Dấu hiệu kinh tế phục hồi: Cần tránh “ông nói gà, bà nói vịt”

TỪ NGUYÊN

08/05/2009 22:04 (GMT+7)

picture TS. Lê Đăng Doanh - Ảnh: T. Nguyên.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Khi dấu hiệu hồi phục chưa rõ ràng thì những thông điệp và cách điều hành nền kinh tế cần thận trọng.

Khuyến nghị này được TS. Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế cao cấp, đưa ra trong cuộc trao đổi mới đây với VnEconomy.

Ông nói:

- Việc những chỉ số của nền kinh tế đã có bước cải thiện hơn so với hồi đầu năm là một điều tốt, nhưng đó cũng là bình thường. Chẳng hạn như GDP, trong quý 1 là quý có tết Nguyên đán thì sản xuất bị ngưng lại nên tăng trưởng chỉ đạt 3,1% là dễ hiểu. Nhưng đến quý 2, khi mà mọi hoạt động của nền kinh tế đã quay trở lại và nhu cầu về tiêu dùng, xây dựng…có chiều hướng tăng lên thì GDP tiếp tục tăng lên cũng là điều bình thường.

Một số chỉ số khác như: xây dựng, nông nghiệp, công nghiệp… đang có dấu hiệu tăng trưởng tốt là đáng mừng. Song chúng ta cũng phải chú ý rằng, trong cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam 4 tháng đầu năm nay, biểu hàng xuất khẩu chỉ có 6 mặt hàng: vàng bạc, gạo, chè, hạt tiêu, sắn, hàng dệt may là tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2008, nhưng đến 50% số lượng mặt hàng xuất khẩu tăng trưởng không đáng kể.

Không nên lạc quan tếu

Liệu nền kinh tế đang chuyển biến tốt và có dấu hiệu hồi phục, như một số nhận xét thời gian gần đây, thưa ông?

Để nói rằng những chỉ số tăng trưởng tốt đó là dấu hiệu của hồi phục kinh tế hay chưa, là một vấn đề cần phải thận trọng và cần phải có tiêu chí rõ ràng. Chẳng hạn chúng ta phải nói rõ là GDP tăng trưởng như thế nào thì nền kinh tế mới thực sự hồi phục; mức độ tăng trưởng tín dụng là bao nhiêu, mức độ tạo công ăn việc làm là bao nhiêu; số người thất nghiệp đã giảm hay chưa…

Tất cả những tiêu chí đó đều phải được đưa ra thảo luận, nếu không thì rất dễ xảy ra tình trạng “ông nói gà, bà nói vịt”, tức là người thì cho là đã hồi phục, người thì bảo chưa, như vậy sẽ làm rối loạn thêm cho nền kinh tế cũng như là các doanh nghiệp.

Hơn nữa, đến thời điểm này, trên thế giới không có một tổ chức, cá nhân có trách nhiệm nào dám khẳng định rằng họ đã vượt qua đáy khủng hoảng rồi. Tất cả các tuyên bố đều nói rằng, tình hình tiếp tục phức tạp và có thể là cuối năm nay thì kinh tế thế giới có cải thiện, mức tăng trưởng âm có thể giảm đi một tý, chứ không có nghĩa là đã tăng trưởng dương rồi.

Nền kinh tế Việt Nam xuất khẩu chiếm đến 72% GDP, còn nhập khẩu và dịch vụ thì chiếm trên 100% GDP, thì rõ ràng chúng ta phụ thuộc rất nhiều vào kinh tế thế giới, trong khi các nền kinh tế lớn vẫn chưa có dấu hiệu hồi phục.

Chính vì thế, nếu nói rằng chúng ta có khả năng hồi phục sớm thì cũng phải nói rõ là hồi phục như thế nào, hồi phục lĩnh vực gì… Theo tôi, điều kiêng kị nhất lúc này là tránh lạc quan tếu, tức là tránh đưa ra những thông điệp quá dễ dãi, như tháng mấy sẽ tăng trưởng trở lại, tháng mấy, tháng mấy sẽ hồi phục...

Tôi chỉ xin lấy ví dụ, Singapore họ nói thẳng là năm nay họ sẽ tăng trưởng âm 8% và mức độ trì trệ do khủng hoảng sẽ kéo dài khoảng 6 năm, để Chính phủ và người dân cùng chuẩn bị tinh thần. Thủ tướng của họ tự trừ vào lương 15% trong suốt thời gian đó.

Với đặc điểm của người dân Việt Nam là khá cầu thị và thực dụng, tôi nghĩ chúng ta cũng nên có một thông điệp theo hướng khuyến cáo tình hình vẫn còn khó khăn, để mọi người cùng nỗ lực thì mới mong nhanh chóng bước ra khỏi cuộc khủng hoảng này.

Còn nếu chúng ta tạo ra một mối lạc quan tếu, cho rằng mọi việc đã “phơi phới” rồi, trong khi tình hình chưa có chuyển biến nhiều thì sẽ rất nguy hại. Chúng ta cần phải nghiêm túc với khẩu hiệu: “nhìn thẳng vào sự thật, hiểu rõ sự thật và nói đúng sự thật”.

Vậy, theo ông thì nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới sẽ rơi vào mô hình nào trong 4 mô hình hồi phục kinh tế mà các chuyên gia đưa ra vừa qua?

Theo tôi, mô hình mà chúng ta nên tránh và có thể tránh được là mô hình chữ “L”, tức là nằm mãi dưới đáy mà không thoát lên được, giống như Singaore và Nhật Bản. Chúng ta có một nền nông nghiệp khá hiệu quả vì các sản phẩm này có thị trường khắp thế giới và phù hợp với diều kiện suy thoái kinh tế.

Do vậy, với điều kiện chúng ta có cải cách mạnh mẽ, đổi mới cấu trúc của nền kinh tế thì có thể kinh tế sẽ tăng trưởng theo hình chữ “V” và đây là kịch bản mơ ước.

Nhưng quan điểm của tôi thì khả năng dễ xảy ra nhất của kinh tế Việt Nam là tăng trưởng theo chữ “W”, tức là vẫn có lên, rồi lại xuống, lại lên… do cách điều hành, quản lý và triển khai thực hiện của chúng ta vẫn chưa ổn định và còn nhiều điều phải bàn.

Nhưng nhiều chuyên gia lo ngại rằng, khi mà các gói kích cầu liên tục được thực hiện thì khả năng quay trở lại lạm phát cũng rất lớn?

Đúng vậy, theo tôi thì những tín hiệu về chính sách tiền tệ là rất cần phải chú ý, bởi hiện nay tổng cung của phương tiện thanh toán đã tăng lên 11,4 %, cao hơn rất nhiều so với 5,3% của cùng kỳ năm ngoái. Như vậy có nghĩa là chúng ta đã bơm tiền tăng cung tín dụng rất nhiều.

Bên cạnh đó, nếu giá dầu tiếp tục tăng lên, kéo theo một số mặt hàng khác tăng theo thì khả năng quay trở lại của lạm phát là hoàn toàn có thể.

Cần xem lại điều hành giá

Hiện nay, chúng ta đang nỗ lực chống suy giảm kinh tế, nhưng đồng thời Nhà nước lại liên tiếp cho tăng giá xăng dầu. Theo ông điều này có hợp lý hay không?

Đây là một vấn đề cần phải được làm rõ. Trước đây, khi giá xăng thế giới là 147 USD/thùng thì giá xăng trong nước là 14.000 đồng/lít. Thế nhưng, hiện nay giá xăng thế giới là 55 USD/thùng thì chúng ta lại tiếp tục cho tăng giá xăng lên 12.500 đồng/lít.

Thử hỏi, nếu giá xăng thế giới chỉ cần tăng thêm 20 USD/thùng nữa thì chắc chắn giá xăng trong nước sẽ lại tiếp tục leo thang. Hơn nữa, so với giá xăng của Trung Quốc và các nước trong khu vực thì giá xăng của chúng ta đã cao hơn rất nhiều rồi.
 
Do vậy, trong bối cảnh kinh tế đang khó khăn như hiện nay, nếu cứ liên tục tăng giá đầu vào thì chỉ có “phép màu” mới giúp các doanh nghiệp của chúng ta có thể cạnh tranh được.

Ngoài ra, giá điện của chúng ta cũng có vấn đề, đặc biệt là cách tính giá điện cao điểm vào buổi sáng. Hiện nay, điện vẫn là sản phẩm độc quyền, họ muốn tăng giá để gây sức ép cho các doanh nghiệp tránh giờ cao điểm đó, nhưng họ lại không thể đưa ra cho doanh nghiệp một lối thoát khả thi.

Tức là ông cho rằng, việc tăng giá điện, giá xăng liên tục là đi ngược lại với mục tiêu chống suy giảm kinh tế?

Cái đó thì cũng đã có nhiều ý kiến rồi. Còn theo tôi, việc tăng giá này còn đi ngược lại với mục tiêu kiềm chế lạm phát và mục tiêu giữ ổn định đời sống của nhân dân, bởi đơn giản, giá xăng lên thì chắc chắn giá các hàng hóa khác, giá vận tải cũng sẽ tăng theo.

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Mai Anh

    17:03 (GMT+7) - Thứ Hai, 11/5/2009

    Tôi đang rất băn khoăn một điều là: nhờ vào chính sách hỗ trợ tín dụng giúp các doanh nghiệp giải quyết nhu cầu vốn và giảm chi phí sản xuất nên dư nợ tín dụng trong tháng tư vừa qua đã tăng 11,6% so với cuối tháng 3, nhưng tôi chưa thấy Chính phủ đưa ra các giải pháp cụ thể và hiệu quả để quản lý nguồn vốn đã giải ngân, mà mới đưa ra những giải pháp "chung chung" là chúng ta phải kiểm soát xem nguồn vốn vay ưu đãi đi đâu về đâu,... nhưng làm thế nào thì không thấy bàn tới.

    Bên cạnh đó, cũng giống như tác giả và nhiều bạn đọc phản ánh: dường như các giải pháp hỗ trợ nền kinh tế rât mâu thuẫn với nhau.

    Một mặt, hỗ trợ sản xuất, tạo công ăn việc làm cho người lao động (xét về mặt lý thuyết) nhưng hiện nay theo quan điểm của nhiều nhà phân tích tỷ lệ thất nghiệp vẫn không ngừng gia tăng, mặt khác, giá của các mặt hàng thiết yếu như xăng dầu, điện tăng sẽ kéo theo giá cả các mặt hàng khác cũng gia tăng, chẳng cần bàn nhiều ai cũng hiểu sẽ ảnh hưởng như thế nào đến tình hình sản xuất của doanh nghiệp và đời sống người dân.

    Chúng ta không nên quá lạc quan xa rời thực tế, mà nên nhìn thẳng vào sự thật để tự biết mình phải làm gì vượt qua khó khăn này.

  • Thanh Nhan

    11:15 (GMT+7) - Thứ Hai, 11/5/2009

    Kinh tế Việt Nam đang dần hồi phục theo hướng khả quan, tuy nhiên chúng ta vẫn nên thừa nhận một sự thật đó là tỉ lệ thấp nghiệp đang tăng, giá cả một số mặt hàng thiết yếu vẫn chưa thật ổn định, một số chính sách kích cầu vẫn chưa đem lại kết quả.

    Các chính sách phát triển xuất khẩu, du lịch cần phải được chú trọng hơn để tạo thêm việc làm cho nnhững người đang thất nghiệp. Từ đó nhu cầu tiêu dùng mới được cải thiện.

    Trong tình hình hiện nay,chúng ta cần một chính sách mới để tránh chịu ảnh hưởng quá nhiều từ kinh tế thế giới, đặt biêt là kinh tế Mỹ.

  • Nguyễn Văn Đại

    08:30 (GMT+7) - Thứ Hai, 11/5/2009

    Cháu thấy ý kiến của bác TS. Lê Đăng Doanh rất sát thực và hợp lý.

    Nền kinh tế Việt Nam đang dần hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới và tình hình khủng hoảng kinh tế như hiện nay là minh chứng rõ ràng nhất

    Trong khi nền kinh tế thế giới còn nhiều diễn biến phức tạp ,vẫn còn nhiều bi kịch giải thể, sáp nhập... thì mọi dự báo hay tâm lý lạc quan lúc này có vẻ như quá sớm.

    Nếu nhìn ở một góc độ khác thì cuộc khủng hoảng này cũng là cơ hội cho chúng ta thấy được chỗ khiếm khuyết, chưa phù hợp để khắc phục.

  • Nguyen Thanh Lau

    08:27 (GMT+7) - Thứ Hai, 11/5/2009

    Nhận định của TS rất hay, tôi rất cảm ơn bài viết của ông. Rất mong TS có những đóng góp tốt giúp cho nền kinh tế được phục hôi nhanh trở lại.

  • Ngô Trí Vượng

    08:26 (GMT+7) - Thứ Hai, 11/5/2009

    Tôi rất đồng tình với tác giả, nền kinh tế của ta đã có những dấu hiệu chuyển biến khá tích cực, nhưng cũng không nên lạc quan tếu, lúc này hơn bao giờ hết các nhà điều hành chính sách cần bám chắc mọi diễn biến trong nước và thế giới.

    Cần chú ý rằng, phải điều hành linh hoạt, uyển chuyển các chính sách kinh tế, kích cầu nhưng luôn luôn phải đề phòng lạm phát, tôi thấy hình như lạm phát vẫn nấp đâu đó sau lưng chúng ta.

  • Thành Trung

    07:37 (GMT+7) - Thứ Hai, 11/5/2009

    "Dấu hiệu phục hồi chưa rõ ràng" là sao? Việt Nam và nhiều nước trên thế giới đang đưa ra nhiều giải pháp nhằm phục hồi nền kinh tế và bước đầu đã có chút hiệu quả.

    Vì vậy có thể nói nền kinh tế của Việt nam nói riêng và Thế giới nói chung đang từng bước hồi phục, tuy nhiên, đến khi nào hoàn toàn hồi phục thì chưa ai dám khẳng định - Tôi nhất quán với quan điểm của TS Lê Đăng Doanh ở điểm này.

  • Phuc Nguyen

    03:45 (GMT+7) - Thứ Hai, 11/5/2009

    TS Lê Đăng Doanh đưa ra nhận xét hết sức khách quan và hợp lý về tình hình kinh tế hiện nay của Việt Nam đặc biệt về mặt giá cả. Giá cả nói chung ảnh hưởng rất lớn đến chi phí sản xuất. Một trong những vấn đề cốt lõi vì sao doanh nghiệp Việt Nam không có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế mặc dù giá nhân công tại Việt Nam rất thấp đó là chi phí sản xuất cao. Tất cả những chi phí sản xuất khác đều cao như là xăng, dầu, vận chuyển, điện, điện thoại, mặt bằng v.v thì làm sao doanh nghiệp Việt Nam có thể đấu nổi trên thương trường quốc tế.

    Còn vấn đề số liệu nêu trong bài phỏng vấn này hình như không được chính xác cho lắm. “Nền kinh tế Việt Nam xuất khẩu chiếm đến 72% GDP, còn nhập khẩu và dịch vụ thì chiếm trên 100% GDP, …”. Tôi không nghĩ nhập khẩu/dịch vụ có thể cao đến như thế. GDP được tính chung bao gồm công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ thì làm sao riêng dịch vụ có thể hơn 100% GDP được.

  • Nguyễn Minh Chi

    00:15 (GMT+7) - Thứ Hai, 11/5/2009

    Không nước nào có thể phục hồi kinh tế một mình vì nước nào cũng cần xuất khẩu. Nước ta,xuất khẩu chiếm 72%GDP nên càng phụ thuộc vào tình hình thế giới.

    Theo Bộ Công thương, tình hình xuất nhập khẩu hàng hoá tháng 4 có dấu hiệu được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều khó khăn thách thức. Để xuất khẩu gia tăng về khối lượng hàng hoá,mở rộng thị trường,....ta nên tập trung giải quyết khó khăn hơn là lạc quan tếu.

  • Nguyen Thoa

    23:33 (GMT+7) - Thứ Bảy, 9/5/2009

    Tôi rất đồng ý với quan điểm của tác giả. Hiện tôi đang làm một nghiên cứu về nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt Nam, và tôi thấy nếu cứ điều hành độc quyền giá điện, giá xăng dầu, giá dịch vụ vận chuyển...cao như hiện nay thì khó lòng mà nâng cao năng lực cho doanh nghiệp được.

    Và người thiệt thòi nhất vẫn là những người tiêu dùng trong xã hội.

  • Thanhroma

    21:39 (GMT+7) - Thứ Bảy, 9/5/2009

    Cám ơn TS Lê Đăng Doanh, những nhận định của ông rất hay!

    "Cẩn tắc vô áy náy." Thực sự so với hồi cuối 2008 đầu 2009 thì kinh tế Việt Nam không phải là không có thành tựu. Chính sách kích cầu là hoàn toàn phù hợp, cứu cho doanh nghiệp được phần nào về chi phí vốn vay.

    Tuy nhiên mặt trái của kích cầu lại là tăng trưởng tín dụng mạnh sẽ dẫn đến lạm phát. Tôi đồng quan điểm với ông Lê Đăng Doanh.

  • Nguyen Trang

    20:28 (GMT+7) - Thứ Bảy, 9/5/2009

    Cháu rất đồng ý với ý kiến của tác giả, trong thời buổi kinh tế khủng hoảng ngày nay khi mà các doanh nghiệp gặp khó khăn và kéo theo phần lớn công nhân viên đang thất nghiệp hay bị cắt giảm lương, giờ làm thì lạm phát xảy ra quả là một điều kinh khủng.

    Các dự báo kinh tế trong quý 1 năm 2009 đều lạc quan về tình hình kinh tế Việt Nam trong năm nay. Nhưng mọi người dân đều thấy được sự thật về nền kinh tế thông qua mức giá cả sinh hoạt sẽ tăng lên do giá xăng dầu, giá điện đồng loạt tăng và thu nhập của người dân đang giảm đi đáng kể do không có việc làm.

    Chúng ta nên nhìn thẳng vào sự thật không phải để bi quan mà là để cố gắng vượt qua những khó khăn của nền kinh tế.

  • Hung

    17:25 (GMT+7) - Thứ Bảy, 9/5/2009

    Sự thực là nền kinh tế nước ta đang có dấu hiệu phục hồi, thì có thể kết luận là chúng ta đã có những bước đi đúng hướng. Vì vậy chúng ta phải cố gắng phát huy, tạo tâm lý lạc quan cho nền kinh tế cũng là một điều tốt, vì khi tâm lý lạc quan xã hội tăng lên sẽ tao tiền đề để tiêu dùng tăng lên, sản xuất phát triển.

    Nhưng chúng ta cũng không nên lạc quan thái quá, giữ nó ở trong một chừng mục có thể kiểm soát được, chúng ta phải thúc đẩy hơn nữa trong việc phát huy những lợi thế so sánh của Việt Nam.

  • PTT

    17:07 (GMT+7) - Thứ Bảy, 9/5/2009

    Tôi cũng đồng tình với các quan điểm trên. Như tiến sĩ nói "Bơm tiền tăng cung tín dụng" quá cao như thế thì có ổn lăm không? Có ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng không?

    Hiện nay các ngân hàng thương mại đang tập trung tăng trưởng tín dụng tiêu dùng đủ các hình thức nhằm góp phần "tăng trưởng chi tiêu, kích cầu..." . Cùng với việc tăng trưởng tín dụng "nóng" như thế cũng sẽ kèm theo tăng trưởng dư nợ xấu... và một loạt các hệ lụy khác liên quan đến tin dụng ngân hàng cũng bị ảnh hưởng theo. Vì thế cũng cần xem lại vấn đề này và rút kinh nghiệm từ các ngân hàng tại Mỹ bị đóng cửa...

  • Hongphat

    16:54 (GMT+7) - Thứ Bảy, 9/5/2009

    Tôi rất đồng ý với ý kiến của ông Lê Đăng Doanh, hiện tại nền kinh tế Việt Nam còn rất nhiều bất cập cần giải quyết. Các ngành hàng xuất khẩu chính hiện đã và sẽ tiếp tục còn gặp nhiều khó khăn do cuộc khủng hoàng kinh tế toàn cầu vẫn chưa thực sự có dấu hiệu khả quan.

    Chúng ta thường lạc quan tếu và đưa ra những nhận xét hết sức cảm tính, điều đó chỉ có hại chung đối với nền kinh tế và làm mất tính cảnh giác đối với khó khăn nền kinh tế của người dân.

    Những chính sách kích cầu gần đây của Chính Phủ còn nhiều điều phải bàn. Theo cá nhân tôi vào lúc này điều quan trọng nhất là phải đưa ra những khẩu hiệu như cắt giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất để gia tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế chứ không phải là những khẩu hiệu chung chung.

  • Tien Dung

    15:06 (GMT+7) - Thứ Bảy, 9/5/2009

    Tôi cũng đồng ý với quan điểm TS Lê Đăng Doanh rằng không nên tăng giá điện và xăng trong thời điểm khó khăn này. Chủ lao động lẫn người lao động đều đang vận lộn với khủng hoảng kinh tế nên việc tăng giá như trên chỉ càng thêm khó khăn.

    Thử kiểm tra xem giá xăng và điện ở những nước trong khu vực, chúng ta đều biết rằng giá cả chúng ta đang trên "trời" thế thì doanh nghiệp Việt Nam làm sao giữ vẫn thị phần, huống hồ chi nói đến mở rộng....

  • Pu

    11:12 (GMT+7) - Thứ Bảy, 9/5/2009

    Tối thấy rất cần các ý kiến phản biện như vậy. Các chỉ số thống kê và phương pháp thống kê của ta quá lạc hậu, không thể sử dụng để ra quyết định được.

  • Vu Khoa

    09:44 (GMT+7) - Thứ Bảy, 9/5/2009

    Tôi cũng đồng ý với ý kiến của TS Lê Đăng doanh. Chúng ta thường có cách nhìn cảm tính về một nền kinh tế theo chủ nghĩa kinh nghiệm bởi từ trước đến giờ có mấy ai để ý đến con số thống kế và ý nghĩa của những con số này.

    Khi thị trường chứng khoán tăng điểm ồ ạt là chúng ta có cái nhìn lạc quan, như thế chưa thật sự đúng đắn.

    Thời gian qua, do chính sách kích cầu, do việc tăng giá điện, giá xăng dầu, và cả tiền lương nên việc tăng giá các mặt hàng là điều không thể tránh khỏi.

    Kinh tế thế giới đang suy thoái thì làm sao xuất khẩu được, việc ứ đọng hàng hoá vẫn còn đó. Cụ thể là hàng tồn kho trên các báo cáo tài chính của các công ty đại chúng tháng này vẫn cao hơn tháng trước, Doanh thu tháng này thấp hơn tháng trước, lợi nhuận thấp, đặc biệt một số đơn vị còn lỗ . ...

    Vì vậy chúng ta cần thận trọng trong việc nhìn nhận vấn đề, đánh giá đúng thực trạng vấn đề kinh tế vĩ mô.

  • Hong Hai

    08:41 (GMT+7) - Thứ Bảy, 9/5/2009

    Vấn đề chủ yếu không phải là đưa ra những dự báo khi nào khủng hoảng sẽ kết thúc hoặc đại loại những thông điệp như thế, mà nên tập trung theo dõi xử lý những chủ trương chính sách kích cầu đã triển khai đến mức nào, hiệu quả thực tế ra sao, vướng mắc ở đâu, nhằm giải quyết xử lý đến nơi đến chốn, tránh quan liêu đại khái . . .

    Nền kinh tế thế giới cho dù có phục hồi đi chăng nữa thì chắc chắn cũng sẽ không quay trở lại mô hình đầu tư và tiêu dùng như trước đây, bởi vì mô hình đó phản ánh sự phiêu lưu, thiếu bền vững, hủy hoại tài nguyên và môi trường sống tương lai của con người.

    Chính vì vậy, nhiệm vụ quan trọng nhất của các nhà hoạch định chính sách lúc này là nhận diện rõ xu hướng phục hồi của thế giới, điều chỉnh kịp thời những chính sách, cơ chế thích hợp, xây dựng được mô hình đầu tư và tiêu dùng phù hợp với hoàn cảnh nước ta và phù hợp với xu thế vận động phát triển của kinh tế toàn cầu trong thời gian đến. Hay nói khác đi, chúng ta vừa phải tích cực phòng tránh khủng hoảng, duy trì tăng trưởng, vừa có chiến lược thích nghi với tương lai ngay từ bây giờ.

  • NVM

    23:26 (GMT+7) - Thứ Sáu, 8/5/2009

    Tôi rất đồng ý với các ý kiến của ông Lê Đăng Doanh, điều nguy hiểm nhất hiện nay là phần lớn mọi người đều tin rằng suy thoái kinh tế đã chạm đáy mà không đưa ra các bằng chứng xác đáng nào, toàn nói chung chung.

    Các doanh nghiệp vẫn lỗ, các ngân hàng (Mỹ) vẫn cần tăng vốn để hoạt động, chỉ có điều lỗ ít hơn dự kiến thế mà dám nói rằng tình hình khả quan hơn và thi nhau mua chứng khóan. Không hiểu nếu quý sau các doanh nghiệp vẫn lỗ thì có thi nhau bán tháo chứng khoán ra nữa hay không.

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Doanh nhân

Thiên An Bình

10:53 (GMT+7) - Thứ Ba, 7/2/2012

Hãy tổ chức thi cho những ứng viên sáng giá. Họ hãy đưa ra chương trình hành động cụ thể hết sức chi tiết trong...

Trong bài: Tổ chức kiểm điểm nguyên Chủ tịch EVN (1 ý kiến)

Hoang Minh

12:15 (GMT+7) - Thứ Hai, 6/2/2012

Tôi ủng hộ việc cho người dân được phép kinh doanh vàng tài khoản. Chúng ta hãy học theo cách làm của Ấn Độ, là...

Trong bài: Cà phê cuối tuần: Làm sao khơi nguồn lực hàng trăm tấn vàng? (8 ý kiến)

Quangth

09:46 (GMT+7) - Thứ Hai, 6/2/2012

Tôi có cảm giác từ lâu, Nhà nước đã không để cho Thị Trường có được sự tư do vận động theo các quy luật...

Trong bài: Cà phê cuối tuần: Làm sao khơi nguồn lực hàng trăm tấn vàng? (8 ý kiến)

Đặng Xuân Tấn

17:06 (GMT+7) - Chủ Nhật, 5/2/2012

Coi chừng "counter effect". Theo tôi, đừng để người dân, đương nhiên trước sau họ cũng hiểu sự thật, đánh giá thấp về lãnh đạo...

Trong bài: Miễn nhiệm Chủ tịch EVN vì để EVN Telecom thua lỗ (1 ý kiến)

HN

20:14 (GMT+7) - Thứ Bảy, 4/2/2012

Chừng nao chưa lập được thị trường điện cạnh tranh thì những tranh cãi trên là muôn thủa. Người trong thì bảo thấp, người ngoài thì...

Trong bài: Lại “giật mình” với lương tại EVN (26 ý kiến)