Thanh khoản ngân hàng sẽ bất ổn?
 
  E-mail        Bản để in        Cỡ chữ       Chia sẻ:         
picture

Có thể thấy, thực tế lãi suất huy động tăng gần sát lãi suất cho vay đã phản ánh sự căng thẳng nguồn vốn của các ngân hàng - Ảnh: Quang Liên.

▪  NGUYỄN HOÀI
08:30 (GMT+7) - Thứ Hai, 16/11/2009

 

Thực tế lãi suất huy động tăng gần sát lãi suất cho vay đã phản ánh sự căng thẳng nguồn vốn của các ngân hàng

Không một ngân hàng nào đứng ngoài cuộc đua lãi suất VND và giới hạn chênh lệch lãi suất huy động và cho vay (NIM) không ít kỳ hạn chỉ còn 0,5%!

Do phải thực hiện hợp đồng tín dụng đã cam kết cũng như buộc phải cho vay hỗ trợ lãi suất kéo dài, trong khi trần lãi suất không đổi, các ngân hàng đang gặp rất nhiều khó khăn.

Trong tất cả những đợt tăng lãi suất huy động từ trước tới nay, hầu như khối ngân hàng thương mại cổ phần luôn tiên phong và lần này cũng không ngoại lệ.

NIM lùi dần về số không?

VietBank điều chỉnh lãi suất huy động VND hầu hết các kỳ hạn với mức tăng từ 0,2% - 0,39%/năm đối với các kỳ hạn từ 1 - 12 tháng. Cụ thể: 1 tháng: 8, 6%/năm; 3 tháng: 9%/năm; 12 tháng: 9,12%/năm và 36 tháng là 9,6% năm.

Cùng đó, ngân hàng này cũng áp dụng mức lãi suất cộng thưởng khá hấp dẫn: nếu gửi trên 1 tỷ đồng, được cộng thưởng từ 0,25% - 0,4%; 500 triệu - 1 tỷ đồng: 0,17% - 0,35%; 200 triệu - 500 triệu đồng: 0,1 - 0,25%; 100 triệu - 200 triệu đồng: 0,05% - 0,15% và gửi từ 50-100 triệu đồng được cộng thưởng 0,02 - 0,1%.

Cùng thời điểm này, SHB áp dụng mức lãi suất huy động bậc thang với mức lãi suất hấp dẫn không kém. Nếu như kỳ hạn 1 tháng gửi từ 500 triệu trở xuống, mức thực lĩnh là 9,2%/năm thì gửi 1 tỷ trở lên, khách hàng được nhận 9, 25%/năm. Đặc biệt, với kỳ hạn 36 tháng, nếu mức gửi lần lượt là dưới 500 triệu đồng/ trên 500 triệu - 1 tỷ đồng/ trên 1 tỷ đồng - 3 tỷ đồng/trên 3 tỷ đồng thì khách hàng được nhận mức lãi suất tương ứng với 9,65% - 9,67% - 9,69% và 9,72%.

Nhưng gây “sốc” nhất có lẽ là các trường hợp có biểu lãi suất áp dụng từ ngày 11/11 đối với kỳ hạn 1 tháng là 9,9%/năm, kỳ hạn 2, 3 tháng là 9,99%/năm.

Không đứng ngoài cuộc, các ngân hàng cổ phần có yếu tố nhà nước cũng bắt đầu rậm rịch tăng lãi suất. Chẳng hạn, VietinBank áp dụng lãi suất tối đa với tiền gửi có kỳ hạn là 9,5%/năm trong khi lãi suất của BIDV đối với kỳ hạn 24 và 36 tháng là 9,39%/năm.

Phân tích ở góc độ kỹ thuật một số kỳ hạn tiền gửi, thấy rằng, giới hạn NIM đang có sự bất thường.

Chẳng hạn, đối với VietBank, xem xét ở kỳ hạn 36 tháng với số lượng tiền gửi trên một tỷ đồng, trong điều kiện trần lãi suất bị khống chế 10, 5%/năm, nếu tính cả lãi suất cộng thưởng thì NIM là: 10,5% - 9,6% = 0,9%/năm. Tương tự đối với SHB, NIM kỳ hạn 36 tháng với số lượng tiền gửi trên 3 tỷ đồng là 0,78%/năm. Còn đối với Maritime Bank, NIM kỳ hạn 2, 3 tháng chỉ còn 0,51%/năm!

Liên quan đến vấn đề này, bà Võ Thị Sánh, Giám đốc Ban thông tin quản lý và hỗ trợ Hội đồng quản lý tài sản Nợ - Có (BIDV) cho biết, trong cơ cấu nguồn tiền gửi thời điểm này thì “không kỳ hạn” chiếm tỷ trọng rất cao nên ngân hàng phải dự trữ thanh toán rất lớn.

Như vậy, trong khi trần lãi suất vẫn chỉ 10,5%/năm nhưng ngân hàng phải trích đủ thứ từ dự trữ bắt buộc đến dự phòng rủi ro, cộng với dự trữ thanh toán lớn do tính lỏng của cơ cấu tiền gửi thì các ngân hàng không những rất khó khăn cân đối lợi nhuận mà còn bất ổn về thanh khoản.

Trở đi mắc núi, trở lại mắc sông

Có thể thấy, thực tế lãi suất huy động tăng gần sát lãi suất cho vay đã phản ánh sự căng thẳng nguồn vốn của các ngân hàng. Lý giải vì sao như vậy, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu nói: “Khi ngân hàng thực hiện hỗ trợ lãi suất, một yêu cầu bắt buộc là không được từ chối cho vay nếu đối tượng đủ điều kiện. Hơn nữa, những hợp đồng tín dụng đã ký từ trước đã đến ngày giải ngân cũng là một áp lực về vốn đối với ngân hàng”.

Theo Thống đốc, trong bối cảnh hiện nay, khó khăn không chỉ đến với ngân hàng thương mại mà cả đối với Ngân hàng Nhà nước. Bởi lẽ, nếu giữ nguyên hoặc hạ lãi suất cơ bản để hạ giá vốn cho doanh nghiệp, hỗ trợ chống suy giảm kinh tế thì phải đối mặt với áp lực cung cầu vốn trên thị trường. Và điều này lại mâu thuẫn với việc nâng lãi suất cơ bản để giải tỏa cơn khát vốn cho ngân hàng.

Như vậy, với những gì đang diễn ra, buộc lòng ngân hàng thương mại phải đẩy lãi suất lên cao. Bà Dương Thu Hương, Tổng thư ký Hiệp hội ngân hàng nhận xét: “Chính sách lãi suất đang làm cho hoạt động của Ngân hàng Nhà nước và ngân hàng thương mại lên không được mà xuống cũng không xong!”.

Trước những khó khăn này, vậy liệu Ngân hàng Nhà nước có hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng thông qua nghiệp vụ tái cấp vốn? Thống đốc bày tỏ: “Theo cảnh báo của các chuyên gia, đặc biệt là IMF thì trong bất cứ thời điểm nào, Việt Nam không được lơ là với phòng chống lạm phát. Vì thế, trong điều hành chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước phải bảo vệ sự ổn định của mức tăng cung tiền”.

Theo Thống đốc, tác động lạm phát có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhưng dứt khoát phải bảo vệ sự ổn định của lượng tiền cung ứng tăng thêm, do thực tế, nếu phát hành thêm một đồng thì vòng quay của một đồng đó trong một năm lên tới 4,85 lần.

Như vậy, nếu không tháo gỡ những bất hợp lý này thì nguồn tiền gửi sẽ bị tổn thương, không những thanh khoản ngân hàng bất ổn mà mong muốn bảo toàn tài sản người dân cũng không còn, chứ chưa nói đến lời lãi.

 
Thảo luận (6 ý kiến)
(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)
 
Khoa
22:30 (GMT+7) - Thứ Ba, 17/11/2009

Trong thời gian qua thì NHNN chú ý nhiều đến tín dụng, còn việc đảm bảo tính thanh khoản của các tổ chức tín dụng (TCTD) thì TCTD phải tự thân vận động.

Quan hệ này hợp lý, vì tín dụng ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế, còn tính thanh khoản thì vẫn là rủi ro mang tính cá biệt của từng đơn vị trong hệ thống, các TCTD phải có các bước cần thiết để quản lý rủi ro này.

Trừ khi xảy ra trường hợp bank-run, hoặc nới lỏng chính sách tiền tệ, NHNN sẽ không can thiệp vào hệ thống. Còn tăng cung tiền lúc này là gián tiếp thúc đẩy lạm phát, mà điều này thì NHNN không bao giờ làm.

Mọi người trong thời gian qua có lẽ lo lắng hơi thái quá về tính thanh khoản của các NH. Nếu mọi người để ý, NH lúc nào về cuối năm cũng có các chương trình khuyến mãi nhằm giữ chân KH, gián tiếp là giữ tiền trong hệ thống NH, nên mọi người không nên nghiêm trọng hóa vấn đề này.

Cuộc đua lãi suất của các NH đã ngấm ngầm từ vài tháng nay, đặc biệt là trong giai đoạn gần cuối năm, khi cầu tiền mặt của dân cư là rất lớn.

Cho nên, các NH đều có ít nhất 2 phương án cho thanh khoản cuối năm: vay liên ngân hàng (các NH quốc doanh, và một số NH CP lớn đều có lượng huy động dân cư cao), khuyến mãi tiết kiệm (nhất là khi CK còn lình xình, vàng bất ổn, chỉ có BDS là có dấu hiện đang nhộn nhịp lại); chưa kể là các doanh nghiệp/hộ kinh doanh, ngoài việc tiêu dùng, thì vẫn có nhu cầu trữ vốn cho hoạt động kinh doanh ngay sau tết.

Cho nên, thanh khoản của NH vẫn chưa phải là điều đáng lo ngại về cuối năm, nhất là khi yếu tố thời vụ đang chi phối thị trường huy động vốn của NH lúc này.

Đến cuối năm, chắc chắn các NH sẽ tung ra các chương trình khuyến mãi cho KH vay và gởi tiết kiệm, và những chương trình chăm sóc KH nhân dịp này, qua đó giải quyết bài toán thanh khoản.

Còn về NIM: các NH sớm hay muộn cũng sẽ đưa mức lãi suất về vùng 9%, vì áp lực lợi nhuận báo cáo cuối năm. Ít nhất 70% lợi nhuận của NH đến từ thu nhập lãi, và 4 tháng đầu năm nay, tình hình cho vay của NH là cực kì khó khăn.

Cho dù có lãi lớn như báo cáo các tháng, thì khoản lãi này cũng không phải đến từ hoạt động tín dụng bền vững, mà là các khoản phí hoặc hoạt động đầu tư khác.
Tuấn Anh
18:17 (GMT+7) - Thứ Ba, 17/11/2009

Nếu NHNN cho tăng cung tiền, giải quyết bài toán căng thẳng thanh khoản cho các ngân hàng thì chỉ lợi trước mắt là tốt cho các ngân hàng. NHNN chắc chắn muốn các NHTM chia sẻ khó khăn chung, hoạt động tín dụng quá mức, nên giờ phải cùng chia sẻ khó khăn.

Tăng cung tiền là rất nguy hiểm ở thời điểm hiện tại, bài học lạm phát năm 2008 vẫn còn nguyên. Có lẽ đã đến lúc nâng lãi suất cơ bản, khủng hoảng đã dịu bớt, đây là lúc nâng lãi suất cơ bản, chuyển sang ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô.

NHNN đừng nhìn vào Fed mà nghĩ Fed giữ nguyên lãi suất mà bắt chước họ, hãy nhìn vào Úc, Úc đã nâng 2 lần lãi suất, tạo ra sự ổn định tiền tệ, giữ được giá trị VNĐ ở mức hợp lý.
Manh Dung
13:57 (GMT+7) - Thứ Ba, 17/11/2009

Theo tôi, Ngân hàng Nhà nước nên nới lỏng quy định về việc ngân hàng thương mại cho vay bằng ngoại tệ và cho phép người vay bằng ngoại tệ bán ngoại tệ cho ngân hàng thương mại như trước đây vì:

- Hiện nay, các ngân hàng thương mại đang thừa đô la Mỹ huy động nhưng lại thiếu đô la Mỹ để bán, do đó gây tâm lý thiếu đô la Mỹ và do đó tỷ giá trên thị trường chợ đen bị đẩy lên cao.

- Khi tỷ giá trên thị trường chợ đen giảm xuống sẽ góp phần làm giải toả căng thẳng trên thị trường ngoại tệ, làm giảm giá vàng, làm giảm rủi ro do biến động tỷ giá.

- Việc cho vay bằng ngoại tệ sẽ làm giảm tỷ lệ giữa dư nợ cho vay bằng VND và tỷ lệ cho vay bằng ngoại tệ. Việc giảm dư nợ cho vay bằng VND còn làm giảm chi phí của Nhà nước liên quan đến hỗ trợ lãi suất.

- Khi rủi ro do biến động tỷ giá giảm, doanh nghiệp có nhu cầu vay ngoại tệ mới dám vay ngoại tệ để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.
Lê Quốc Anh
11:29 (GMT+7) - Thứ Ba, 17/11/2009

Theo tôi, vào thời điểm hiện nay NHNN nên tăng cung tiền để tiếp sức thêm cho thị trường để làm giảm áp lực vốn thanh khỏan cho các ngân hàng TMCP đặc biệt là các ngân hàng có quy mô nhỏ (hiện tại rất căng thẳng).

Việc tăng cung tiền sẽ có tác động giảm lãi suất trên thị trường liên ngân hàng và đồng thời gián tiếp sẽ làm giảm lãi suất huy động tiết kiệm (vì áp lực về vốn giảm).

NHNN không nên rút bớt lượng tiền trong lưu thông tại thời điểm này để ngăn chặn lạm phát cho năm sau. Tránh việc lập lại khan hiếm cung tiền như ở giữa năm 2008 khởi đầu cho cuộc đua lãi suất ngân hàng.
Nguyễn Thành Trung
18:00 (GMT+7) - Thứ Hai, 16/11/2009

Theo tôi lãi suất huy động và cho vay nên để thị trường tự quyết định, Ngân hàng Trung ương không nên can thiệp sâu như hiện nay (giới hạn lãi suất cả cho vay và huy động) làm méo mó thị trường tiền tệ.

Theo tôi, Ngân hàng Trung ương nên dùng các công cụ khác để điều tiết, chẳng hạn sử dụng công cụ giới hạn tỷ lệ dư nợ tín dụng tối đa theo ngành để điều tiết (ví dụ: Dư nợ quy định cho từng ngành tại TCTD không vượt quá 30% tổng dự nợ tín dụng hoặc chỉ đưa ra giới hạn cho một số ngành nhất định như đầu tư kinh doanh bất động sản, chứng khóan...).

Chúng ta cần phải xác định nguồn vốn tín dụng chảy vào đâu thì có lợi/bất lợi cho nền kinh tế để từ do có những chính sách giới hạn phù hợp. Hiện nay chúng ta chỉ cần giới hạn vốn đổ vào bất động sản, chứng khóan thì thị trường tiền tệ sẽ ổn định thôi, khi đó nguồn vốn tín dụng sẽ chủ yếu chảy vào các ngành như: chế biến, sản xuất, thương mại dịch vụ, đầu tư cơ sở hạ tầng,... sẽ có lợi cho nền kinh tế.

Đặc điểm các ngành chế biến, sản xuất kinh doanh, đầu tư cơ sở hạ tầng... mức độ tăng trưởng hàng năm ổn định dẫn đến tín dụng dành cho những ngành này cũng ổn định. Khi nhu cầu vốn về tín dụng tăng trưởng hàng năm ổn định thì dẫn đến thị trường huy động vốn sẽ ổn định theo (không có nhu cầu đột biến về vốn thì biến động lãi suất đột biến).

Mặt khác khi giới hạn tín dụng theo ngành thì sẽ xảy ra tình trạng các ngân hàng sẽ cạnh tranh nhau để tìm các khách hàng ở những ngành không bị giới hạn về tín dụng dẫn đến khách vay sẽ được lợi về lãi suất dẫn đến giảm giá thành sản xuất và cuối cùng người tiêu dùng cũng dược lợi.

Chúng ta hãy nhìn lại giai đọan từ năm 1998 đến 2005, khi đó thị trường tiền tệ rất ổn định, phải chăng tại thời điểm đó thị trường bất động sản quy mô còn nhỏ, thị trường chứng khóan ở giai đọan sơ khai?

Trên đây là chia sẽ của tôi về nội dung bài viết trên.
Lai Nguyen Trung
11:16 (GMT+7) - Thứ Hai, 16/11/2009

Theo tôi, trạng thái thiểu phát cục bộ cũng có thể kìm hãm tăng trưởng kinh tế. Hiện nay, tình trạng thiếu tiền mặt cục bộ đang diễn ra thể hiện trong việc thanh khoản của các ngân hàng thương mại, đồng thời giá USD và vàng tăng chóng mặt. Bởi vậy, Ngân hàng Nhà nước nên sớm áp dụng một số nghiệp vụ tiền tệ để tăng cung tiền mà không tác động đến lạm phát, góp phần tháo gỡ trạng thái thiếu tiền mặt cục bộ.
 
Ý kiến của bạn
(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)