“Lặng lẽ” bỏ lãi suất cơ bản?

MINH ĐỨC

16/11/2009 14:42 (GMT+7)

picture Tháng 5/2008, Ngân hàng Nhà nước bắt đầu trả lại vai trò cho lãi suất cơ bản theo cơ chế cho vay lãi suất trần. Nhưng hiện nay, các khoản cho vay phục vụ đời sống, tiêu dùng được theo cơ chế lãi suất thỏa thuận.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Sáng 16/11, Quốc hội đã thảo luận tại hội trường về dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước sửa đổi.

Đây không phải lần đầu tiên lãi suất cơ bản là chủ đề “nóng” được đưa ra tại diễn đàn này.

4 lần kiến nghị sửa không xong

Năm 2008, hoạt động ngân hàng có một điều chỉnh căn bản liên quan đến cơ chế lãi suất: ngày 19/5/2008, Ngân hàng Nhà nước chính thức áp cơ chế cho vay đối với VND theo lãi suất tối đa 150% lãi suất cơ bản. Lãi suất thỏa thuận trước đó bị đóng lại, lãi suất cơ bản trở thành công cụ sinh động hơn, thay vì xơ cứng và chủ yếu chỉ mang tính tham khảo trước đó.

Ngày 23/1/2009, Ngân hàng Nhà nước có Thông tư số 01/2009/TT-NHNN cho phép các tổ chức tín dụng được thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận đối với các khoản cho vay phục vụ đời sống, tiêu dùng. Theo đó, hoạt động cho vay áp song song 2 cơ chế trần và thỏa thuận cho các đối tượng khác nhau. Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa thể bỏ hẳn lãi suất cơ bản để tự do hóa lãi suất một cách “hợp pháp”.

Đáng chú ý là trong suốt 4 năm vừa qua, Ngân hàng Nhà nước liên tiếp có 4 lần kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét sửa, điều chỉnh một số điểm của các văn bản luật hiện hành để áp cơ chế lãi suất cho vay không lệ thuộc vào lãi suất cơ bản, hoặc có một giới hạn rộng hơn. Nguyên do, Điều 476 của Bộ luật Dân sự quy định mức lãi suất cho vay tối đa không vượt quá 150% lãi suất cơ bản.

Cụ thể, ngày 22/11/2006, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Đức Thúy thay mặt Chính phủ có từ trình số 15 đề nghị Thường vụ Quốc hội khóa 11 ra nghị quyết cho phép các tổ chức tín dụng không bị điều chỉnh bởi trần tại Điều 476 Bộ luật Dân sự. Kiến nghị này không được chấp thuận.

Ngày 15/2/2007, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước tiếp tục có tờ trình số 13 đề nghị Thường vụ Quốc hội giải thích Điều 476 cũng theo hướng để điều luật này không điều chỉnh các tổ chức tín dụng. Kiến nghị này cũng không được chấp thuận bởi Ủy ban Pháp luật của Quốc hội cho rằng không thể giải thích theo ý muốn chủ quan của Ngân hàng Nhà nước.

Ngày 23/3/2008, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu tiếp tục có tờ trình số 23 kiến nghị Thường vụ Quốc hội sửa luật, không tuân theo Bộ luật Dân sự mà theo các văn bản luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng, tránh Điều 476 của Bộ luật Dân sự. Kiến nghị này cũng không được chấp thuận.

Ngày 14/4/2008, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước lại có tờ trình Thường vụ Quốc hội sửa điều 476 bộ luật dân sự theo hướng nâng trần lãi suất cho vay lên 250% lãi suất cơ bản. Kiến nghị này cũng không được chấp thuận.

Và nay, trong dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước sửa đổi, quy định về lãi suất hiện hành đã bị bỏ.

Theo bà Lê Thị Nga, Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, sau 4 lần trình nhưng không thông qua được, “lần này Ngân hàng Nhà nước lấy danh nghĩa Chính phủ chọn một giải pháp khác là lặng lẽ bỏ quy định về lãi suất cơ bản tại Điều 9 của luật hiện hành mà trong tờ trình của Chính phủ không có lời giải thích với Quốc hội là vì sao phải bỏ”.

Không đơn giản chỉ là lãi suất

Không riêng bà Nga, hầu hết các đại biểu tham gia thảo luận sáng nay đều đặt câu hỏi tại sao lại bỏ quy định về lãi suất cơ bản trong dự thảo luật. Các ý kiến đều cho rằng đây là vấn đề quan trọng, không chỉ liên quan đến việc định hướng lãi suất trên thị trường, mà còn ảnh hưởng tới các quan hệ tín dụng, đến quan hệ dân sự và hình sự, cũng như sự thống nhất của hệ thống pháp luật.

Theo đại biểu Phan Trung Lý, phải giữ lãi suất cơ bản trong Luật Ngân hàng Nhà nước, thậm chí phải quy định rõ vai trò, chức năng của nó. “Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều can thiệp thị trường tiền tệ bằng việc giữ và công bố lãi suất cơ bản. 3 - 4 năm nay Ngân hàng Nhà nước để các ngân hàng thương mại không thực hiện đúng Bộ luật Dân sự, nhiều lần đề nghị sửa đổi nhưng Quốc hội không sửa đổi. Phải xem lại việc thực hiện vấn đề này”, đại biểu Lý nhấn mạnh.

Hay theo đại biểu Trần Thế Vượng, hệ thống pháp luật có quy định tội danh cho vay nặng lãi, lãi suất cơ bản là một căn cứ để xác định. Nếu bỏ, hoặc loại trừ các tổ chức tín dụng khỏi Bộ luật Dân sự thì không thể, bởi mọi đối tượng đều bình đẳng trước pháp luật.

Bà Lê Thị Nga cũng nhấn mạnh, lãi suất cơ bản ngoài là tiêu chí để xác định mức lãi suất cao nhất, căn cứ để xác định tội cho vay lãi nặng theo Điều 163 của Bộ luật Hình sự, còn là một công cụ để Nhà nước đã thể hiện vai trò định hướng của mình trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội trong vay vốn, để các quan hệ này diễn ra một cách trật tự và lành mạnh, ổn định cơ bản thị trường tiền tệ, ngăn chặn tình trạng cho vay nặng lãi…

“Từ năm 2006 đến nay tình trạng các tổ chức tín dụng cho vay vượt trần lãi suất cơ bản đã trở nên khá phổ biến. Điều này đặt các ngân hàng thương mại trước một nguy cơ bất lợi lớn về mặt pháp lý là nếu người đi vay kiện thì các hợp đồng vay sẽ bị tòa án tuyên vô hiệu và hậu quả là các ngân hàng sẽ không nhận được các phần lãi theo thỏa thuận.

Để giải quyết tình trạng trên, với vai trò là thành viên của Chính phủ, quản lý nhà nước về lĩnh vực này, thay vì phải xử lý các tổ chức vi phạm và bình ổn thị trường lãi suất thì Ngân hàng Nhà nước lại ra tay cứu các tổ chức tín dụng bằng các động thái qua 4 lần kiến nghị sửa đổi”, bà Nga nói.

Bà Nga cho biết, những lần kiến nghị đó không được Ủy ban Pháp luật của Quốc hội chấp thuận bởi “nguyên nhân của những vi phạm trong thời gian qua của các ngân hàng thương mại cho vay vượt trần lãi suất không phải do lỗi của quy định về lãi suất cơ bản trong Luật Ngân hàng Nhà nước, cũng không phải do điều 476 Bộ luật Dân sự, mà chính là do Ngân hàng Nhà nước chưa làm rõ trách nhiệm, chưa nhận thức đúng ý nghĩa, vai trò của lãi suất cơ bản nên chưa sử dụng tốt công cụ này để điều tiết, ổn định thị trường tiền tệ và do các tổ chức tín dụng không thực hiện đúng quy định của Bộ luật Dân sự”.

“Từ năm 2006 đến nay, Ngân hàng Nhà nước theo đuổi một mục tiêu rất kiên trì là đưa các tổ chức tín dụng thoát khỏi sự điều chỉnh của bộ luật dân sự, hợp thức hóa các vi phạm của các tổ chức tín dụng và tự do hóa lãi suất. Vậy một câu hỏi được đặt ra là việc kiên trì đề nghị như vậy là nhằm mục tiêu bảo vệ lợi ích cho ai, cho Nhà nước và nhân dân, để ngăn chặn cho vay lãi nặng, ổn định thị trường tiền tệ hay bảo vệ lợi ích cục bộ của các tổ chức tín dụng?”, bà Nga đặt vấn đề.

Ngoài ra, nếu bỏ lãi suất cơ bản trong dự thảo luật, một số mâu thuẫn mà nhiều đại biểu Quốc hội đặt ra là Nhà nước sẽ mất vai trò định hướng thị trường, có thể dẫn đến những cuộc chạy đua lãi suất huy động và lãi suất cho vay, gây rối loạn thị trường, đẩy người dân và doanh nghiệp phải vay với lãi suất cao và góp phần làm mất giá đồng Việt Nam; không kiểm soát được tình trạng cho vay lãi nặng của các tổ chức tín dụng và trong dân cư; vô hiệu hóa 6 điều của Bộ luật Dân sự, 1 điều của Bộ luật Hình sự và đẩy hoạt động của cơ quan điều tra, kiểm sát và tòa án vào bế tắc vì không còn căn cứ để giải quyết các vụ việc.

Theo đó, một loạt câu hỏi được đặt ra là Chính phủ phải giải trình rõ với Quốc hội vì sao phải bỏ lãi suất cơ bản? Về vĩ mô, việc bỏ lãi suất cơ bản sẽ được gì và mất gì? Có gây mâu thuẫn gì trong hệ thống pháp luật? Kinh nghiệm quốc tế trong vấn đề này như thế nào?

Dự kiến, các vấn đề liên quan đến lãi suất cơ bản có thể sẽ tiếp tục được đề cập trong phiên chất vấn Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu vào sáng mai (17/11).

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Đặng

    22:01 (GMT+7) - Thứ Ba, 17/11/2009

    Có nhận định cho rằng nếu không quy định trần lãi suất cho vay đối với các tổ chức tín dụng sẽ dẫn đến cuộc đua lãi suất huy động và lãi suất cho vay, gây rối loạn thị trường, đẩy người dân và phải vay với lãi suất cao, góp phần làm mất giá đồng Việt Nam.

    Nhận định này hoàn toàn trái ngược với những gì diễn ra trong thực tế. Thực tế cơ chế lãi suất thỏa thuận được áp dụng từ ngày 01/06/2002 đế 19/05/2008, gần 6 năm với sự phát triển nhanh chóng của hệ thống các tổ chức tín dụng góp phần không nhỏ phát triển kinh tế.

    Trong thời gian gần 6 năm đó không thấy có ý kiến nào xác định hệ thống tổ chức tín dụng đã gây rối loạn thị trường..., góp phần làm mất giá đồng Việt Nam vì Nhà nước không quy định lãi suất trần cho tổ chức tín dụng.

    Thực tế cũng chứng minh không thể dùng mệnh lệnh hành chính để điều hành nền kinh tế thị trường.

    Nếu chỉ cần dùng lãi suất cơ bản và quy định lãi suất trần là giải quyết xong bài toán về điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhà nước, ổn định thị trường tiền tệ thì quả là hết sức đơn giản, chưa từng thấy.

    Cũng trên thực tế, việc vi phạm các quy luật của kinh tế thị trường đã dẫn đến rối loạn kinh tế, gây thiệt hại cho cả Nhà nước và nhân dân, chẳng ai được lợi.

    Thiết nghĩ đó là câu trả lời cho câu hỏi vì lợi ích của ai mà 4 lần Ngân hàng Nhà nước xin không áp dụng cơ chế lãi suất trần đối với tổ chức tín dụng.

  • Huy

    11:08 (GMT+7) - Thứ Ba, 17/11/2009

    Tôi thực chẳng hiểu nổi việc duy trì lãi suất cơ bản để làm gì ngoài việc ngăn chặn cho vay nặng lãi, mà nói một cách cho cùng cũng chẳng ngăn chặn được vì thuật ngữ cho vay nặng lãi cũng không có nhiều ý nghĩa về mặt kinh tế.

    Theo tôi hướng ra của vấn đề trên là, tách bạch thật rõ ràng tiêu chí nào nhằm mục đích can thiệp vào hoạt động các tổ chức tài chính tín dụng, tiêu chí nào nhằm can thiệp vào hoạt động dân sự tránh có sự nhập nhằng như vừa qua

    Đối với hoạt động tài chính của nền kinh tế, theo tôi thật sự cần thiết khi có một chỉ tiêu (lãi suất định hướng chẳng hạn) để định hướng hoạt động tài chính ngân hàng theo đúng kế hoạch chung nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững.

    Đối với hoạt động dân sự, theo tôi việc quản lý hoạt động cho vay nặng lãi là thừa vì việc cho vay cũng tương tự như mua một món hàng khi hai bên thống nhất thỏa thuận về giá thì giao dịch diễn ra.

  • Nguyễn Văn Phổ

    10:52 (GMT+7) - Thứ Ba, 17/11/2009

    Khi bỏ lãi suất cơ bản, bỏ quy định cho vay khống chế 150% tức là ta tuân theo quy luật cung cầu trên thị trường vốn.

    Ngân hàng sẽ không huy động chạy đua lãi suất vì doanh nghiệp nào vay với lãi suất cao như thế mà kinh doanh có lãi. Vậy nếu cho vay cao thì các doang nghiệp không vay, họ sẽ huy động vốn qua các kênh khác như cổ phiếu, cổ phần...

    Do đó doanh nghiệp không vay NH, NH huy động vào làm chi? Và NH sẽ hạ lãi suất huy động vừa phải để cho vay với mức mà doanh nghiệp chấp nhận, mà nên kinh tế chấp nhận...

    Ở đây ta đang nói trên bình diện nền kinh tế, với các doanh nghiệp làm ăn đàng hoàng, không phải vay NH để kinh doanh chụp giật.

    Cốt lõi của vấn đề là chỉ số lạm phát, chính sách tài chính, chính sách tiền tệ. Nếu quốc hội và chính phủ cứ muốn tăng trưởng cao, cứ chi tiêu công, đầu tư tràn lan, phát hành tiền ra vượt quá tốc độ tăng trưởng trong khi không tạo ra hàng hoá thì gây ra lạm phát, khi đã lạm phát thì NH phải huy động lãi suất cao hơn ít nhất là cao hơn chỉ số lạm phát, mà lại không thể cho vay cao hơn được thì NH huy động làm gì? Vậy là nền kinh tế thiếu vốn, sản xuất đình trệ...

    NHNN có nhiều công cụ góp phần chống lạm phát, không chỉ là lãi suất cơ bản.

  • Nguyễn Văn Phổ

    08:02 (GMT+7) - Thứ Ba, 17/11/2009

    Luật NHNN lần này bỏ LSCB là đúng. Bạn Văn Cao đã phân tích sâu sát. Lâu nay LSCB đã can thiệp vào cơ chế cung cầu vốn trên thị trường tiền tệ, bóp méo thị trường.

    Hiện nay lạm phát đã xấp xỉ mức lãi suất cơ bản, các NHTM huy động vốn với chi phí khoảng trên dưới 10%, và chỉ cho vay 10,5%, vậy nền kinh tế lấy vốn đâu để phát triển. Cho nên hiện nay ai cũng thích vay nhưng không thích gửi, Các ngân hàng đang thiếu vốn để cho vay.

    Tôi nghĩ rằng Quốc hội nên tìm các phương thức khác để quản lý vấn đề cho vay nặng lãi và quản lý các vấn đề khác, không nên quy định lãi suất cho vay tối đa 150% trong bộ luật dân sự. Thực tế thì ta không quản lý được, ngoài xã hội cho vay nặng lãi gấp nhiều lần mức quy định này.

    Các NHTM là một tổ chức kinh tế, khi huy động vốn (mua vốn) thì phải cao hơn mức lạm phát thì người dân mới gởi vào NH. Khi cho vay (bán vốn) thì bị khống chế anh chỉ được bán thế này thôi, bán cao hơn anh phạm luật. Vậy thì tất cả các doanh nghiệp đều bình đẳng trong cạnh tranh nó nằm ở đâu?

    Vấn đề luật về NHNN qua hàng trăm năm nay các nước đã chắt lọc các tinh hoa để đưa vào. Ta nên hiểu sâu sát và đưa vào để vận dụng.

  • Ta Thuy

    04:58 (GMT+7) - Thứ Ba, 17/11/2009

    Nếu bỏ lãi suất cơ bản thì hoạt cho vay và huy động vốn sẽ diễn ra thế nào khi mặc nhiên cho các NHTM tự điều chỉnh lãi suất. Lúc đó sẽ diễn ra một cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng về lãi suất và doanh nghiệp có thể sẽ phải vay vốn với mức lãi suất cao. Theo tôi thấy, trong tình hình kích cầu như hiện này, nhà nước đang áp dụng các chính sách giảm thuế để đẩy mạnh tiêu dùng, vô hình chung việc hủy bỏ lãi suất có thể sẽ gây phản tác dụng.

  • Đặng Hồng Minh

    21:44 (GMT+7) - Thứ Hai, 16/11/2009

    Việc điều hành lãi suất cơ bản trên thị trường tài chính, tiền tệ của các quốc gia trên thế giới thể hiện vai trò điều tiết thị trường vô cùng quan trọng của Nhà nước.

    Nếu loại bỏ cơ chế lãi suất cơ bản chẳng những tước đi một công cụ quan trọng của Nhà nước trong quá trình vận hành thị trường mà còn tạo ra nguy cơ tiềm ẩn bất ổn cho thị trường tài chính vốn đã thiếu cơ chế giám sát của Việt Nam.

    Xuất phát từ thực tế tại VN và kinh nghiệm của các nước trên thế giới, việc duy trì lãi suất cơ bản là điều không thể phủ nhận.

    Thực tế điều hành lãi suất cơ bản hiện tại đã đặt ra câu hỏi: "Có nên tiếp tục thực hiện gói hỗ trợ lãi suất nữa hay không?" do việc hỗ trợ này đã tiếp tục gây ra những biến dạng của thị trường tài chính hiện tại, khó khăn trong điều hành lãi suất của NHNN.

    Theo tôi, kích cầu tại VN nên tập trung vào xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế nhằm tạo tiền đề để nâng cao khả năng cạnh tranh trong dài hạn, đồng thời tạo hiệu ứng lan toả đến mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh.

    Kính chúc kỳ họp thành công!

  • Phú Tân

    15:59 (GMT+7) - Thứ Hai, 16/11/2009

    Giữ lãi suất cơ bản cũng được, nhưng lạm phát cao quá, LSCB phải luôn ở mức thấp (để kềm chế lạm phát), trong khi cầu tín dụng (và cầu huy động của NHTM) ngày một tăng, chắc chắn sẽ có sự méo mó.

    Lúc đó có 2 tình huống xảy ra: ai cũng muốn lén lút vượt rào (cách này hay cách khác, rất nhiều cách), sẽ có một số NH gặp khó khăn, đầu tư trực tiếp và gián tiếp vào ngành NH giảm, cổ phiếu NH giảm nhiệt.

    NHNN không nên đề nghị bãi bỏ hẳn LSCB mà nên đề nghị điều chỉnh Luật dân sự theo 2 hướng: (1) qui định mức lãi suất cho vay nặng lãi theo thời kỳ, do NHNN công bố (2) Đối với NHTM được cho vay tối đa 150% *( lạm phát công bố + ...)

    Cơ sở đề nghị:

    1. Hiện nay LSCB được dùng để tác động lạm phát, nếu chỉ cần qui định trân lãi suất (cho vay và huy động) NHNN chỉ cần ban hành qui định hành chính và yêu cầu NHTM tuân theo.

    2. Định nghĩa cho vay nặng lãi không phải bất biến, trong bối cảnh lạm phát cao, dĩ nhiên không ai muốn cho vay thấp hơn lạm phát, lúc đó nếu LSCB quá thấp (để giảm lãi suất cho vay nhằm giảm lạm phát), thì sẽ mâu thuẫn và hoặc là không có ai cho vay, hoặc là sẽ có người cho vay và lén lút vượt rào (như đã nói, bằng cách này hay cách khác, rất nhiều cách)

    3. Cũng liên quan đến chi vay nặng lãi, con số 150% LSCB có vẻ được kế thừ từ và phát triển từ bộ luật dân sự trước đây hơn là kết quả của một nghiên cứu thống kê một cách khoa học vì thực tế hoạt động tín dụng đen, cho vay nặng lãi không bao giờ có mức lãi suất 150% LSCB, mà nó luôn lơn hơn gấp nhiều lần.

  • Van Cao

    15:56 (GMT+7) - Thứ Hai, 16/11/2009

    Bỏ lãi suất cơ bản là đúng, bởi vì lãi suất này không phản ánh đúng thông lệ quốc tế, và lâu nay chúng ta ngộ nhận rằng lãi suất cơ bản này chi phối hoạt động NHTM, thực ra nó chỉ có tác dụng chế tài đối với giao dịch dân sự nhằm khống chế nạn cho vay nặng lãi.

    Luật NHNN thiết kế cho mục tiêu dài hạn, chí ít không dưới 10 năm. Nếu đưa một khái niệm không khả thi, hoặc cứng nhắc vào thì sẽ khó vận hành sau này.

    Đa số các NHTW trên thế giới đều sử dụng lãi suất định hướng (tái chiết khấu, tái cấp vốn) để điều tiết thị trường, chúng ta cũng cần phải làm như vậy.

    Ngoài ra, từ tháng 5/2002 đến năm 2008, hệ thống NH vận hành theo cơ chế LS thoả thuận, không liên quan gì đến LSCB đề cập tại Bộ Luật DS. Chỉ khi bị hậu quả lạm phát quá cao năm 2007 chúng ta mới quay về giải pháp tình thế là 150% LSCB, chính giải pháp này đang tạo ra rất nhiều bất cập cho hoạt động ngân hàng hiện nay.

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Tài chính

Pvd

10:37 (GMT+7) - Thứ Tư, 8/2/2012

Cứ “chăm chăm” nhìn vào vốn huy động đầu vào là không ổn! Ngẫm lại thấy ý Thiên An Bình quả là rất chí lý. Dẫu tín...

Trong bài: Phía sau 2,8 triệu tỷ đồng vốn (2 ý kiến)

Thiên An Bình

18:52 (GMT+7) - Thứ Ba, 7/2/2012

Cứ chăm chăm vào vốn huy động để giải quyết vốn đầu ra cho nền kinh tế xem chừng không ổn lắm. Vốn cho nền...

Trong bài: Phía sau 2,8 triệu tỷ đồng vốn (2 ý kiến)

Hoàng

16:57 (GMT+7) - Thứ Ba, 7/2/2012

Cái này là con gà và quả trứng, cứ chạy quanh cho đủ bộ....

Trong bài: Lo thanh khoản yếu, ngân hàng xin xuất vàng (5 ý kiến)

Phạm Tiến Thăng

19:02 (GMT+7) - Thứ Bảy, 4/2/2012

Tôi cũng bị gần như trườg hợp này. Tôi có vay tín dụng đen 400tr, có viết giấy hợp đồng mua bán nhà đất làm tín...

Trong bài: Cực hình từ tín dụng “đen” (34 ý kiến)

Nhat Dinh

09:53 (GMT+7) - Thứ Bảy, 4/2/2012

Có lẽ người bình thường như tôi không thể hiểu nổi tại sao giá vàng trong nước đắt hơn nước ngoài mà lại xuất khẩu...

Trong bài: Lo thanh khoản yếu, ngân hàng xin xuất vàng (5 ý kiến)