“Không nên quá kỳ vọng vào gói kích cầu”

TÚ UYÊN

23/02/2009 08:13 (GMT+7)

picture TS. Vũ Thành Tự Anh.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Chính phủ đã có một loạt chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, kích thích tiêu dùng, như bù lãi suất vay, giảm thuế VAT, giãn thuế...

Đánh giá về hiệu quả những chính sách này, TS. Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright tại Việt Nam, nói.

- Để kích thích tăng trưởng kinh tế, Chính phủ đã sử dụng cả chính sách tài khóa và tiền tệ. Trong phạm vi của chính sách tài khóa, kích thích tiêu dùng nội địa là một biện pháp quan trọng hàng đầu.

Kích thích tiêu dùng thành công sẽ trực tiếp giải tỏa bớt khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay, đó là nhu cầu sụt giảm trên cả thị trường trong nước và nước ngoài.

Để kích thích tiêu dùng, Chính phủ đã quyết định giảm 50% thuế VAT đối với 19 nhóm mặt hàng và hoãn thu thuế thu nhập cá nhân trong 5 tháng đầu năm 2009. Các nhà làm chính sách cho rằng giảm thuế VAT sẽ giúp giảm giá bán, nhờ đó tăng cầu cho sản phẩm; còn hoãn thuế thu nhập cá nhân sẽ giúp tăng thu nhập khả dụng, nhờ đó tăng chi tiêu của người tiêu dùng.

Về mặt lý thuyết, đây là những kỳ vọng hợp lý. Tuy nhiên, trên thực tế có thể những chính sách này không kích được tiêu dùng như kỳ vọng vì phản ứng của người tiêu dùng có thể rất khác so với tính toán của các nhà làm chính sách.

Bên cạnh chính sách giảm và hoàn 90% thuế VAT cho doanh nghiệp, Chính phủ còn giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp trong quý 4/2008 và cả năm 2009, đồng thời giãn thuế trong thời gian 9 tháng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Mặc dù chính sách này không trực tiếp giải quyết được vấn đề cơ bản của doanh nghiệp là thiếu đầu ra cho sản phẩm nhưng đây vẫn là một chính sách được cộng đồng doanh nghiệp hoan nghênh vì nhờ nó doanh nghiệp giảm được chi phí.

Về chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước đã chủ động tăng tỷ giá USD/VND và hạ lãi suất cơ bản. Đây là những chính sách rất đúng hướng, vừa góp phần giảm chi phí vốn vay cho doanh nghiệp vừa giúp cải thiện cán cân ngoại thương.

Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cũng có chính sách hỗ trợ lãi suất 4% cho doanh nghiệp cho đến hết năm 2009. Bản chất của việc bù 4% lãi suất là sử dụng công cụ tài khóa để thực hiện chính sách tiền tệ. Số tiền dùng để bù 4% lãi suất là từ ngân sách, được Ngân hàng Nhà nước triển khai thông qua hệ thống ngân hàng thương mại. Trong chính sách này, ngân hàng thương mại đóng vai trò trung gian giữa Ngân hàng Nhà nước và doanh nghiệp để thực hiện việc hỗ trợ lãi suất.

Vì chính sách bù lãi suất vừa mới được triển khai nên chưa thể đánh giá một cách đầy đủ. Tuy nhiên, có thể nhìn thấy một số hạn chế tiềm tàng đối với chính sách này.

Thứ nhất, chính sách này không trực tiếp giúp giải quyết khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp hiện nay là thiếu nhu cầu thị trường. Thứ hai, chính sách này có thể không đến được những đối tượng cần hỗ trợ, thậm chí có thể hỗ trợ nhầm đối tượng do tình trạng bất cân xứng về thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước với ngân hàng thương mại và giữa ngân hàng thương mại với doanh nghiệp. Ngân hàng thương mại rất khó kiểm soát việc sử dụng đúng mục đích của đồng vốn do tính có thể hoán đổi mục đích sử dụng  của đồng tiền.

Đồng thời, chi phí cho công tác hậu kiểm của Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ rất tốn kém khi chỉ trong vòng hơn một tuần, riêng 5 ngân hàng thương mại có sở hữu nhà nước đã cho vay 32.000 tỷ đồng trong chương trình hỗ trợ lãi suất. Với tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh như vậy, việc kiểm soát kịp thời và đầy đủ của Ngân hàng Nhà nước là rất khó.

Giữa các ngân hàng thương mại và khách hàng, việc thiếu thông tin sẽ khiến nhiệm vụ của ngân hàng thương mại trong việc bảo đảm khách hàng sử dụng vốn hỗ trợ đúng mục đích trở nên khó khăn, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp có hoạt động phức tạp và có quan hệ tín dụng với nhiều ngân hàng.

Nếu không kiểm soát chặt chẽ, các khoản vay này có khả năng được sử dụng không đúng mục đích. Vốn vay được hỗ trợ lãi suất có thể được doanh nghiệp dùng để đầu cơ mua cổ phiếu, USD, vàng… thay vì đưa vào sản xuất kinh doanh.

Khi thực hiện chính sách kích cầu, chúng ta cần hiểu rằng dư địa của chính sách tài khóa và tiền tệ của Việt Nam không còn nhiều. Về mặt tiền tệ, dư âm lạm phát 20% của năm 2008 vẫn còn đó, nên chính sách tiền tệ cần được mở rộng một cách thận trọng để tránh kích hoạt một làn sóng lạm phát mới.

Bên cạnh đó, cần lưu ý thêm là chính sách tỷ giá cố định trong khi VND bị định giá cao so với USD sẽ khuyến khích nhập khẩu hàng tiêu dùng.

Không những thế, với chế độ tỷ giá cố định, khi hạ lãi suất không đi với chính sách hợp lý khác thì không những chưa chắc đã kích thích được doanh nghiệp và người dân tăng đầu tư và chi tiêu mà còn khuyến khích đầu cơ, tích trữ vàng, ngoại tệ mạnh hay đầu tư quá mức vào bất động sản, cổ phiếu.

Hơn nữa, nền kinh tế của Việt Nam nhỏ, lại có tỷ lệ nhập khẩu trong tổng tiêu dùng cao nên không thể kích cầu đơn giản chỉ bằng cách tăng chi tiêu vì khi ấy một phần lớn nhu cầu tăng thêm sẽ được thỏa mãn bởi hàng nhập khẩu chứ ít có tác dụng kích thích sản xuất trong nước.

Điều này càng đúng hơn khi trong một thời gian dài, nhiều doanh nghiệp Việt Nam chỉ theo đuổi thị trường xuất khẩu, nên không kịp điều chỉnh để quay lại thị trường nội địa khi cầu thế giới đột ngột sụt giảm.

Về mặt tài khóa, trong bối cảnh khó khăn của năm 2009, các nguồn thu ngân sách chủ yếu như xuất khẩu dầu mỏ, thuế VAT, thuế xuất nhập khẩu và thu nhập doanh nghiệp đều giảm mạnh, làm cho nguồn thu của Nhà nước giảm đáng kể, trong khi đó nhu cầu chi tiêu lại tăng  sẽ làm cho tình hình ngân sách đã khó càng trở nên khó khăn hơn.

Tóm lại, mặc dù chính sách kích thích kinh tế một cách chủ động là cần thiết, nhưng chúng ta không nên quá kỳ vọng vào các biện pháp kích cầu hiện nay sẽ giải quyết được mọi khó khăn của nền kinh tế.

Không tăng được cầu, không thể chặn đà suy giảm

Theo như ông nói, thực hiện chương trình kích cầu này thật không dễ dàng. Theo ông, cần phải mất thời gian bao lâu nữa các chính sách hỗ trợ này mới phát huy tác dụng?

Tôi nghĩ, có hai điều kiện cần để chính sách kích cầu phát huy tác dụng. Thứ nhất, chính sách phải tạo được đầu ra cho sản phẩm của doanh nghiệp; thứ hai, ngân sách kích cầu phải được sử dụng một cách hiệu quả.

Cho đến thời điểm này, có vẻ như điều kiện thứ nhất chưa đạt được, còn điều kiện thứ hai thì chưa đủ thời gian để có thể đánh giá một cách đầy đủ.

Cho đến nay, các đối tượng được vay với lãi suất hỗ trợ chủ yếu vẫn là những khách hàng quen của ngân hàng thương mại, đồng thời lượng tín dụng giải ngân chủ yếu vẫn từ các ngân hàng thương mại có sở hữu nhà nước.

Có vẻ như nguồn tín dụng rẻ này không thực sự rộng mở cho tất cả mọi đối tượng khách hàng mà chỉ đến tay những doanh nghiệp có quan hệ với ngân hàng, trong khi nhiều doanh nghiệp khác tuy thực sự có nhu cầu nhưng lại chưa vay được.

Phải mất bao lâu chính sách hỗ trợ này mới phát huy tác dụng? Theo logic của những phân tích ở trên, tôi cho rằng điều cần quan tâm lúc này là làm thế nào để chính sách kích thích kinh tế thực sự giúp tăng được cầu, có nghĩa có kích thích được sản xuất và tiêu dùng, sau đó mới có thể trả lời cầu hỏi cần bao lâu để chính sách phát huy tác dụng như mong muốn.  

Theo yêu cầu của Chính phủ, các ngân hàng đồng loạt triển khai cho doanh nghiệp vay với lãi suất ưu đãi nhằm kích cầu. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng việc làm này chủ yếu nghiêng về kích cung. Ý kiến của ông như thế nào?

Đúng là một số biện pháp trong gói kích thích của Chính phủ thiên về kích cung. Tuy nhiên không thể nói là cả gói kích thích chủ yếu nghiêng về kích cung vì trong gói này có những biện pháp kích thích tiêu dùng (hoãn thuế thu nhập cá nhân), kích thích sản xuất (giảm, giãn thuế cho doanh nghiệp) và tăng chi tiêu của Chính phủ.

Điều cần lưu ý là nếu không tăng được nhu cầu thị trường, thì dù có kích thích như thế nào đi chăng nữa cũng không giúp ngăn chặn đà suy giảm kinh tế, vì không có cầu thì doanh nghiệp càng cung nhiều, càng lỗ vốn.

Cũng cần phải nói thêm là ngay cả những biện pháp rõ ràng là có tính kích cầu, nhưng nếu không được triển khai một cách hiệu quả, đồng tiền kích cầu được sử dụng sai mục đích hay có tính đầu cơ thì cũng không có tác dụng kích cầu.

Vốn cho doanh nghiệp đã rộng cửa, chính sách hỗ trợ lãi suất cũng sẵn sàng. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn ngại chưa muốn tiếp cận vốn ngân hàng vì cho rằng thời hạn vay ngắn. Theo ông, Chính phủ có nên kéo dài thời hạn vay cũng như mở rộng đối tượng cho vay như yêu cầu của nhiều doanh nghiệp và hiệp hội ngành nghề?

Chưa thể nói là thời hạn vay này dài hay ngắn vì nó phụ thuộc vào tốc độ hồi phục của nền kinh tế thế giới và trong nước.

Nếu nền kinh tế hồi phục nhanh vào cuối 2009 và đầu 2010 thì thời gian hỗ trợ này không thể bị coi là ngắn. Nhưng nếu nền kinh tế thế giới và Việt Nam vào thời điểm cuối 2009 và đầu 2010 vẫn chưa thể hồi phục thì thời gian vay này đúng là chưa đủ.

Vì vậy Chính phủ cần có chính sách linh hoạt. Nếu theo dõi thấy nền kinh tế không có khả năng hồi phục vào cuối 2009 hoặc đầu 2010 thì có thể kéo dài thêm thời hạn áp dụng chính sách với điều kiện tác dụng của chính sách được đánh giá một cách khách quan, để tránh trường hợp việc kéo dài thời gian hỗ trợ lãi suất vừa không có tác dụng như mong muốn, vừa làm tăng thêm gánh nặng chi phí cho ngân sách nhà nước, đồng thời gia tăng tính ỷ lại của doanh nghiệp và ngân hàng.

Chuẩn bị cho thời hậu khủng hoảng

Để những chính sách kích cầu này nhanh chóng phát huy hiệu quả, Việt Nam cần phải có những giải pháp triển khai như thế nào?

Theo tôi cần phải đặt chính sách kích cầu vào trong tổng thể chung chính sách của Nhà nước và phải được phối hợp đồng bộ và hiệu quả với các chính sách vĩ mô khác.

Cụ thể là đối với chính sách tiền tệ, cần tiếp tục từng bước điều chỉnh chính sách tỷ giá trong mối quan hệ với chính sách lãi suất (tiền đồng và Đô la) một cách hợp lý.

Bởi vì nếu vẫn để VND mạnh một cách tương đối so với USD, trong khi USD vẫn đang lên giá so với các đồng ngoại tệ khác, thì sẽ làm giảm sức cạnh tranh, đồng thời khuyến khích nhập khẩu - và đây rõ ràng là những điều chúng ta không muốn.

Đối với chính sách tài khóa, vì đầu tư công của Nhà nước đã rất cao nên ưu tiên hiện nay không phải là tiếp tục đẩy mạnh đầu tư công mà là điều chỉnh cơ cấu và tăng cường hiệu quả cho đầu tư công. Nhà nước cần có chính sách cơ cấu lại và kiểm soát chặt chẽ hiệu quả của các khoản đầu tư công để tránh lạng phí.

Bên cạnh các chính sách tài khóa và tiền tệ, Nhà nước cần chú trọng đúng mức đến các chính sách xã hội, đặc biệt là hỗ trợ để giảm bớt khó khăn cho các đối tượng dễ bị tổn thương trong bối cảnh kinh tế suy giảm. Cụ thể là cần nhanh chóng có những chính sách hạn chế tình trạng thất nghiệp, hỗ trợ người lao động mất việc, trợ cấp cho những hộ nghèo ở cả thành thị và nông thôn.

Vì mọi cuộc khủng hoảng dù tồi tệ đến đâu cũng phải có hồi kết thúc, nên Chính phủ cũng cần chuẩn bị cho sự phục hồi của nền kinh tế thế giới và trong nước. Những bất ổn vĩ mô có tính nội tại cùng với tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới đã giúp chúng ta nhận diện rõ những yếu kém nội tại, có tính cơ cấu của nền kinh tế.

Đây chính là lúc chúng ta cần sáng suốt và đẩy mạnh quyết tâm khắc phục những yếu kém nội tại, thực hiện những cải cách có tính cơ cấu tuy rất khó khăn nhưng hứa hẹn sẽ đưa Việt Nam trở lại quỹ đạo tăng trưởng nhanh và bền vững. 

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Nguyễn Thảo

    11:32 (GMT+7) - Thứ Năm, 26/2/2009

    Cám ơn TS đã khát quát khá rõ ràng về những tác động của chính sách kích cầu đối với nền kinh tế nước ta.

    Tuy nhiên, tôi thấy rằng, Chính phủ bơm vốn vào doanh nghiệp cũng là một cách kích cầu. Do đặc thù doanh nghiệp nước ta chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, thiếu vốn. Nhà nước bơm vốn để giữ lại các doanh nghiệp, hạn chế tình trạng phá sản ồ ạt dẫn tới thất nghiệp ồ ạt.

    Người lao động có làm việc, có thu nhập mới có thể chi tiêu tiêu dùng được, doanh nghiệp được giảm thuế, bơm vốn mới hạ giá bán sản phẩm.

    Mặc khác, tôi thấy bên cạnh chính sách kích cầu, Nhà nước đẩy mạnh quản lý giá tiêu dùng, bình ổn giá đặc biệt các mặt hàng thiết yếu: lương thực, thực phẩm, thuốc,...và có chế tài đối với những doanh nghiệp vay vốn nhưng không đưa vào sản xuất mà ghìm vốn hay đưa vào đầu tư những hạm mục khác để tìm lợi nhuận. Như vậy chính sách kích cầu mới đem lại hiệu quả

  • Xuân Trường

    14:42 (GMT+7) - Thứ Tư, 25/2/2009

    Con người có xu hướng muốn được tiêu dùng nhiều hơn, nên phải làm việc càng ngày càng nhiều hơn. Doanh nghiệp muốn có nhiều lợi nhuận, càng phải đẩy mạnh đầu tư, sản xuất nhiều hơn. Nếu cứ duy trì tăng trưởng 5%/năm, thì đến năm thứ 10, sản lượng tăng 1,6 lần, còn nếu tăng trưởng 10%/năm, thì sau 10 năm tăng gấp 2,4 lần. Vì vậy, khủng hoảng là tất yếu trong cơ chế thị trường, không việc gì phải lo lắng, nó cũng giống như chu kì sức khoẻ của một con người vậy.

    Điều cần quan tâm là, các doanh nghiệp sẽ bị tổn thương nặng nề trong cơn khủng hoảng. Trong môi trường hội nhập toàn cầu, chính sách của nước nào giúp được các doanh nghiệp tổn thương ít hơn, gượng dậy nhanh hơn, thì sẽ có lợi hơn. Mọi chính sách của Chính phủ vừa rồi đều tốt, nhưng nếu liên quan đến tiền, thì cũng chỉ có giới hạn, không thể trông chờ nhiều, vì dự trữ của nước ta chẳng giàu có gì.

    Trong khi đó, tâm lí người tiêu dùng Việt Nam chẳng mấy yêu quý hàng trong nước, kể cả những người cũng đang tham gia vào quá trình sản xuất. Còn những người ăn lương nhà nước thì điều kiện mua được hàng ngoại giá rẻ lúc này lại càng nhiều hơn (lương vẫn có đều). Lúc này đây, ý thức và tâm lý người tiêu dùng rất quan trọng, chẳng kém gì những chính sách hỗ trợ của Nhà nước.

  • Trương Quốc Hùng

    10:35 (GMT+7) - Thứ Ba, 24/2/2009

    Phát triển thị trường nội địa là một chiến lược đúng đắn. Tuy nhiên, đây là chiến lược dài hạn nằm trong mục tiêu cải tổ cơ cấu kinh tế nên không thể dễ dàng thực hiện trong một sớm một chiều vì nó liên quan đến thu nhập của hơn 80 triệu người Việt Nam.

    Chúng ta hãy thống kê hoặc ước lượng xem sức mua của 80 triệu người Việt Nam liệu có thay thế nổi sức mua của người dân các thị trường xuất khẩu của chúng ta không, khi mà đó là những thị trường có thu nhập rất cao đem lại sức mua cực mạnh (Mỹ, EU, Nhật...).

    Với gói kích cầu thì dù cho Nhà nước có đem tiền phát không cho người dân thì chưa chắc họ đã đem ra chi tiêu. Nhưng nếu tiền không được phát cho người dân mà lại chảy vào doanh nghiệp thì lại càng nguy vì chưa chắc doanh nghiệp tiếp tục đầu tư sản xuất mà có thể ghìm vốn hoặc nếu có đầu tư sản xuất thì cũng không có thị trường đủ mạnh để tiêu thụ.

    Vì lẽ đó, chúng ta không nên xem phát triển thị trường nội địa là một cứu cánh trong tình hình kinh tế nguy ngập hiện nay mà chỉ nên xem là một giải pháp bổ trợ. Cần phải phối hợp nhiều giải pháp khác nhau mang tính cấp thời để dập lửa trong thời điểm này, đặc biệt là chính sách tỉ giá và lãi suất.

    Vấn đề của chúng ta hiện nay là thị trường chứ không phải là đòn bẩy tài chính. Thị trường nội địa của chúng ta quá nhỏ để có thể "cấp cứu" nền kinh tế trong cơn nguy ngập.

  • Chí Thành

    07:57 (GMT+7) - Thứ Ba, 24/2/2009

    Tôi rất đồng ý với ý kiến bạn Phú Khánh, chính sách cứ luôn bỏ tiền hổ trợ người nuôi trâu, bò để giết thịt mà lại không quan tâm đến túi tiền của người có nhu cầu mua thịt.

    Người nuôi trâu, bò cũng chẵng dại gì vay để nuôi vì họ biết rằng nếu nuôi để giết mổ thì sức mua cũng rất thấp, chi bằng tận dụng hỗ trợ lãi suất của Chính phủ vay vốn để trả món nợ cũ đã và đang đến hạn mà thôi.

  • Trung Nguyen

    16:16 (GMT+7) - Thứ Hai, 23/2/2009

    Tôi đồng tình với bạn Hương ở quan điểm về tỷ giá. Theo tôi, việc điều hành tỷ giá đóng một vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay. Có thể các nước dám phá giá đồng nội tệ nhanh, mạnh như thời gian vừa qua là do họ đã có thị trường xuất khẩu rộng lớn và khá ổn định nhưng hàng hóa của họ bị giảm tính cạnh tranh do khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Còn tại Việt Nam, việc điều hành tỷ giá trong thời điểm hiện nay cần chú ý tới một số vấn đề sau:

    - Các doanh nghiệp xuất khẩu cũng như các bộ, ngành (đặc biệt là Bộ Công thương) cần phải có những chương trình xúc tiến thương mại đủ mạnh để tìm thêm những thị trường mới, tăng cường khả năng xuất khẩu.

    Các doanh nghiệp sản xuất hàng trong nước phải đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng về chất lượng, mẫu mã, giá cả và số lượng.

    Nếu 2 điều này không làm được thì việc giảm giá đồng Việt Nam sẽ chỉ gây thêm nhiều khó khăn cho nền kinh tế.

    Thứ nhất, việc giảm giá đồng Việt Nam so với đô la Mỹ nhằm khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu. Tuy nhiên, nếu không tìm thêm được thị trường mới trong khi khách hàng ở các thị trường truyền thống giảm sẽ dẫn tới hàng hóa không xuất khẩu được, bị ứ đọng, gây khó khăn cho chính các doanh nghiệp này.

    Thứ hai, việc giảm giá đồng Việt Nam còn góp phần hạn chế hàng nhập khẩu và khuyến khích người dân sử dụng hàng sản xuất trong nước. Tuy nhiên, chúng ta ai cũng biết hàng hóa sản xuất trong nước có quá nhiều nhược điểm: chất lượng không tốt hoặc nếu chất lượng tốt thì mẫu mã lại không thu hút được khách hàng; và ngay cả khi đáp ứng được yêu cầu về mẫu mã nữa thì giá cả lại quá đắt, cao hơn so với hàng ngoại nhập. Nếu vấn đề này vẫn tiếp tục tồn tại thì nhiều lúc người dân vẫn phải lựa chọn cách sử dụng hàng nhập ngoại, dù với chi phí cao hơn so với thời điểm trước đó.

    Theo tôi, Bộ Công thương phải là người đi đầu trong việc giải quyết những tồn tại trên đồng thời phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng Nhà nước để đưa ra chính sách tỷ giá thích hợp cho từng thời kỳ.

    Theo quan điểm của cá nhân tôi, trong gói kích thích nền kinh tế, Chính phủ nên dành một phần ngân quỹ cho việc khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ nhằm tạo ra những sản phẩm có chất lượng tốt phục vụ thị trường trong nước.

    Chắc chắn sẽ có nhiều người phản đối vì cho rằng đang cần kích cầu nội địa mà lại khuyến khích đầu tư máy móc, thiết bị (mà phần lớn là nhập khẩu) là lạc đề, là kích cầu hộ nước khác.

    Tuy nhiên, trong nền kinh tế toàn cầu như hiện nay và trong hoàn cảnh Việt Nam chưa mạnh về khoa học và công nghệ thì cách làm đó theo tôi là hợp lý. Nếu không đổi mới công nghệ trong thời điểm giá cả máy móc, thiết bị đang rẻ tương đối do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu thì đến khi nền kinh tế thế giới phục hồi, chúng ta sẽ phải trả giá rất đắt cho vấn đề khoa học và công nghệ.

    Và cũng chỉ có đổi mới công nghệ thì các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa trong nước mới có hy vọng nâng cao chất lượng sản phẩm và có giá thành hợp lý, phù hợp với ngân sách của người Việt Nam.

  • Phúc Khánh

    15:59 (GMT+7) - Thứ Hai, 23/2/2009

    Tôi thấy bài phân tích của TS.Vũ Thành Tự Anh rất chung chung, mang nặng tính lý thuyết, nêu ra những điều ai cũng biết như là chính sách kích cầu sẽ không có hiệu quả nếu không kích thích được tiêu dùng.

    Các chuyên gia cần đưa ra những ý kiến, góp ý một cách cụ thể, chi tiết thì sẽ góp ích được nhiều hơn...

    Tôi đề nghị Nhà nứơc nên nhanh chóng triển khai các dự án cơ sở hạ tầng, chương trình nhà ở cho người có thu nhập thấp ( bao gồm cả đầu tư xây dựng nhà ở và cho vay trả góp mua nhà cho các đối tượng có nhu cầu ) ... đây là những chương trình căn bản, sẽ tăng tổng cầu của toàn xã hội.

    Thị trường bất động sản là thị trường nền tảng cho nền kinh tế hồi phục.

    Còn nếu hỗ trợ cho một số doanh nghiệp mà sản phẩm của họ không bán được thì cũng không giải quyết được vấn đề.

  • Tran Thi Ngoc Anh

    15:34 (GMT+7) - Thứ Hai, 23/2/2009

    Có vẻ như lập luận của TS. Vũ Thành Tự Anh rơi vào câu chuyện không có hồi kết: "Quả trứng có trước hay con gà có trước". '

    Rõ ràng giải pháp hỗ trợ lãi suất của Chính phủ cho tổ chức, cá nhân vay vốn ngân hàng để sản xuất, kinh doanh là một chính sách kinh tế (vĩ mô) nhằm hỗ trợ cho khu vực sản xuất có được giá thành hàng hoá, dịch vụ...rẻ hơn.

    Điều này giúp cho cung sản phẩm phù hợp với sức mua yếu (do suy thoái kinh tế làm cho thu nhập của người dân trở nên thấp hơn, tất yếu làm giảm khả năng tiêu dùng) từ đó khuyến khích tiêu dùng trong dân cư bằng cách hạ giá sản phẩm. Đó chính là tăng nhu cầu thị trường cho các doanh nghiệp thông qua hỗ trợ cung mà Chính phủ có thể làm được.

    Còn nếu tác giả cho rằng "nếu (chính phủ) không tăng được nhu cầu thị trường, thì dù có kích thích như thế nào đi chăng nữa cũng không giúp ngăn chặn đà suy giảm kinh tế, vì không có cầu thì doanh nghiệp càng cung nhiều, càng lỗ vốn" thì khác gì đòi hỏi Chính phủ cần có "phép mầu" làm tăng "nhu cầu thị trường" trước khi sử dụng chính sách "kích thích" nhu cầu tiêu dùng trong nền kinh tế?

  • Nguyễn Huy Thể

    13:25 (GMT+7) - Thứ Hai, 23/2/2009

    Những đánh giá của TS Vũ Thành Tự Anh cho ta cái nhìn tổng quan về chương trình kích cầu của Chính phủ trên các khía cạnh chi tiêu của chính phủ, bản chất của các công cụ chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ, cách thức vận hành và đối tượng hưởng lợi cũng như các bên tham gia của chương trình này. Cảm ơn những nhận xét khá đầy đủ và xác đáng của tiến sĩ.

    Tôi quan tâm đến khía cạnh kênh đi của của nguồn lực, tức thực tế thì dòng tiền đi ra từ chương trình để đánh giá mức độ tác động của chính sách. Giả thuyết rằng một phần không nhỏ số tiền 32000 tỷ mới được giải ngân từ chương trình sẽ không đi vào các chương trình thúc đẩy các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp như phương án mà họ đề xuất để vay theo chương trình kích cầu này, mà sẽ dùng để trả các khoản nợ đến hạn, hoặc các khoản nợ đã vay trước đó với lãi suất cao hơn, hoặc vào những chương trình kinh doanh khác mà không loại trừ hành vi đầu cơ vào các kênh đang nóng hiện nay như vàng, ngoại tệ...

    Như vậy vấn đề đặt ra thật nan giải đối với Ngân hàng Nhà nước trong việc giám sát việc cho vay, giải ngân và sử dụng đúng mục đích một lượng tiền lớn như vậy trong thời gian ngắn như thế.

    Tôi cũng đồng tình với quan điểm của thầy Tự Anh về việc Chính phủ cũng nên chú ý đến việc khắc phục các khuyết tật mang tính cơ cấu của hệ thống, chuẩn bị cho thời kỳ phục hồi của nền kinh tế, không để suy thoái làm sao lãng mục tiêu này.

    Cảm ơn sự chia sẻ của thầy Tự Anh, thầy vẫn luôn có cái nhìn thật sắc sảo và xác đáng.

  • Lê Bảo Toàn

    10:54 (GMT+7) - Thứ Hai, 23/2/2009

    Về chính sách hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp, tôi nghĩ đây có thể xem là cách "bảo hộ", thúc đẩy tính cạnh tranh cho doanh nghiệp trong nước một cách hợp pháp trước những cam kết khi gia nhập WTO. Vấn đề là "thái độ" của các doanh nghiệp đối với chính sách này như thế nào? có tận dụng cơ hội để tăng cường đầu tư trang thiết bị nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm đủ cạnh tranh với hàng nhập khẩu, hay sử dụng vào các lĩnh vực mang tính đầu cơ như bất động sản hay kinh doanh vàng, ngoại tệ.

    Để chính sách này phát huy tác dụng, tôi nghĩ cần phải để ngân hàng thương mại hoàn toàn chịu trách nhiệm về các khoản cho vay đến các doanh nghiệp mà sử dụng nguồn vốn không hiệu quả. Có thể, sau một năm đánh giá lại, nếu doanh nghiệp sử dụng không đúng mục đích cam kết, thì cả doanh nghiệp và ngân hàng phải chịu mức lãi thị trường và mức phạt do Ngân hàng Nhà nước quy định.

    Ngược lại, nếu sử dụng đúng và phát triển được sản phẩm thì có thể gia hạn thời gian ưu đãi lãi suất. Điều này có thể giảm được tình trạng bất cân xứng thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước - ngân hàng thương mại và ngân hàng thương mại - doanh nghiệp như TS Vũ Thành Tự Anh trình bày.

    Trong khi lạm phát chỉ được "kiềm hãm" nhưng vẫn ở mức cao, việc thực hiện chính sách tài khóa mở rộng như dao hai lưỡi. Nó có thể thúc đẩy phát triển sản phẩm trong nước, nhưng có thể khiến lạm phát khó kiểm soát hơn.

  • Hương

    10:15 (GMT+7) - Thứ Hai, 23/2/2009

    Tôi không đồng ý với quan điểm của TS Vũ Tự Anh về việc chúng ta nên tiếp tục điều chỉnh tỷ giá giữa VND/USD. Về mặt lý thuyết khi chúng ta để đồng nội tệ VND cao hơn so với USD sẽ khuyến khích nhập khẩu và ảnh hưởng đến cán cân thương mại. Tuy nhiên trong thực tế của Việt Nam, với trình độ về kinh tế của người dân chưa cao, nếu chúng ta điều chỉnh VND yếu hơn nữa so với đồng USD, tâm lý người dân thấy VND mất giá so với USD, họ lại lao vào tích trữ USD hay vàng, lúc đó càng làm mất giá VND.

    Như chúng ta biết phần lớn các nguyên vật liệu cho nhiều ngành chúng ta phải nhập khẩu, VND yếu hơn so với USD sẽ làm giá Nguyên vật liệu trong nước tăng cao hơn nữa, sẽ tăng giá thành và làm tăng giá bán sản phẩm. Như vậy chúng ta lại khó kích thích được cầu trong nước.

    Về gói kích cầu của Việt Nam tôi cũng cho rằng sẽ không đạt hiệu quả như mong đợi vì một số những lý do sau:

    Trong gói kích cầu khoảng 6 tỷ USD của Việt Nam, Chính phủ dành 5 tỷ USD để đầu tư cơ sở hạ tầng, giảm thuế... Chính phủ chưa có lộ trình cụ thể, đầu tư đường xá, cầu cống nào, bộ nào thực hiện...và chính phủ lại thực hiện sau gói kích cầu 1 tỷ USD bù lãi suất.

    Chính phủ dành 1 tỷ USD đầu tiên cho việc bù lãi suất- thực hiện chính sách tiền tệ. Khi cầu tiêu dùng giảm, các doanh nghiệp sẽ có ít đơn đặt hàng hơn, Chính phủ có đưa ra mức bù lãi suất 4% nhưng đơn đặt hàng của doanh nghiệp không có hoặc giảm rất thấp, doanh nghiệp có muốn vay cũng không biết vay để làm gì. Chính phủ nên thực hiện chính sách tiền tệ này sau chính sách tài khoá trên, như vậy mới tạo ra được cầu cho các doanh nghiệp. Và việc bù lãi suất sẽ có khả năng phát sinh tiêu cực.

  • Le Ngoc Lien

    09:31 (GMT+7) - Thứ Hai, 23/2/2009

    Thứ nhất, gói kích cầu là để tạo tác động trong ngắn hạn. Tất nhiên nó có thể nhắm đến cả các mục tiêu dài hạn nhưng khó có thể đặt ra một tham vọng lớn như thế bởi tiền trong gói là có hạn.

    Để có được hiệu quả tối đa tôi nghĩ các mục tiêu đặt ra cho gói kích cầu không nên quá 1-2 năm (ví dụ việc làm cho người dân trong 2 năm đổ về).

    Để đạt được các mục tiêu đặt ra trong 2 năm trở lại thì các biện pháp cũng phải được thiết kế tương ứng để tạo tác động nhanh và mạnh (kể cả biện pháp nhanh nhất là phát tiền cho người nghèo). Kết quả mong muốn của gói kích cầu rốt cuộc không phải là khiến nền kinh tế tăng trưởng vượt bậc mà chỉ giảm thiểu tác động bất lợi của khủng hoảng lên đời sống dân sinh cũng như duy trì khả năng cạnh tranh cua doanh nghiệp cho qua giai đoạn sóng gió. Nếu chính phủ ôm đồm với gói kích cầu và không sáng suốt lựa chọn đúng mục tiêu thì hiệu quả nó mang lại sẽ không cao.

    Thứ hai, như đã nói ở trên, nguồn tiền để kích cầu theo như tôi hiểu sẽ được lấy một phần từ thuế cắt giảm. Điều này cần phải xem xét thận trọng vì cắt giảm thuế đúng là hỗ trợ doanh nghiệp, nhưng trước đây khi chính phủ vẫn thu các khoản thuế này thì khoản tiền này được dùng vào các mục đích khác, chủ yếu là cho chi thường xuyên như lương trong khu vực nhà nước.

    Bây giờ không còn khoản thuế thu này thì câu hỏi đặt ra là cái gì trước đây vẫn chi, bây giờ sẽ phải bỏ hoặc giảm để dành tiền hỗ trợ thuế cho doanh nghiệp? Rốt cuộc thì Chính phủ sẽ phải phát hành trái phiếu để vay tiền hoặc in thêm tiền, khả năng có thể phát hành trái phiếu được bao nhiêu, in thêm bao nhiêu tiền nữa và các hệ lụy kèm theo có được phân tích thấu đáo hay không?

  • Nguyễn Tuấn Hùng

    08:55 (GMT+7) - Thứ Hai, 23/2/2009

    Rất cảm ơn TS Tự Anh, những ý kiến của ông đã bao quát được toàn bộ ảnh hưởng các chính sách kích cầu của Nhà nước

    Về cơ bản chính sách là tốt và sẽ là đòn bẩy để Việt Nam vượt qua thời kỳ suy thoái như hiện nay. Tuy nhiên hiệu quả còn phải tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác, nhưng tôi nghĩ yếu tố con người sẽ là cốt lõi nhất.

    Tôi muốn nhấn mạnh tới việc hỗ trợ 4% lãi suất của Chính phủ. Cần xem xét lại con số 32.000 tỷ đã được cho vay theo chương trình hỗ trợ lãi suất (trong vòng 01 tuần). Điều này có thể nói là bất khả thi đối với 5 Ngân hàng quốc doanh và cổ phần mà Nhà nước nắm chi phối.

    Trong trường hợp con số trên là chính xác, tôi nghĩ số lượng những doanh nghiệp nhỏ và vừa được tiếp cận nguồn vốn trên chắc không được nhiều mà tập trung chủ yếu các doanh nghiệp có quan hệ tốt với ngân hàng (người trực tiếp tiếp xúc với doanh nghiệp).

    Nên chăng Ngân hàng Nhà nước có 1 số đường dây nóng giải đáp thắc mắc cũng như tiếp nhận thông tin của doanh nghiệp về những đối tượng (ngân hàng) không thực hiện các quy định của ngân hàng hoặc có hành vi tiêu cực. Việc kiểm tra của Ngân hàng Nhà nước hiện đang được thực hiện tuy nhiên cũng sẽ khó đảm bảo kiểm tra được hết các đối tượng. Đề xuất trên có thể giúp công việc của đoàn kiểm tra hiệu quả hơn.

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Doanh nhân

BLDP

21:15 (GMT+7) - Thứ Năm, 24/5/2012

@Hai Truong: Bạn nhầm rồi ! Đứng ở góc độ vĩ mô, ở các nước, họ chỉ hỗ trợ 1 số ít doanh nghiệp hoặc...

Trong bài: “Cứu” doanh nghiệp: “Nên hỏi xem họ khó gì, cần gì” (6 ý kiến)

Đỗ Duy Chính

18:41 (GMT+7) - Thứ Năm, 24/5/2012

Ý kiến của ĐB Nguyễn Hồng Sơn và Nguyễn Minh Quang thật xác đáng, thực tế quá. Chính phủ cần phải xem xét ý kiến...

Trong bài: “Cứu” doanh nghiệp: “Nên hỏi xem họ khó gì, cần gì” (6 ý kiến)

Hai Truong

17:06 (GMT+7) - Thứ Năm, 24/5/2012

Tôi vẫn ủng hộ giải pháp cứu doanh nghiệp, đồng ý là doanh nghiệp phải chịu quy luật cạnh tranh gay gắt của thị trường,...

Trong bài: “Cứu” doanh nghiệp: “Nên hỏi xem họ khó gì, cần gì” (6 ý kiến)

Lê Minh Châu

16:08 (GMT+7) - Thứ Năm, 24/5/2012

@ bạn Đặng Thế Quyết: Ai có thể cứu DN nếu DN không thể tự cứu mình. Tôi có cách nhìn lkhác với bạn. DN thành...

Trong bài: “Cứu” doanh nghiệp: “Nên hỏi xem họ khó gì, cần gì” (6 ý kiến)

HOGFG

15:31 (GMT+7) - Thứ Năm, 24/5/2012

Yếu thì phải chết chứ kêu ca làm gì. Ở đây là kinh tế là cải cách kinh tế chứ có phải chổ làm từ...

Trong bài: “Cứu” doanh nghiệp: “Nên hỏi xem họ khó gì, cần gì” (6 ý kiến)