“Phải ưu tiên cho lao động trong nước”

LÊ CHÂU

05/06/2009 11:03 (GMT+7)

picture Ông Đặng Ngọc Tùng, Chủ tịch Tổng liên đoàn lao động Việt Nam.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Tác động trực diện và sâu rộng của tình hình suy thoái kinh tế thế giới đến việc làm và đời sống người lao động vẫn là câu chuyện đau đầu đối với những nhà làm chính sách.

Trong khi đó, xu hướng một bộ phận người nước ngoài đến Việt Nam du lịch ở lại làm việc mà chưa có cơ chế kiểm soát lại đang tiềm ẩn nhiều bất ổn. Xung quanh vấn đề này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Đặng Ngọc Tùng, Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam.

Là một trong những người gửi câu hỏi lên Chính phủ chất vấn về vấn đề lao động nước ngoài tại Việt Nam, câu trả lời mà ông mong muốn sẽ nhận được là gì?

Để bảo vệ quyền lợi của người lao động trong nước, tôi muốn đặt câu hỏi cho các cơ quan quản lý nhà nước về số lao động nước ngoài đang làm việc ở Việt Nam trong đó có bao nhiêu lao động được cấp giấy phép lao động và bao nhiêu lao động chưa được cấp giấy phép?

Theo quy định, chỉ tuyển lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam khi họ có trình độ chuyên môn, kỹ thuật mà nhân lực trong nước không có, chứ không phải lao động phổ thông.

Nhưng như tôi được biết, người ta vào đây du lịch, rồi ở lại làm việc, như vậy không đúng. Nhà nước có nắm được việc đó không? Một câu hỏi nữa, đó là hướng xử lý những người đó như thế nào? Để họ tiếp tục làm việc tại đây hay không?

Trên góc độ người đại diện cho lao động Việt Nam, trong bối cảnh lao động trong nước cũng đang mất việc rất nhiều và một số lao động của Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài cũng đang bị mất việc và phải về nước, quan điểm của tổ chức Công đoàn Việt Nam là làm gì thì làm, Nhà nước cũng phải ưu tiên cho lao động trong nước, đặc biệt lao động phổ thông.

Nếu lao động trong nước không đủ trình độ kỹ thuật, lúc đó mới phải tuyển ở nước ngoài. Nhưng với quan điểm của tôi, luôn luôn đặt ưu tiên cao nhất cho người lao động trong nước.  

Việc ưu tiên đối với lao động trong nước, Chính phủ cũng đã có quy định doanh nghiệp chỉ được nhận không quá 3% lao động nước ngoài. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập thì quy định này đã được nới ra. Phải chăng đó chính là kẽ hở, thưa ông?

Trước đây, Nhà nước quy định với những lao động kỹ thuật mà trong nước không đáp ứng được thì doanh nghiệp có thể nhận ở nước ngoài không quá 3% số lao động của doanh nghiệp đó.

Trong bối cảnh hội nhập, nhu cầu doanh nghiệp mở rộng nên Chính phủ đã nới quy định hạn chế không quá 3% đó. Điều đó đúng thôi. Nhưng lao động phổ thông trong nước đang dư thừa nên họ cần được ưu tiên.

Riêng tình trạng người nước ngoài vào đây du lịch mà lại làm lao động phổ thông thì số đó là bao nhiêu, có nắm được không, pháp luật xử lý thế nào.

Điều hành của Chính phủ là làm sao phải quản lý, điều hành cho được việc đó. Không nên nói trách nhiệm của riêng bộ, ngành nào mà phải coi đây là trách nhiệm chung.

Trước hết, tôi mong đi cùng với việc điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng xuống 5%, Chính phủ cần nêu rõ hơn về mục tiêu việc làm.

Trong bối cảnh khó khăn của nền kinh tế hiện nay, với tư cách là đại diện cho cộng đồng người lao động Việt Nam, điều mà ông cảm thấy băn khoăn, trăn trở nhất là gì?

Thay cho câu trả lời, tôi xin kể một câu chuyện.

Tôi vừa trở về từ chuyến thăm Na Uy và thấy bạn có nhiều điều cho mình học tập. Na Uy là nước Bắc Âu có mức tăng trưởng dương duy nhất trong thời điểm hiện tại, lý do như ông Thủ tướng Na Uy nói, kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo trong nhiều lĩnh vực và trong cơn khủng hoảng họ vẫn giữ mục tiêu mọi người lao động đều có việc làm.

Những tác động tiêu cực của suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay đã ảnh hưởng sâu sắc tới Việt Nam như bảo đảm việc làm bền vững, cải thiện đời sống, đào tạo chuyên môn nghề nghiệp... mà chúng ta phải tập trung giải quyết.  

Thực tế thì Chính phủ vẫn rất quan tâm đến mục tiêu việc làm cho người lao động. Vì thế, trong gói kích cầu có dành ngân sách ưu tiên cho việc giải quyết lao động mất việc làm, cho phép doanh nghiệp vay tiền Nhà nước để trả lương cho công nhân khi doanh nghiệp bị phá sản. Ông có bình luận gì?

Trong bối cảnh hiện nay, việc Chính phủ ra quyết định hỗ trợ giải quyết mất việc làm như vậy là vô cùng cần thiết.

Nhưng khi thực hiện, có tình trạng doanh nghiệp để cho người lao động tự bươn trải, chứ không vay của Nhà nước. Bởi lẽ, vay thì phải trả. Trong khi người lao động không có công ăn việc làm, không có tiền, tự ý bỏ đi nên mất quyền lợi.

Hơn nữa, chính sách chỉ áp dụng cho thực trạng năm 2009, trong khi cuối năm 2008 đã xảy ra suy thoái và có doanh nghiệp phá sản, chủ bỏ trốn, không thanh toán lương cho công nhân. Ở Tp.HCM có 7 doanh nghiệp như vậy.

Công đoàn đã kiến nghị chính sách của Chính phủ nên cho phép áp dụng cả trường hợp những doanh nghiệp bị phá sản cuối năm ngoái được hưởng quy định của Chính phủ. Cùng đó, trong khi người lao động trong nước gặp quá nhiều khó khăn thì lao động phổ thông nước ngoài lại tràn vào Việt Nam.

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Nguyễn Chí Phương

    23:02 (GMT+7) - Chủ Nhật, 7/6/2009

    Liên quan đến vấn đề quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, và xuất phát từ quan điểm của Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam là "Phải ưu tiên lao động trong nước" tôi xin phép có mấy ý kiến như sau:

    1. Thứ nhất, pháp luật quy định: "Nếu lao động trong nước không đủ trình độ kỹ thuật, lúc đó mới phải tuyển ở nước ngoài." quy định như thế này có nghĩa dựa trên một giả định là "những lao động có trình độ kỹ thuật trong nước thì luôn sẵn có việc làm."

    Theo tôi, đây là một giả định còn mang nặng chủ quan, bởi vì tôi chưa thấy có số liệu thống kê và công bố trên bất kỳ phương tiện truyền thông đại chúng nào mà dựa vào nó để khẳng định được rằng "những lao động có trình độ kỹ thuật trong nước thì luôn sẵn có việc làm".

    Bản thân tôi có thể giới thiệu với Bộ Lao động và ông Đặng Ngọc Tùng khoảng trên 10 người tôi biết đều là kỹ sư nhưng "đang thiếu, hoặc không có việc làm". Như vậy, quy định của pháp luật cần xem xét lại cho đầy đủ hơn.

    2. Thứ hai là chúng ta chỉ có thể tiêu chuẩn hóa công việc trong phạm vi từng tổ chức (việc này cũng thường xuyên phải rà soát lại vì công việc thường xuyên thay đổi), chứ không thể tiêu chuẩn hóa công việc toàn bộ công việc trong nền kinh tế quốc dân được.

    Vì vậy, không thể dựa vào công việc để xác định các đối tượng là người nước ngoài được phép làm việc tại Việt Nam. Trong trường hợp dựa vào tiêu chuẩn con người như "phải là lao động có trình độ kỹ thuật" mới được vào Việt Nam làm việc thì nảy sinh vấn đề là: lao động nước ngoài có trình độ chuyên môn, kỹ thuật lại đi làm những công việc giản đơn thì sao ?; Dựa vào đâu để đánh giá một lao động là "có trình độ kỹ thuật" ? - dựa vào bằng cấp và chứng chỉ ư, kinh nghiệm làm việc ư...

    Đây không phải là căn cứ khoa học, bởi vì: Bằng cấp là sự ghi nhận đã trải qua đào tạo, chứ không khẳng định được năng lực làm việc (là cải mọi tổ chức thực cần); Kinh nghiệm làm việc là sự đã trải qua, chứ không phải năng lực làm việc với hiện tại.

    Những tiêu chuẩn vừa nêu, chỉ là những tiêu chí tham khảo cho công tác tuyển dụng nhân sự trong từng tổ chức mà thôi, nó không thể là tiêu chuẩn cho vận hành một xã hội hay tao ra một căn cứ pháp lý được, cho dù loài người đã và đang chấp thuận thỏa hiệp một logic rằng "có học thì có hơn", hay "chăm hay không bằng tay quen"...

    3. Thứ ba là công tác quản lý lao động nước ngoài: tất cả lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc đều cần có giấy phép lao động là điều cần thiết mà các nước trên thế giới đều làm, bởi vì nó liên quan đến tiêu dùng, sử dụng, khái thác tài nguyên, liên quan đến giao dịch dân sự, phúc lợi và an ninh và quản lý Nhà nước...

    Tuy nhiên, việc quản lý lao động nước ngoài nên thực hiện thông qua chế độ báo cáo định kỳ (hàng tuần, hàng tháng áp dụng với người sử dụng lao động), việc cấp phép thì giao cho cấp tỉnh, riêng việc kiểm tra thực thi quy định Nhà nước thì giao cho cơ quan quản lý hộ tịch cấp quận/huyện.

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Doanh nhân

Van Tuyen

17:28 (GMT+7) - Thứ Năm, 9/2/2012

Chức danh chủ tịch Hội đồng thành viên (HĐTV) không thể tự quyết gì cả. Tất cả các quyết định phải có nghị quyết của...

Trong bài: Miễn nhiệm Chủ tịch EVN vì để EVN Telecom thua lỗ (2 ý kiến)

Lê Anh

09:46 (GMT+7) - Thứ Năm, 9/2/2012

Chúng ta phát điên vì sung sướng khi được cầm chiếc iPhone, iPad bấy nhiêu thì có những người cũng phát điên đến muốn chết...

Trong bài: Góc khuất Foxconn qua lời người trong cuộc (5 ý kiến)

Mai Thiên Bình

07:47 (GMT+7) - Thứ Năm, 9/2/2012

Chẳng có cách nào hữu hiệu hơn khi mà thanh khoản ngân hàng căng thẳng, giá vốn vay từ ngân hàng cao chót vót, chỉ...

Trong bài: 2,67 tỷ USD và thời của mua bán, sáp nhập (1 ý kiến)

Long Vũ

22:32 (GMT+7) - Thứ Tư, 8/2/2012

Trung Quốc vừa công bố con số thu nhập đầu người năm 2011 là 5440 đô la/ người. Nếu nhìn vào mức lương 200 đô...

Trong bài: Góc khuất Foxconn qua lời người trong cuộc (5 ý kiến)

Quang Vỹ

16:59 (GMT+7) - Thứ Tư, 8/2/2012

Tuy là lương thấp thật so với thế giới nhưng ở Trung Quốc thì Foxconn là nơi trả lương khá cao so với các xí...

Trong bài: Góc khuất Foxconn qua lời người trong cuộc (5 ý kiến)