể vừa cắt lãi suất, vừa giảm giá đồng tiền. Người tiết kiệm VND phải được hưởng lãi suất cao hơn để bù đắp cho việc VND mất giá. Nói cách khác, tốc độ giảm giá hàng năm của VND phải phản ánh sự khác biệt về lãi suất tiết kiệm giữa USD và VND.

7 khuyến nghị của bản thảo luận chính sách số 4

1. Từng bước giảm giá VND. Việc giảm giá VND có kiểm soát so với đồng tiền của các đối tác thương mại chính phải được tiến hành song song với việc kiểm soát chặt thâm hụt ngân sách và theo dõi cẩn thận lãi suất tiết kiệm. Ngân hàng Nhà nước phải truyền tải thông điệp chính sách một cách rõ ràng và thuyết phục tới thị trường và công chúng, giúp họ có đủ thời gian và thông tin để điều chỉnh hoạt động của mình.

2. Xem xét lại ưu tiên của đầu tư công. Chương trình đầu tư công của Việt Nam phải tập trung vào những dự án thâm dụng lao động, không đòi hỏi phải nhập khẩu nhiều và giúp khắc phục những ách tắc chủ yếu trong nền kinh tế. Chính phủ nên tạm dừng các dự án thâm dụng vốn và phải nhập khẩu nhiều. Các dự án không có luận chứng kinh tế thuyết phục như lọc dầu và tổ hợp cảng cần phải hủy bỏ.

3. Thành lập tổ công tác đặc biệt về đầu tư công với nhiệm vụ đề xuất những cải cách thủ tục liên quan tới quá trình hoạch định, xét duyệt, thực hiện và đánh giá các dự án đầu tư công để giúp đẩy nhanh tiến độ giải ngân, đồng thời vẫn đảm bảo được tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và tỷ suất lợi nhuận nhất định.

4. Ngừng cấp phép thành lập mới ngân hàng, công ty tài chính, bảo hiểm và đánh giá lại cơ cấu sở hữu của những tổ chức tài chính hiện hữu. Đây là lúc phải củng cố hệ thống tài chính bằng cách loại trừ việc cho vay trong nội bộ tập đoàn và các hành động tập trung quyền lực tài chính và rủi ro vào trong tay một vài tập đoàn lớn của nhà nước.

5. Không nên tăng thâm hụt ngân sách. Thâm hụt ngân sách của Việt Nam hiện đã ở mức rất cao. Điều này có nghĩa là dư địa cho việc thực hiện gói kích thích thông qua chính sách tài khóa là rất hạn chế và việc cho phép gia tăng thâm hụt ngân sách đồng nghĩa với mức rủi ro cao hơn đối với nền kinh tế.

6. Không được đánh mất sự kiểm soát đối với tăng trưởng cung tiền và tín dụng. Lạm phát đã giảm nhưng chưa hoàn toàn biến mất vì những nguyên nhân có tính cơ cấu của nó chưa bị loại trừ. Việc tăng tín dụng đột ngột sẽ làm lạm phát quay trở lại và khuyến khích nhập khẩu trong khi nguồn ngoại tệ để tài trợ nhập khẩu của Việt Nam ở thời điểm này hạn chế. Tín dụng tăng trưởng nhanh cũng có thể sẽ dẫn đến bong bóng tài sản, ảnh hưởng tới sự bền vững của tăng trưởng. Tất cả những phân tích này cùng dẫn đến một kết luận là dư địa cho việc thực hiện gói kích thích thông qua chính sách tiền tệ ở Việt Nam cũng khá hạn chế.

7. Cần phải khuyến khích cạnh tranh. Các doanh nghiệp của Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước, sẽ không thể có năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới nếu như không được tập dượt cạnh tranh trên thị trường nội địa. Những khó khăn kinh tế hiện thời không thể bị lợi dụng để quay trở lại những chính sách phi cạnh tranh, chẳng hạn như hạn chế đấu thầu cạnh tranh và tăng quyền chỉ định định thầu cho các doanh nghiệp nhà nước.

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Quang Ngàn

    15:24 (GMT+7) - Thứ Năm, 19/2/2009

    Rõ ràng với tình trạng nhập siêu tăng vọt như hiện nay, cộng với dự trữ ngoại hối có hạn của Nhà nước, thì việc phá giá VND sẽ diễn ra trong nay mai. Nhưng điều quan trọng là nó sẽ diễn ra thế nào?

    Do vậy cần có những phân tích kỹ lưỡng. Từ từ từng bước vẫn là hay hơn cả. Vì nếu để quá lâu, những hậu quả sẽ tích tụ lại. Còn giải quyết nhanh, e là tâm lý bầy đần sẽ gây náo động trong nền kinh tế.

  • Phan Văn Tuấn

    09:59 (GMT+7) - Thứ Năm, 19/2/2009

    Theo tôi, việc giảm giá hay phá giá đồng VND là chưa phù hợp vì một số lý do sau.

    Thứ nhất, chúng ta cần biết rằng giảm giá VND để có lợi cho xuất khẩu nhưng lại là thiệt hại cho nhập khẩu, trong khi chúng ta đang là một nước nhập siêu.

    Thứ hai, giảm giá VND hiện nay sẽ làm nguồn cung thiếu thốn, dẫn đến giá cả tăng cao và hệ quả là giảm cầu tiêu dùng.

    Thứ ba, nền kinh tế chúng ta đang nóng nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế hiện tại là liều thuốc làm "nguội" rất tốt, nó đã đánh thức nhiều nhà đầu tư, làm cho họ cân nhắc hơn khi quyết định đầu tư.

  • Thanh Hằng

    09:41 (GMT+7) - Thứ Năm, 19/2/2009

    Thực tế hiện nay khoảng chênh lệch tỷ giá tại các ngân hàng và chợ đen đã giảm xuống nhiều.

    Tôi đồng ý với Ngọc Hiệp là nếu tăng tỷ giá (giảm giá VND) lúc này sẽ gây ra nhiều hệ lụy khó lường mà Chính phủ cũng như dân cả nước phải đối mặt. Mong chúng ta sẽ được thừa hưởng lợi ích của những chính sách thích hợp. Tôi tin chúng ta sẽ vượt qua được giai đoạn khó khăn của 2009 này.

  • Chuong CFO

    21:10 (GMT+7) - Thứ Tư, 18/2/2009

    Vấn đề tỉ giá luôn có 2 mặt của nó, muốn đưa ra quyết định phải có những báo cáo cụ thể thì mới ra quyết định được.

    Tuy nhiên nếu theo những thông tin tôi biết được và ý kiến cá nhân của mình, tôi cho rằng không nên phá giá mạnh đồng tiền VND vào lúc này. Làm vậy chưa chắc giải quyết toàn diện vấn đề thâm hụt thương mại mà có khi còn gây ra gánh nặng cực lớn cho nợ nước ngoài của Chính phủ.

    Thiết nghĩ chúng ta nên theo đuổi chính sách phá giá nhiều lần, mỗi lần một ít và chọn đúng thời điểm. Thời điểm đúng ở đây là khi chúng ta có được những tín hiệu tốt từ xuất khẩu.

  • Ngọc Hiệp

    15:47 (GMT+7) - Thứ Tư, 18/2/2009

    Bạn quên rằng nếu giảm giá VND thì kéo theo hệ luỵ là hàng triệu cán bộ công nhân viên (gồm cán bộ nhà nước, bác sĩ, giáo viên, công nhân...) đang hưởng mức lương hiện nay sẽ sống ra sao?

    Lúc này đòi hỏi phải tăng lương? trong điều kiện nền kinh tế thế giới đang suy thoái? và nếu tăng lương như vậy đồng nghĩa với một lượng tiền mặt sẽ ồ ạt được bơm vào trong lưu thông. Giá cả thì tăng nhanh và lạm phát là không thể tránh khỏi.

  • Lê Tuấn Anh

    13:07 (GMT+7) - Thứ Tư, 18/2/2009

    Bạn nghĩ gì khi phải mua 20.000đồng một mớ rau muống? Đừng có thuyết phục tôi rằng chuyện đó là bình thường.

  • Nguyễn Hữu Thịnh

    09:30 (GMT+7) - Thứ Tư, 18/2/2009

    Đồng tiền Việt Nam hẳn là đang tăng tương đối trong thời gian vừa qua, một phần có làm ảnh hưởng tới hoạt động thương mại theo như báo cáo của nhóm nghiên cứu Harvard.

    Nhưng tôi nhận thấy việc giảm giá đồng nội tệ đang được nhiều nước tiến hành và đó chủ yếu là các nước đã có nền kinh tế phát triển. Vậy nếu áp dụng vào nước ta trong giai đoạn khó khăn hiện nay có hẳn là đúng đắn?

  • Vũ Dũng

    22:46 (GMT+7) - Thứ Ba, 17/2/2009

    Một nghịch lý: giá trị VND tăng so với USD, nhưng giá cả các mặt hàng trong nước lại có xu hướng giảm. Phải chăng đã và đang có một khối lượng tiền mặt VND dư thừa lưu hành?

  • AQ

    13:36 (GMT+7) - Thứ Ba, 17/2/2009

    Cắt giảm và kiểm soát chặt chẽ chi tiêu công là giải pháp đúng và rất nên làm. Thế nhưng thực hiện như thế nào, khi mà vấn đề cải thiện hiệu quả đầu tư công thấp, chống lãng phí, thất thoát, tham nhũng,.. từ lâu đã được mổ xẻ nhưng hiệu quả đâu chưa thấy.

    Tôi đồng ý cả quan điểm kiểm soát, đánh giá lại cơ cấu sở hữu của các ngân hàng. Ngân hàng là trung gian lưu chuyển tiền tệ - nơi "thực thi" tạo ra lượng tiền trong lưu thông. Chẳng phải gần đây Nhật Bản đã "ngạc nhiên" trước gói kích cầu tiêu dùng của Mỹ thay vì thực hiện bài học kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc cải tổ hệ thống ngân hàng hay sao?

    Khi các ngân hàng được cải tổ lại trong quản lý, thắt chặt hơn hoạt động tín dụng của mình thông qua yêu cầu các tổ chức/ cá nhân đảm bảo tính minh bạch về tình hình hoạt động/ tình hình tài chính, hiệu quả tăng trưởng của nền kinh tế sẽ lớn hơn rất nhiều.

    Khi cả thế giới đang phát triển, việc thay đổi mạnh mẽ về cơ chế quản lý và điều hành nền kinh tế có thể làm 1 quốc gia bị thụt lùi (tạm thời) tương đối so với các quốc gia còn lại. Nhưng khi nền kinh tế toàn cầu đang suy thoái và đâu đâu cũng có những cải tổ, đây là cơ hội to lớn cho nền kinh tế Việt Nam để khắc phục những tồn tại đã quá lâu đời của mình.

    Theo quan điểm của cá nhân, thay vì kích cầu sản xuất vào một số ngành nghề, lĩnh vực (khi mà thị trường đầu ra còn chưa được đánh giá và dự báo đúng mức, khủng hoảng kinh tế chưa lường trước được những diễn biến tiếp theo), chúng ta có thể đầu tư vào những ngành nghề cơ bản nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống.

    Ví dụ, chúng ta có thể tăng cường lao động trong lĩnh vực vệ sinh môi trường đô thị, và tăng cường hiệu quả của chế tài xử lý những cá nhân, tập thể có hành vi gây ô nhiễm môi trường. Điều này sẽ tạo công ăn việc làm cho 1 bộ phận người lao động (vô hình chung tăng cầu tiêu dùng các mặt hàng thiết yếu của họ). Và cái được về dài lâu là vấn đề trong sạch của môi trường, tăng mức độ hài lòng của người dân với cuộc sống, và hoàn toàn có thể phục vụ tốt cho ngành du lịch sau này.

    Để thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, không cách nào khác là nhìn thẳng vào yếu kém của mình và phải cải tổ sâu sắc. Chỉ từ những thay đổi nhỏ trong ý thức của từng công dân Việt Nam, tôi tin chúng ta có thể tiến bộ vượt bậc hơn trong thời gian từ 3 - 5 năm tới, thay vì nhiều năm "dò dẫm" và có quá ít thay đổi như hiện nay.

    Vấn đề là chúng ta có MUỐN nó hay không?

  • Hoi An

    09:08 (GMT+7) - Thứ Ba, 17/2/2009

    Đúng là các dự án lọc dầu là lĩnh vực mũi nhọn, nhưng tôi thử hỏi các vị ta bỏ ra 100 đồng để lãi có 1đồng trong thời điểm hiện nay thì có nên hay không? chưa tính đến thất thoát đầu tư và sự yếu kém về quản lý công.

    Sự kỳ vọng vào tương lai lâu dài của sự phát triển Quốc gia thì ai cũng mong nhưng làm thì phải có lãi!

  • Thu Hương

    07:42 (GMT+7) - Thứ Ba, 17/2/2009

    Xem xét lại các dự án đầu tư công là đúng nhưng tại sao lại lấy ví dụ "Các dự án không có luận chứng kinh tế thuyết phục như lọc dầu và tổ hợp cảng cần phải hủy bỏ"?

    Lọc dầu và tổ hợp cảng là những lĩnh vực mũi nhọn, có tác dụng lâu dài đối với sự phát triển kinh tế. Đâu thể chỉ vì khó khăn trước mắt mà bỏ qua lợi ích lâu dài?

  • Anh Quân

    10:25 (GMT+7) - Thứ Hai, 16/2/2009

    Lời khuyên phá giá VND đã có từ lâu. Vấn đề là lợi hại thế nào thì chưa có nghiên cứu phân tích kỹ.

    Một chuyên gia kinh tế gần đây có phân tích rằng nếu phá giá mạnh tay 15-20% VND trong một đêm, điều này có thể thay đổi cục diện thương mại quốc tế của Việt Nam, làm tăng sức cạnh tranh của hàng nội trước hàng ngoại.

    Lúc đầu, thị trường có thể bị sốc, nhưng sẽ tạo đà cho các doanh nghiệp vực dậy được sản xuất.

    Ngược lại, nếu phá giá từng bước một, người dân có suy nghĩ giá USD tiếp tục tăng, vì vậy sẽ mua vào, tạo hiệu ứng tăng giá USD, có thể vượt ngoài kiểm soát của người làm chính sách.

    Nhưng, chuyên gia nọ cũng cho rằng đó là lợi ích về phía doanh nghiệp và xã hội. Đối với Chính phủ, chủ yếu sẽ bị thiệt, vì khoản vay nước ngoài 18 tỷ USD sẽ phải trả bằng nhiều VND hơn, ảnh hưởng mạnh đến chính sách tài khóa.

    Hơn nữa, một số doanh nghiệp Nhà nước có khoản nợ nước ngoài lớn cũng có thể gây sức ép đến chính sách tỷ giá của Chính phủ (ước tính tổng số nợ Chính phủ và doanh nghiệp vào khoản 30% GDP).

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Tài chính

O_209V

21:00 (GMT+7) - Thứ Năm, 24/5/2012

Hoàn toàn đồng ý với cua đồng !...

Trong bài: Ngân hàng thừa thanh khoản, doanh nghiệp suy kiệt vốn (10 ý kiến)

cua đồng

17:47 (GMT+7) - Thứ Năm, 24/5/2012

Vấn đề chính là xuất khẩu bị giảm sút do khủng hoảng kinh tế, tính cạnh tranh của nền kinh tế thấp. Nếu bây giờ...

Trong bài: Ngân hàng thừa thanh khoản, doanh nghiệp suy kiệt vốn (10 ý kiến)

Hữu Trần

17:31 (GMT+7) - Thứ Năm, 24/5/2012

Tất cả không nằm ở chính sách mà nằm ở chỗ điều hành, kiểm tra, xử lý các đơn vị bị ảnh hưởng bởi chính...

Trong bài: Thống đốc Nguyễn Văn Bình: Xem xét lại lãi suất cơ bản (4 ý kiến)

Mai Thiên Bình

17:14 (GMT+7) - Thứ Năm, 24/5/2012

Cứ xác định lãi suất cơ bản phù hợp, thực hiện đúng luật ngân hàng thì chẳng cần trần nào cả và đây chính là...

Trong bài: Sẽ dứt điểm câu chuyện lãi suất cơ bản? (1 ý kiến)

Nguyễn Trường An

15:17 (GMT+7) - Thứ Năm, 24/5/2012

Thiết lập lại LSCB là cần thiết: 1. LSCB là cương để NHNN điều hành TT tiền tệ. NHNN không phải cứ chạy vòng từ trần LS...

Trong bài: Thống đốc Nguyễn Văn Bình: Xem xét lại lãi suất cơ bản (4 ý kiến)