VnEconomy > Tài chính 09:08 (GMT+7) - Thứ Tư, 1/7/2009

“Quản trị rủi ro là quan trọng nhất”

Có thể lý giải thế nào về việc các ngân hàng Việt Nam vẫn công bố những khoản lợi nhuận khá cao?...

“Quản trị rủi ro là quan trọng nhất”

Ông Lê Xuân Nghĩa - Ảnh: TT.

Có thể lý giải thế nào về việc các ngân hàng Việt Nam vẫn công bố những khoản lợi nhuận khá cao, đối lập với sự khó khăn, thậm chí là sụp đổ của nhiều định chế tài chính lớn trên thế giới trong giai đoạn khủng hoảng?

Đánh giá về điều này, ông Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, nói:

- Theo số liệu thống kê với các định chế tài chính lớn trên thế giới mà CommerzBank (Đức) đưa ra, tỷ lệ lợi nhuận ròng/vốn tự có cao nhất là 2% và mức thấp nhất là -80%. Trong khi đó, tỷ lệ này của các ngân hàng Việt Nam ở mức 14-15%, chứng tỏ khả năng sinh lời rất cao của ngành ngân hàng Việt Nam.

Kết quả này có được dựa vào mấy điểm khác biệt giữa ngân hàng Việt Nam và các ngân hàng chịu ảnh hưởng mạnh của khủng hoảng trên thế giới.

Đầu tiên là lòng tin của dân chúng vào hệ thống ngân hàng Việt Nam hầu như không bị ảnh hưởng trong giai đoạn kinh tế khó khăn. Điều này thể hiện ở tổng số dư tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng vẫn tăng đều đặn từng tháng.

Mặt khác, không như các ngân hàng lớn của châu Âu hay Nhật Bản, các ngân hàng Việt Nam không có giao dịch nào đối với các tài sản độc hại liên quan đến hoạt động cho vay dưới chuẩn tại Mỹ.

Nhưng khủng hoảng vẫn để lại nhiều hậu quả đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam mà một trong số đó là tỷ lệ nợ xấu tăng lên. Có nên lo ngại về hiện tượng này, thưa ông?

Số liệu thống kê chính xác chưa công bố, nhưng con số báo cáo hiện nay là tỷ lệ nợ xấu chiếm khoảng 3% tổng dư nợ cho vay, có nghĩa là có tăng hơn so với năm ngoái.

Nhiều người có thể cảm thấy lo ngại trước tỷ lệ này, nhưng theo tôi, mức 3% hiện nay vẫn còn là một con số rất thấp nếu so với thời kỳ khủng hoảng tài chính châu Á 1997 – 1998. Khi đó, tỷ lệ nợ xấu của toàn bộ hệ thống ngân hàng lên tới 14,7%.

Thời điểm đó, việc xử lý một khoản nợ xấu như vậy là rất khó khăn do ngân sách hạn hẹp, tài trợ nước ngoài chưa nhiều. Nhưng cuối cùng, đến năm 2005, toàn bộ số nợ xấu đó được giải quyết xong.

Còn hiện tại, 3% nợ xấu nếu so với nguồn lực tài chính của các ngân hàng thương mại với quỹ dự phòng rủi ro cao hơn, ngân sách của Chính phủ mạnh hơn, tài trợ của nước ngoài khả quan hơn thì theo tôi không có gì phải lo ngại.

Thậm chí, nếu cho là con số báo cáo chưa đầy đủ mà thực tế có thể là 4 - 5% thì vẫn trong tầm có thể xử lý được, không có gì phức tạp.

Có ý kiến cho rằng, khủng hoảng đặt ra vấn đề tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, ông nghĩ sao về ý kiến này?

Không phải đến bây giờ, khi khủng hoảng nổ ra, vấn đề tái cấu trúc ngành ngân hàng mới được nhắc đến mà công việc này đã được tiến hành từ năm 2001 tới nay. Trong khoảng thời gian này, cơ cấu ngành ngân hàng Việt Nam nói chung và các ngân hàng nói riêng đã được cải thiện rất nhiều.

Điểm quan trọng nhất làm nên chuyển biến chính là việc ứng dụng các công nghệ mới, hiện đại, buộc ngân hàng phải thay đổi phương thức quản lý, đào tạo nhân lực, tăng cường quản trị rủi ro. Chính những yếu tố này đã khiến cho sức cạnh tranh cũng như năng lực quản trị của ngân hàng tăng lên rất nhiều.

Cuộc khủng hoảng lần này chứng minh một điều: hệ thống giám sát tài chính của Mỹ sao nhãng quản trị rủi ro, nhất là quản trị rủi ro đối với các sản phẩm tài chính mới. Không thể sử dụng một sản phẩm tài chính mới mà chưa có cách thức để quản lý nó, để quản trị rủi ro của nó.

Cho nên tôi cho rằng vẫn phải quay lại triết lý muôn thuở của quản trị tài chính: quản trị rủi ro là quan trọng nhất. Rủi ro ở đây không chỉ có rủi ro cho một định chế tài chính, một ngân hàng mà phải tính cả rủi ro cho người gửi tiền và rủi ro cho các nhà đầu tư, kể cả các nhà đầu tư bất động sản và đầu tư chứng khoán.

Vấn đề của tài chính hiện đại không phải là lợi ích của các tập đoàn tài chính mà phải quan tâm đến cả lợi ích của người gửi tiền, của nhà đầu tư và của người tiêu dùng. Đây là phương châm giám sát tài chính mới, hiện đại và nếu cấu trúc lại hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam thì phải dựa trên nền tảng như vậy.
  Bình luận (6)
Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết. Đang hiển thị 6/6 bình luận.
  • Tôi cũng cảm thấy vui vui khi hệ thống ngân hàng Việt Nam báo cáo có lợi nhuận cao, nhưng thật sự tôi cũng lo lắng về khả năng quản trị rủi ro của hệ thống ngân hàng thương mại hiện nay. Các ngân hàng thương mại các nước vừa rối (nhiều nhất là Mỹ) bị phá sản phần lớn là do rủi ro tín dụng, đặc biệt là tín dụng tiêu dùng: mua nhà, mua xe...và tín dụng chứng khoán.

    Ngân hàng thương mại Việt Nam đang hội đủ các yếu tố trên, do đó cần hết sức cẩn thận và kiểm soát tín dụng chặt chẽ.

    14:08 (GMT+7) - Thứ Năm, 2/7/2009 Trả lời Thích
  • Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của TS Lê Xuân Nghĩa, nợ xấu chỉ có 3% thì không có gì đáng lo ngại, thậm chí là hơi thấp nếu xét trong mối tương quan giữa lợi nhuận và rủi ro. Còn tín hiệu từ phía thị trường chứng khoán chưa đủ để kết luận vì qui mô vốn hoá của thị trường chứng khoán chúng ta chưa đủ để làm hàn thử biểu cho nền kinh tế.

    Còn ý kiến cho rằng gói kích cầu là một cơ hội sinh lợi cho ngân hàng thương mại, tôi chưa được rõ, mong bạn phân tích thêm.

    10:46 (GMT+7) - Thứ Năm, 2/7/2009 Trả lời Thích
  • Chuyện ngân hàng lãi trong thời kỳ khủng hoảng là chuyện đương nhiên ở VN. Vì:

    - Khi có tiền dư thừa thì bộ phận lớn nghĩ tới gửi NH.

    - Người kinh doanh, người có nhu cầu về vốn thì đều nghĩ tới NH. Họ còn kênh huy động nào nhanh và tiện lợi như vậy đâu. Đặc biệt trong thời khủng hoảng thì đảo nợ chỉ được thực hiện ở ngân hàng. Càng đảo được nợ thì thu nhập của NH càng cao (lấy vốn vay trả lãi). Thu nhập cao đương nhiên có lãi. Một vấn đề được đảm bảo chắc chắn nữa là cứ cho vay là có khoản 4%. Chưa biết có thu hồi được nợ hay không nhưng đã có 4% thu nhập.

    Hãy cảnh giác vì Việt Nam đã có bài học về sự đổ vỡ NH. Còn trên thế giới NH phá sản là bình thưòng. VN đang đi trên con đường kinh tế thị trường thì cũng không thể tránh khỏi những diễn biến như vậy.

    09:37 (GMT+7) - Thứ Năm, 2/7/2009 Trả lời Thích
  • Lý giải của ông Nghĩa chỉ đúng một phần nhỏ của một vấn đề lớn, thậm chí rất lớn, đó là tính hiệu quả của hoạt động ngân hàng gắn với hiệu quả chung của nền kinh tế.

    Lợi nhuận ngân hàng Việt Nam từ xưa đến nay hầu như chỉ xuất phát từ tín dụng, thu lãi vay từ nền kinh tế. Với quy mô kinh tế nhỏ và còn nhiều mặt ốm yếu như Việt Nam mà hệ thống ngân hàng " lãi to" là điều hơi kỳ quặc.

    Tuy nhiên đây là lỗi của điều hành vĩ mô chứ không hoàn toàn do ngân hàng. Chúng ta đã sai lầm lớn khi duy trì một cơ chế lãi suất cao trong nền kinh tế, trong khi chung quanh ta các nước có mức lãi suất thấp hơn nhiều.

    Một gia đình trung lưu Việt Nam hiện nay nếu muốn đầu tư một căn hộ là đã vô cùng vất vả rồi, bởi vì lãi suất cao và kỳ hạn vay thì không được quá 15 năm? Người nghèo thì càng khó mơ tưởng.

    Nói như vậy để thấy rằng, cơ chế lãi suất hiện hành là không đạt yêu cầu và không hỗ trợ phát triển tốt. Ngân hàng Nhà nước đã bỏ qua cơ hội cực lớn của thời kỳ lãi suất thấp, khi mà cả thế giới đều hạ lãi suất trong khi ta thì lại cầm chừng, đến nay vẫn loay hoay ở mức 7%/năm.

    Nếu mạnh dạn hơn, lãi suất cơ bản có thể xuống thấp 4-5%, mở ra cơ hội cực lớn để điều chỉnh toàn bộ chiến lược điều hành nền kinh tế, trong đó chính sách tiền tệ là then chốt. Rất tiếc, điều này đã không được nhận diện một cách đầy đủ, bây giờ không còn cơ hội nữa.

    08:59 (GMT+7) - Thứ Năm, 2/7/2009 Trả lời Thích
  • Theo tôi, ý kiến của ông Lê Xuân Nghĩa vẫn chưa đúng lắm. Tuy số liệu của ngành ngân hàng công bố đến thời điểm này là rất đẹp. Nhưng phải nhìn xa hơn một chút, khi nợ đến hạn của các khoản vay ưu đãi mà Chính phủ giành cho đến hạn, lúc đó mới biết được thực hư ngành ngân hàng thế nào.

    Nếu chúng ta quá lạc quan chắc chắn chỉ một thời gian ngắn nữa là chúng ta sẽ lại rơi vào khủng hoảng. Thị trường chừng khoán Việt Nam đang giảm sút chứng tỏ nền kinh tế Việt Nam chưa thực sự phục hồi. Theo tôi nên thận trọng trong mọi vấn đề.

    19:02 (GMT+7) - Thứ Tư, 1/7/2009 Trả lời Thích
  • Theo tôi, ngoài lý do số dư tiền gửi tăng dựa vào lòng tin của người dân Việt Nam vào hệ thống ngân hàng Việt Nam, phải kể đến lý do số tiền cho vay tăng đều trong thời gian qua. Gói kích thích của Chính phủ là một cơ hội sinh lời cho các ngân hàng trong nước. Nhờ đó mà tỉ lệ lợi nhuận ròng trên vốn của Việt Nam cao hơn nhiều so với các nước khác trên thế giới( nhất là những nước chịu ảnh hưởng mạnh của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu).

    15:20 (GMT+7) - Thứ Tư, 1/7/2009 Trả lời Thích
Bình luận của bạn
Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu.
Gõ Telex Gõ VNI
Chọn hình đại diện cho bình luận của bạn?