Chớ coi thường năng lượng gió

NGUYỄN MẠNH

11/11/2009 11:01 (GMT+7)

picture Kết quả điều tra sơ bộ của Bộ Công Thương cho thấy, 8,6% diện tích đất của Việt Nam được đánh giá là những vùng có tiềm năng lớn để phát triển năng lượng gió, nhất là các tỉnh phía Nam, ước tính sản lượng vào khoảng trên 1. 780 MW.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có nguồn năng lượng gió khá dồi dào, có thể khai thác bổ sung cho nguồn điện quốc gia. Tuy nhiên, cho đến nay nguồn năng lượng này vẫn chưa được phát triển đúng với tiềm năng vốn có.

Ông Phạm Khánh Toàn, Viện trưởng Viện Năng lượng (Tập đoàn Điện lực Việt Nam - EVN) cho biết, hiện tại Việt Nam đang phải nhập khẩu điện từ Trung Quốc, sắp tới là Lào với mức độ dự kiến sẽ ngày càng gia tăng. Không những vậy, trong vòng 20-30 năm tới, trữ lượng dầu thô và khí thiên nhiên của Việt Nam sẽ cạn kiệt. Đồng thời, từ sau năm 2012 sẽ phải nhập khẩu than và sau năm 2020 trở thành nước nhập khẩu năng lượng.

Tiềm năng nhiều, hiệu quả ít

Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam có hai vùng giàu tiềm năng nhất để phát triển năng lượng gió là Sơn Hải (Ninh Thuận) và vùng đồi cát ở độ cao 60-100m từ phía tây Hàm Tiến đến Mũi Né (Bình Thuận). Vùng này không những có vận tốc gió trung bình lớn, mà còn có một thuận lợi là số lượng các cơn bão khu vực ít và gió có xu thế ổn định. Trong những tháng có gió mùa, tỷ lệ gió nam và đông nam lên đến 98% với vận tốc trung bình 6-7 m/giây, tức là vận tốc có thể xây dựng các trạm điện gió công suất 3-3,5 MW.

Ngoài ra, các vùng đảo ngoài khơi như Bạch Long Vĩ, đảo Phú Quý, Trường Sa... là những địa điểm gió có vận tốc trung bình cao, tiềm năng năng lượng gió tốt, có thể xây dựng các trạm phát điện gió công suất lớn để cung cấp năng lượng điện cho dân cư trên đảo.

Kết quả điều tra sơ bộ của Bộ Công Thương cho thấy, 8,6% diện tích đất của Việt Nam được đánh giá là những vùng có tiềm năng lớn để phát triển năng lượng gió, nhất là các tỉnh phía Nam, ước tính sản lượng vào khoảng trên 1. 780 MW. Riêng tại Ninh Thuận, Bình Thuận, Trà Vinh và Sóc Trăng, tổng công suất khai thác ước tính có thể lên tới 800 MW.

Theo đánh giá của các nhà khoa học, tiềm năng gió của Việt Nam (trên độ cao 65 m) rất khả quan, ước đạt 513.360 MW, lớn hơn 200 lần công suất nhà máy thủy điện Sơn La và hơn 10 lần tổng công suất dự báo của ngành điện vào năm 2020. Tuy nhiên, đây mới chỉ là tiềm năng lý thuyết, trên thực tế sản lượng có thế khai thác được sẽ ít hơn nhiều.

Nhưng đây cũng sẽ là nguồn năng lượng đáng kể có thế khai thác bổ sung cho nguồn điện quốc gia, thay thế các nguồn năng lượng ngày càng cạn kiệt. Hiện đã có nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đang xúc tiến nghiên cứu triển khai dự án. Tại Ninh Thuận đã có 8 dự án với tổng công suất lắp đặt đăng ký là 698 MW.

Công ty Cổ phần Năng lượng tái tạo Việt Nam đã lắp được 5 tuabin 1,5 MW, cao 85 m tại huyện Tuy Phong, Bình Thuận và sẽ lắp thêm 7 tuabin nữa vào cuối năm 2009, đưa tổng công suất lắp đặt giai đoạn I lên 18 MW. Tại Bình Thuận đã có 10 nhà đầu tư đăng ký đầu tư vào 12 dự án điện gió với tổng công suất đăng ký 1.651 MW, trong đó có 2 dự án đã được cấp giấy phép.

Theo thoả thuận ký kết giữa Bộ Công Thương và Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức (GTZ) tại Hà Nội, GTZ sẽ hỗ trợ 1 triệu Euro cho Việt Nam thực hiện dự án “Xây dựng khung pháp lý và hỗ trợ kỹ thuật cho điện gió nối lưới tại Việt Nam” trong giai đoạn 2009-2011. Dự án sẽ giúp triển khai một số chương trình như xây dựng khung pháp lý cho điện gió nối lưới và quy trình quy hoạch điện gió, chương trình thúc đẩy tiến bộ khoa học về điện gió và tư vấn các dự án điện gió tại Việt Nam.

Năng lượng gió còn nhiều trở ngại

Ông Vũ Mạnh Hà, Giám đốc Công ty Cổ phần Năng lượng sạch toàn cầu cho biết, nếu nỗ lực cao, năm 2020 nước ta cũng mới đạt sản lượng điện gần 300 tỷ kwh, mức bình quân mỗi người dân cũng mới chỉ có 2.300-2.400 Kwh. Việt Nam có tiềm năng gió lớn nhất Đông Nam Á.

40% diện tích thuộc vùng gió mạnh có thể xây dựng nhà máy điện công suất từ 100-1.000 MW. Tuy nhiên, nhiều dự án phát triển năng lượng gió, công suất 20MW, 30MW và 50MW lập từ năm 1997-2000, nhưng vẫn chưa được triển khai xây dựng. Trong danh mục các nhà máy điện đưa vào vận hành trong giai đoạn 2006-2015 của ngành điện không có một công trình độc lập nào sử dụng năng lượng tái tạo, dù chỉ vài chục MW.

Đến nay, Việt Nam cũng chưa có chính sách khuyến khích hỗ trợ việc phát triển năng lượng mới và tái tạo. Điều này cho thấy Việt Nam xem nhẹ nguồn năng lượng sạch mà tiềm năng có nhiều.

GS.TS. Lê Danh Liên, Trung tâm nghiên cứu năng lượng mới, Đại học Bách khoa Hà Nội cho rằng, việc EVN đóng vai trò như người mua điện, phân phối, truyền tải và điều tiết duy nhất đã làm nản lòng các nhà đầu tư. Giải thích về điều này, theo ông Oliver Massmann, Công ty luật Duane Morris Việt Nam, các nhà máy điện sử dụng năng lượng tái tạo không thể bán điện ở giá thị trường làm ảnh hưởng đến khả năng trang trải chi phí và sinh lời của các cty đầu tư.

Đồng thời, sự độc quyền của EVN dẫn đến thiếu đầu tư tư nhân trong lĩnh vực năng lượng. Điều này có thể dẫn tới thiếu hụt năng lượng, cơ sở hạ tầng không được cải thiện, thiếu hụt các dự án đầu tư vào lĩnh vực năng lượng mới, ảnh hưởng đến khả năng sử dụng hiệu quả.

Bộ Công Thương đã trình Chính phủ xem xét và phê duyệt Quy hoạch tổng thể Phát triển năng lượng tái tạo, trong đó đặt mục tiêu đến năm 2020, sản lượng điện tái tạo chiếm khoảng 5% tổng nguồn điện. Với những bước tiến mạnh mẽ đó, trong tương lai không xa năng lượng gió sẽ là nguồn tài nguyên to lớn đóng góp cho sự phát triển của đất nước.

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Phan Bảo Lâm

    20:20 (GMT+7) - Thứ Ba, 26/10/2010

    Bạn Tiến Bộ đặt vấn đề như thế thì rồi sẽ đến lúc "nhà giàu cũng không có rau sạch mà ăn". Điện bị thiếu hụt thì mọi thứ sẽ trì trệ, sinh hoạt sản xuất rối loạn. Hàng sản xuất không kịp, giao không đúng hợp đồng, chẳng những bị phạt hợp đồng mà còn mất "mối".

    Bạn Hải Đăng lại đặt vấn đề môi trường. Năng lượng sạch là nguồn của nó sạch chớ không hẳn là phát ra năng lượng sạch. Thủy điện phá rừng làm hồ chứa nước chả lẽ không ảnh hưởng môi trường?

    VN nằm trong khu vực vỏ Trái đất mỏng gọi là "vành đai lửa Thái Bình Dương", việc tập trung 1 lượng nước khổng lồ trên 1 diện tích nhỏ hẹp có thể sẽ phát sinh những hoạt động địa chấn khó lường (như động đất chẳng hạn).

    Việc khai thác dầu thô, than đá gây ra hiểm họa môi trường thế nào ai cũng biết chưa nói tới việc đốt chúng để chạy máy phát điện.

    Nước Đức là 1 trong những nước giàu nhất TG, nền kinh tế của họ bằng toàn bộ phần còn lại của châu Âu, VN sao so sánh với Đức được. Họ có tiền để tài trợ, bù lỗ cho điện gió. VN mình lấy đâu ra tiền?

    Bạn Lê có vẻ nhầm lẫn giữa "thay thế" và "bổ sung". Có ai nói là dùng điện gió để thay thế các dạng năng lượng khác đâu, thậm chí có muốn cũng không làm được. Chỉ là bổ sung vào công suất điện quốc gia thôi.

    Bạn nhắc đến nước Mỹ. Đúng vậy, ta phải học người Mỹ ở chỗ sử dụng như thế nào có hiệu quả nhất. Không phải cứ nhất định phải xây nhà máy điện gió với quy mô lớn mới gọi là phát triển năng lượng sạch.

    Ta có thể xây từng trạm hoặc từng cụm trạm điện gió riêng lẻ nhằm phục vụ sinh hoạt cho 1 lượng dân số nhất định ở những vùng xa xôi hẻo lánh, biên giới, hải đảo, nơi mà không thể hoặc có thể xây dựng mạng dẫn điện nhưng chi phí rất cao không tương xứng với lượng điện tiêu thụ.

    Đó là vấn đề chính sách đối với vùng sâu vùng xa, mà đã là chính sách thì phải hạn chế chi phí đến mức thấp nhất. Vấn đề tái cơ cấu công nghệ để giảm tiêu hao năng lượng điện mà bạn Lê đề cập là rất tích cực.

    Nhiên liệu hybrid chỉ có thể coi là bổ sung với tính chất đối phó trước mắt vì nguồn nhiên liệu sinh học là có hạn, hiện giờ người ta chỉ có công nghệ nấu cồn từ bã mía, chưa có ứng dụng nào khác với những thứ mà ta vẫn phải bỏ đi với khối lượng rất lớn hàng năm như rơm rạ và các loại phế phẩm nông sản khác.

    Ý của bạn Ngo Duc Quang về việc áp dụng cơ chế FIT hiện nay là hợp lý vì công suất điện gió chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng công suất điện quốc gia. Nhưng... sau này, nếu tỷ lệ ấy chiếm hơn 50% thì thật là 1 "gánh nặng" đối với người dân. Cầu mong cho thu nhập của dân ta đến lúc ấy có thể chịu nổi "gánh nặng" ấy.

  • Ngo Duc Quang

    22:49 (GMT+7) - Thứ Bảy, 23/10/2010

    Không phải đến khi Việt Nam giàu rồi mới phát triển điện gió. Tại sao?

    Việt Nam là một trong 5 quốc gia bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất trên thế giới do biến đổi khí hậu. Đây là một thực tế rất đáng lo ngại.

    Theo UNDP, nếu trái đất chỉ tăng thêm 20C, thì 22 triệu nguời dân Việt Nam sẽ mất nhà và mất 45% diện tích đất nông nghiệp, vùng ÐBSCL sẽ ngập nước. Với 40-50 triệu tấn than dùng cho nhiệt điện sẽ có vài chục triệu tấn CO2 phát thải vào khí quyển gây hiệu ứng nhà kính, góp phần làm biến đổi khí hậu theo chiều hướng xấu.

    Biến đổi khí hậu còn ảnh hưởng xấu đến nguồn tài nguyên nước, dẫn đến ảnh hưởng dòng chảy, lưu lượng đỉnh lũ, độ bốc thoát hơi khiến giảm đi đáng kể nguồn nước ngọt.

    Trong khi đó, kế hoạch 5 năm tới của EVN là xây dựng thêm hàng loạt nhà máy điện đốt than càng làm tăng nguy cơ cạn kiệt nhanh nguồn năng lượng hóa thạch này và gia tăng lượng CO2 phát thải.

    Năng lượng gió không làm ô nhiễm môi trường, không làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, việc phát triển để thay thế một phần những nhà máy nhiệt điện truyền thống cũng là một lựa chọn hợp lý nhằm ứng phó với tình hình biến đổi khí hậu.

  • Ngo Duc Quang

    22:43 (GMT+7) - Thứ Bảy, 23/10/2010

    Đến nay cả nước đã có hơn 20 dự án điện gió với công suất đăng ký khoảng 20.000 MW. Tất cả đang mong chờ nhà nước ban hành một chính sách khuyến khích phát triển năng lượng gió phù hợp, để biến tiềm năng thành hiện thực.

    Từ kinh nghiệm thực tế của nước Đức cũng như ở nhiều nước Châu Âu khác qua triển khai thành công cơ chế FIT (feed-in tariff), có thể thấy:

    1) Để phát triển mạnh năng lượng tái tạo (NLTT ) nói chung, và năng lượng gió nói riêng, sự hỗ trợ của Chính phủ có ý nghĩa quyết định.

    2) Điện gió không thích hợp trong môi trường cạnh tranh (do cơ cấu giá thành khác với nhiệt điện và vì giá bán điện gió phải được xác định ngay từ trước khi quyết định đầu tư và không thay đổi trong thời gian dài) và nó cần có một cơ chế hỗ trợ đặc biệt để phát triển.

    3) Cơ chế hỗ trợ ấy không cần và không nên dựa vào tài trợ từ ngân sách nhà nước, vì lẽ:

    (a) Cơ chế “Hỗ trợ giá điện trực tiếp từ ngân sách Nhà nước” không thể tạo động lực và không làm an tâm các nhà đầu tư trong và ngoài nước vì sự hỗ trợ này có thể bị cắt giảm hoặc hủy bỏ bất kỳ lúc nào trong khi họ cần một chủ trương ổn định lâu dài để đầu tư vào lĩnh vực NLTT vốn nhiều rủi ro.

    Ngoài ra đây còn là một gánh nặng cho ngân sách Nhà nước (vì theo ước tính của một chuyên gia năng lượng, nếu phát triển điện gió theo đúng kế hoạch tại Quy hoạch tổng thể phát triển NLTT ở Việt Nam đến năm 2015, tầm nhìn đến 2025 được Bộ Công thương đưa ra, thì công suất điện gió sẽ lên tới 658 MW và nhu cầu kinh phí hỗ trợ cho điện gió có thể lên tới trung bình 20 triệu USD/năm) nhưng không có lộ trình kết thúc rõ ràng

    (b) Trong khi nếu áp dụng cơ chế FIT cũng với chỉ tiêu ấy và với các giả định sau đây: giá FIT= 10 US cent/kWh, giá mua điện gió của ngành điện=5.5 US cent/kWh, nhu cầu kinh phí hỗ trợ cho điện gió ước tính khoảng 77 triệu USD/năm. Phân bổ đều cho 16,7 triệu hộ khách hàng của EVN, số tiền mỗi hộ phải trả thêm không nhiều, khoảng 0.38 USD bằng 6.100 đồng/tháng. Như vậy, có thể đạt mục tiêu phát triển đã đề ra mà không cần đến sự tài trợ từ ngân sách nhà nước.

    4) Cơ chế FIT được đánh giá là một chủ trương có hiệu quả và ít tốn kém nhất so với nhiều giải pháp khác, nó tạo điều kiện cho các nhà đầu tư thuộc nhiều thành phần trong xã hội (cá nhân, tổ chức) tham gia cung cấp điện cho hệ thống điện quốc gia, đồng thời thúc đẩy nhà đầu tư hạ giá thành sản xuất và tiến dần đến việc chấm dứt cơ chế hỗ trợ này sau một thời gian nhất định.

  • 18:52 (GMT+7) - Thứ Tư, 11/11/2009

    Tôi hiện là nghiên cứu sinh ngành kinh tế môi trường. Tôi có tham dự buổi hội thảo về năng lượng gió do GTZ tổ chức tại TTHNQG. Tôi có một vài ý kiến chung như sau:

    1. Đại đa số các ý kiến đều đồng thuận là VN có tiềm năng gió, và nếu phát triển được năng lượng gió là rất tốt (môi trường, thay đổi khí hậu, giảm phụ thuộc vào nguồn năng lượng than vv)

    2. Đa số các đại biểu đều nhận ra được sự bất hợp lý trong cơ cấu giá điện hiện nay (độc quyền, chưa có chính sách hợp lý để khuyến khích những nguồn năng lượng mới)

    Tuy nhiên, như ý kiến trên đã nêu, rất nhiều đại biểu đã không xem xét đến yếu tố kinh tế xã hội hiện tại, không cần nhiều phân tích cũng có thể chỉ ra năng lượng gió không phải là ưu tiên phát triển cho Việt nam hiện nay - ít nhất nó không thể là nguồn năng lượng thay thế phát điện truyền thống (thuỷ điện, nhiệt điện, và tương lai là nhiên liệu sinh học, pin mặt trời, hạt nhân).

    Chi phí năng lượng gió rất lớn so với năng lượng truyền thống, và năng lượng gió chỉ được coi như nguồn bổ sung vào nguồn chính chứ nó không thể thay thế hoàn toàn do tính phụ thuộc thời tiết. VN hầu như chưa sản xuất được turbin gió, phải nhập hoàn toàn của nước ngoài, có chăng chúng ta xây dựng được phần thô và lắp ghép.

    Vậy nên bài toán kinh tế đặt ra là chúng ta được gì nếu đi mua toàn bộ công nghệ của nước ngoài để phát điện với chi phí đắt gấp đôi chi phí sản xuất hiện nay? Trung Quốc có chương trình điện gió nhưng họ đã sản xuất được hầu hết thiết bị, do đó giá thành và yếu tố nội địa đã được sự đồng thuận của người dân đóng thuế.

    Việc phát triển các nguồn năng lượng mới phải đi liền với hiệu quả, không thể cứ lấy ngân sách đi nhập thiết bị về rồi làm theo phong trào, trong khi các ưu tiên khác thì không chú trọng, chẳng hạn như đầu tư phát triển nội địa hoá công nghệ để giảm thiểu chi phí, đưa điện gió thành nguồn năng lượng thực sự mang tính kinh tế cho người sử dụng. Các chính sách chỉ có thể thành công nếu nó đi vào cuộc sống của mỗi người dân - ở đây là giá điện gió phải mang tính cạnh tranh với các nguồn khác.

    Không thể hy vọng người dân "tự nguyện" mua điện với giá cao bởi vì nó được gắn cái mác "sạch". Việc chính phủ đứng ra bao cấp mua điện gió ở mức cao rồi bán lại cho người sử dụng ở giá thấp cũng hết sức vô lý - bởi bản chất là nguồn tài chính được dùng để khuyến khích nhập khẩu máy móc của nước ngoài chứ không phải do chúng ta tự làm.

    Tôi có thể lấy một ví dụ ở Hoa Kỳ mà chúng ta có thể học tập. Việc phát triển công nghệ, các nguồn năng lượng mới được đưa ra như là yêu cầu bắt buộc đối với các công ty cung cấp.

    Chẳng hạn như nếu một công ty muốn tăng công suất thì phải phát triển nguồn điện tử gió hay mặt trời chiếm một tỷ lệ nhất định trong tổng công suất. Yêu cầu này bắt buộc các công ty phải dành một khoản chi phí đầu tư phát triển công nghệ chứ không phải lấy từ ngân sách chính phủ.

    Tương tự như vậy, công ty xe buýt phải tuân thủ yêu cầu khí thải bằng cách kết hợp xe sử dụng pin nhiên liệu với xe động cơ xăng trong đội xe. Muốn vậy chính sách phải hướng thẳng vào nguồn cung, tức công ty sản xuất.

    Một ví dụ nữa là để giảm thiểu sủ dụng nhiên liệu hoá thạch (xăng dầu, gas), các công ty cung cấp nhiên liệu phải mua cồn sinh học ethanol để pha vào xăng chứ không bán xăng nguyên chất.

    Đưa ra yêu cầu bắt buộc đối với nhà sản xuất phải phát triển công nghệ là giải pháp tối ưu nhất, thay vì sử dụng ngân sách và kêu gọi người dân. Càng không nên đánh thuế sử dụng điện (theo như một khuyến nghị của GTZ), bởi thị trường điện ở nước ta vốn đã méo mó - một chính sách nếu không đánh giá nghiên cứu kỹ sẽ cực kỳ nguy hiểm.

    Trên đây là một số góp ý, mong nhận được phản biện trao đổi của các cá nhân tổ chức có liên quan.

  • Hải Đặng

    18:12 (GMT+7) - Thứ Tư, 11/11/2009

    Ý kiến của anh "Tiến Bộ" liệu đã đúng chưa khi mà nguồn năng lượng điện từ các nhà máy thuỷ điện là có hạn, còn các nhà máy nhiệt điện thì sẽ lấy đâu nhiên liệu để vận hành khi mà nguồn than đã sắp cạn kiệt.

    Và chắc chắn 1 điều chúng ta sẽ phải tìm nguồn năng lượng mới, vậy từ đâu...?

    Chắc rằng chúng ta ai cũng nghĩ tới giải pháp cho nguồn năng lượng mới là: điện hạt nhân, và nguồn năng lượng gió, mặt trời.

    Chúng ta có thể đưa ra phép so sánh đơn giản: nếu phát triển năng lượng hạt nhân thì sao, theo mình được biết thì chi phí cho phát triển năng lượng hạt nhân rất tốn kém (gấp 3 lần năng lượng gió & mặt trời) và hơn nữa là tác động ghê gớm tới môi trường.

    Và ngược lại sử dụng nguồn năng lượng sạch từ gió sẽ vừa giảm thiểu chi phí và môi trường!

    Chắc hẳn chúng ta ai cũng biết Đức là một nước công nghiệp phát triển. Vậy theo các bạn tại sao Chính phủ Đức lại quyết định đóng cửa các nhà máy điện hạt nhân trước 2020?

    Chúng ta có nhiều điều kiện để phát triển triển nguồn năng lượng sạch, vậy tại sao ko? Khẩu hiệu "Đi tắt, đón đầu khoa học công nghệ" được nói tới rất nhiều! Chúng ta là nước đang phát triển vậy nên việc lựa chọn hướng phát triển đúng là rất quan trọng!

  • Tiến Bộ

    13:49 (GMT+7) - Thứ Tư, 11/11/2009

    Về lý thuyết thì không sai.

    Tuy nhiên, khía cạnh kinh tế cần phải xem xét một cách thấu đáo, chi phí sản xuất ra 1 kwh điện năng lượng sạch cao hơn 2-2.5 lần chi phí của thuỷ điện. Khi đất nước còn nghèo cần phải cân nhắc hài hoà giữa kinh tế và môi trường.

    Thực tế cho thấy các nước phát triển cũng chỉ có sản lượng điện từ năng lượng gió rất khiêm tốn (chỉ 1-2%)có loại này chỉ để cho đủ loại hình. Việt Nam là đất nước còn nằm trong tốp nghèo, sài điện gió không khác nào nhà nghèo ăn rau sạch.

    Các doanh nghiệp trong nước triển khai năng lượng sạch khi chi phí đầu vào tăng gấp 2-2.5 lần, như vạy đầu ra có khả năng cạnh tranh không?

    Xã hội còn nhiều lĩnh vực phải trợ cấp khó khăn, liệu loại hình này đã thuộc diện trợ cấp, trợ giá hay không?

    Việt Nam có thể triển khai năng lượng này tốt khi GDP đầu người đạt trung bình 35.000 USD/năm.

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn