Lạm phát ở xa, tỷ giá ở ngay trước mặt

ANH QUÂN

20/11/2009 10:25 (GMT+7)

picture Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, đến 30/10/2009, tổng phương tiện thanh toán đã tăng 23,99%, tín dụng tăng trưởng 33,29% so với cuối năm 2008.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Dư nợ tín dụng tăng cao gấp gần 8 lần tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế; bội chi ngân sách bằng 6,9% GDP; thâm hụt cán cân thanh toán tổng thể tới 1,9 tỷ USD trong năm 2009…

Những lo ngại bất ổn vĩ mô đang dấy lên trong giới phân tích và các chuyên gia kinh tế.

Nhìn nhận một số cân đối vĩ mô chính, TS. Trần Du Lịch, Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho rằng áp lực lạm phát có thể tăng cao, nhưng là vấn đề của năm sau. Trong khi đó, tỷ giá là nhiệm vụ trước mắt cần giải quyết.

Cung tiền, tín dụng vượt dự kiến: Không thể làm khác

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, đến 30/10/2009, tổng phương tiện thanh toán đã tăng 23,99%, tín dụng tăng trưởng 33,29% so với cuối năm 2008. Theo ông, vì sao lại có chuyện các chỉ tiêu này dễ dàng vượt kế hoạch như vậy?

Đầu năm nay, khi Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đưa dự kiến mức tăng tổng cung tiền, tăng tín dụng (khoảng 23-25% và 25-27% - PV), chúng ta đang trong điều kiện nới lỏng chính sách tiền tệ, nới lỏng chính sách tài khóa để phục vụ mục tiêu kích thích kinh tế, ngăn chặn suy giảm. Mức như vậy là phù hợp với tình hình.

Trong quá trình thực hiện, với cơ chế bù lãi suất, đặc biệt là lãi suất ngắn hạn 4%, và nới lỏng cho vay thỏa thuận cao hơn lãi suất trần, theo sự cho phép của Quốc hội (nghị quyết kỳ họp thứ 4, tháng 11/2008 - PV), thì tổng cầu tín dụng trên thị trường đã tăng khá mạnh, dẫn tới việc buộc phải điều chỉnh kế hoạch tăng trưởng tín dụng.

Tuy nhiên, trong bối cảnh quý 2 và quý 3/2009 như vừa qua, chúng ta cũng khó mà “siết” tín dụng để hạn chế tăng tín dụng trong khi tiếp tục thực hiện chính sách nới lỏng để phục hồi tăng trưởng kinh tế.

Theo Ngân hàng Nhà nước, tuy tăng tín dụng có cao hơn dự báo ban đầu, nhưng nếu chúng ta giám sát tốt vòng quay của đồng tiền, kênh dẫn của dòng tiền, thì vẫn có thể ngăn chặn những tác dụng phụ của nó.

Đặc biệt, chúng ta cũng nên lưu ý đến đặc thù năm nay, do suy giảm kinh tế, tốc độ quay của đồng tiền chậm lại, cho nên tổng cung tiền cần phải lớn hơn. Như vậy, khối lượng tiền hoạt động trong thị trường lớn cũng là đúng thôi.

Liệu có thể cho rằng cách điều chỉnh như vậy của Ngân hàng Nhà nước là hợp lý?

Tôi cho rằng cách điều chỉnh như vậy là cần thiết, không thể làm khác được. Tuy nhiên, nếu tổng dư nợ tín dụng năm nay lên đến gần 40% thì đây là một nguy cơ gây tái lạm phát cao.

Hơn nữa, từ nay đến cuối năm, chúng ta sẽ giải ngân rất nhiều trong nguồn bội chi ngân sách cho đầu tư, các công trình đều phải tăng nhanh giải ngân, thì áp lực tăng cung tiền trên thị trường sẽ rất lớn, có thể kéo đến quý 1/2010.

Bên cạnh đó, chính sách nới lỏng tiền tệ, tài khóa còn có độ trễ, do đó càng áp lực hơn lên nguy cơ bất ổn của năm 2010.

“Áp lực lạm phát là rất rõ”

Ông đánh giá gì về mức chênh lệch khá lớn giữa tốc độ tăng tín dụng, cung tiền so với tăng trưởng GDP dự kiến chỉ 5,2% trong năm nay?

Năm 2009 này, nếu tăng trưởng GDP khoảng 5,2%, trong khi tăng trưởng tín dụng lên đến gần 40%, có nghĩa là để nền kinh tế tăng trưởng thêm 1 đồng, chúng ta phải tăng tín dụng gần 8 đồng. Đây là một tỷ lệ quá cao so với nhiều nước trong khu vực.

Trong báo cáo của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trình trước Quốc hội vừa rồi, bình quân các năm trước, tỷ lệ này là 3,85. Trong khi với các nước trong khu vực, Indonesia là nước cao nhất có tỷ lệ này là 3,32, còn lại chỉ từ 1 đến 1,3.

Điều này cho thấy hiệu quả sử dụng vốn của ta quá thấp, chi phí vốn quá lớn, gây áp lực lên nền kinh tế. Có cảm nhận rằng không biết phải tăng bao nhiêu tiền để đảm bảo tăng trưởng kinh tế. Và áp lực lạm phát là rất rõ.

Vấn đề này mang tính cơ cấu. Sử dụng vốn kém hiệu quả làm cho sức cạnh tranh của nền kinh tế giảm, dẫn tới cơ cấu kinh tế kém sức cạnh tranh.

Áp lực tăng trưởng dẫn tới đầu tư tăng mạnh và bội chi ngân sách cũng được duy trì ở mức cao, liên tục trong nhiều năm gần đây. Ông có cho rằng điều này là đáng lo ngại?

Tôi cho rằng đây là vấn đề đáng quan tâm, và tôi cũng đang lo lắng.

Trong cùng lúc, chúng ta nới lỏng cả chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, và duy trì mức bội chi ngân sách cao. Như nói trên, chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng GDP vượt quá xa mức chúng ta bảo đảm tính hiệu quả của nền kinh tế.

Tất cả những yếu tố này đều tiềm ẩn tái lạm phát trong thời gian tới, gây bất ổn kinh tế vĩ mô.

“Khó khăn nhất hiện nay là vấn đề ổn định tỷ giá”

Thâm hụt cán cân thanh toán tổng thể dự kiến sẽ lên tới 1,9 tỷ USD trong năm nay, gây áp lực phải huy động nguồn lực từ bên ngoài nhiều hơn. Đây có phải nguyên nhân gây áp lực lên cặp tỷ giá VND/USD?

Theo báo cáo của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, nợ quốc gia của chúng ta đã tăng khá cao, đến gần mức báo động. Chúng ta vay nợ nước ngoài chỉ một phần. Nhưng dù là nợ Chính phủ hay nợ của doanh nghiệp thì đều gây áp lực đến thanh toán quốc tế của Ngân hàng Nhà nước, gây áp lực lên tỷ giá.

Tôi cho rằng, yếu tố tiềm ẩn và khó khăn nhất hiện nay là vấn đề ổn định tỷ giá. Vì 4 yếu tố tạo nguồn cung ngoại tệ gồm xuất khẩu, giải ngân FDI, doanh thu du lịch, kiều hối trong đó có FII, tất cả 4 nguồn này cùng lúc đều giảm trong năm 2009. Trong khi đó, nhập siêu giảm không đáng kể, năm nay vẫn vào khoảng 12 tỷ USD.

Do đó, cán cân thanh toán tổng thể mọi năm là dương thì năm nay có thể âm đến 1,9 tỷ USD, như Ngân hàng Nhà nước có báo cáo.

Cộng vào đó, gói hỗ trợ tín dụng tiền đồng 4%, tình trạng "ghìm" lại USD, các doanh nghiệp không sử dụng vay ngoại tệ mà vay tiền đồng để mua ngoại tệ… là áp lực tạo sức cầu ngoại tệ gia tăng. Cho nên, tôi cho rằng trong các vấn đề vĩ mô thì tỷ giá là vấn đề đáng quan tâm nhất hiện nay.

Nếu giữ tỷ giá như Chính phủ đã công bố, trong tình hình như thế này là rất khó khăn.

Thanh khoản hệ thống ngân hàng vẫn ổn định

Trước nguy cơ tái lạm phát, hệ thống ngân hàng đang khó khăn trong thu hút tiền gửi của xã hội. Đã nên tăng dự trữ bắt buộc, thưa ông?

Hiện nay, lãi suất huy động khoảng từ 8 đến 8,5% cho kỳ hạn 1 năm. Nếu năm nay, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả năm khoảng 6-7% thì lãi suất thực dương khoảng 2%. Như vậy có động lực huy động vốn.

Tuy nhiên, nguồn vốn của nền kinh tế dân cư đang hoạt động bên ngoài hệ thống ngân hàng thương mại. Hầu hết hộ gia đình, một số doanh nghiệp vừa và nhỏ, khi cần huy động vốn có thể tiếp cận tín dụng từ bên ngoài mà không qua hệ thống ngân hàng. Chứ không phải toàn bộ tiền đã đổ vào hệ thống ngân hàng.

Ngoài ra, có yếu tố tâm lý nữa. Thời gian gần đây, khi giá vàng và USD cao, lo nguy cơ lạm phát cao… trong những thời điểm nhất định, người dân đã mua vàng, dự trữ USD, tạo sự hụt hẫng đối với huy động của hệ thống ngân hàng thương mại.

Nhưng theo tôi, nếu duy trì tốt chỉ số CPI thì huy động của hệ thống ngân hàng sẽ tăng trong thời gian từ nay đến cuối năm. Bởi vì, đó là kênh đầu tư tốt nhất đối với người dân.

Tín dụng tăng cao, hệ thống các tổ chức tín dụng hiện nay có đứng trước rủi ro lớn hơn không, đặc biệt là tính thanh khoản của các ngân hàng thương mại?

Với nguồn tín dụng hỗ trợ lãi suất ngắn hạn 4% thì lượng tín dụng tăng khá cao. Đó cũng là yếu tố kích thích dư nợ tín dụng cao. Vậy thì, nó có gây bất ổn ngân hàng không?

Theo tôi, trước mắt nếu có, trong điều kiện tín dụng tăng nhanh, có thể gây nguy cơ nợ xấu. Nhưng như Ngân hàng Nhà nước vừa công bố, nợ xấu vẫn được khống chế dưới 3% thì không có nhân tố tạo rủi ro mất thanh khoản hệ thống ngân hàng.

Tôi tin rằng cho dù trước mắt có thể có khó khăn, nhưng yếu tố thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại vẫn là an toàn. Bởi vì trong điều kiện hiện nay, Ngân hàng Nhà nước còn có khả năng “mở cửa” công cụ chiết khấu, tái chiết khấu, tái cấp vốn.

Chỉ cần “nhích” cửa sổ này thì hoàn toản bảo đảm thanh khoản. Tôi tin rằng yếu tố thanh khoản vẫn ổn định.

Chính sách nên “qua sông dò đá”

Chính sách tiền tệ trong năm tới, theo ông có còn dư địa để tiếp tục theo đuổi nới lỏng?

Năm tới, chính sách nới lỏng tiền tệ và tài khóa có thể sẽ rất khó khăn. Tôi cho rằng hiện nay, chính sách tiền tệ của Chính phủ đã theo hướng nới lỏng thận trọng.

Khi mà nền kinh tế thế giới phục hồi, giá cả gia tăng, áp lực bên ngoài lớn hơn, thì những yếu tố bên ngoài ấy sẽ đẩy giá trong nước lên. Cộng với độ trễ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ hiện nay, áp lực lạm phát là cao. Mà khi áp lực lạm phát cao thì chính sách tài chính, tiền tệ phải thu hẹp lại chứ không thể nới lỏng được nữa.

Theo kinh nghiệm của các nhà điều hành chính sách tiền tệ trên thế giới, trong bối cảnh hiện nay, mọi chính sách đều nên thực hiện theo kiểu qua sông dò đá. Tức là chúng ta xem tín hiệu và điều chỉnh, chứ không thể khẳng định chính sách cố định từ nay đến hết năm 2010, kể cả chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa.

Quan trọng là làm sao phối hợp nhịp nhàng hai chính sách này, để không mâu thuẫn nhau. Tôi cho rằng Chính phủ cũng đã đặt ra vấn đề này.

Gần đây có ý kiến cho rằng trách nhiệm kiểm soát lạm phát hiện nay đang trao cho Ngân hàng Nhà nước là quá nặng. Ông nghĩ sao về quan điểm này?

Nguyên nhân lạm phát rất nhiều, có những yếu tố ngoài tiền tệ, ví dụ như bội chi ngân sách chẳng hạn. Giao trách nhiệm hết cho Ngân hàng Nhà nước là không phù hợp. Tôi cho rằng, Chính phủ nên đóng vai trò chỉ đạo chung, phối hợp tất cả các chính sách và các cơ quan liên quan.

Liên quan đến những rủi ro từ cơ cấu, theo ông, Chính phủ có nên quy định đến lúc nào thì chấm dứt bội chi, hoặc lúc nào hết nhập siêu không?

Tôi cho rằng vấn đề này cần có lộ trình. Như vừa rồi nhiều đại biểu đã đề nghị, bội chi năm 2010 nên giảm dần, từ 6,9% GDP xuống 6%. Nhưng cuối cùng cân đối mức 6,2%.

Bội chi để đầu tư đối với những nước như chúng ta là cần thiết. Nhưng hiện nay, bội chi chúng ta tính chưa hết. Những nguồn như phát hành trái phiếu Chính phủ chưa được tính vào bội chi. Cho nên, nếu cộng tất cả lại, bội chi còn cao hơn chứ không phải chỉ có 6,2% GDP.

Tôi cho rằng, bội chi có thể kiểm soát, nhưng quan trọng hơn đối với Chính phủ hiện nay là hiệu quả chi đầu tư. Nếu bội chi 6-7% GDP mà hiệu quả thì chúng ta không gây áp lực lạm phát.

Ngoài ra, bên cạnh kênh tiền tệ, chúng ta còn phải quan tâm đến kênh tài khóa, ngân sách hơn nữa. Vì rủi ro tiềm ẩn cũng có nguyên nhân từ dòng tiền đầu tư từ ngân sách. Và một cơ cấu kinh tế chỉ nhập siêu thì làm sao có ổn định được.

 Tôi cũng đã có lần  chất vấn Bộ trưởng Bộ Công Thương về lộ trình giảm nhập siêu, nhưng chưa có trả lời rõ về vấn đề này.

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Ngô Dũng PYV

    10:45 (GMT+7) - Thứ Bảy, 21/11/2009

    Sự được mất trong chính sách tỉ giá ngoại tệ : VNĐ/USD
    Cứ như thông lệ, tỉ giá VNĐ/USD về cuối năm lại tăng cao. Không được công nhận và không được khuyến khích nhưng giá USD thị trường tự do từ lâu đã trở thành một tỉ giá thứ hai, tồn tại song song với tỉ giá chính thức được ngân hàng nhà nước(NHNN) qui định.

    Vậy trong thị trường USD Việt Nam có 2 loại giá áp dụng cho giao dịch mua bán, nhưng chỉ có một mặt hàng, với cùng một chất lượng, kiểu dáng, qui cách... Chỉ khác nhau ở cách định giá giữa một kênh chính thức (NHNN) và kênh phi chính thức (thị trường tự do).

    Rất nhiều doanh nghiệp (DN) đã lên tiếng than phiền với “cơ chế 2 tỉ giá” này. Để mua được USD trên thị trường tư do DN phải trả chi phí theo hóa đơn tính theo tỉ giá của kênh chính thức , cộng thêm khoản phí chênh lệch giữa tỉ giá thị trường tự do và tỉ giá NHNN, phí này ngoài hóa đơn.

    Được mất của cơ chế 2 tỉ giá này là ở chổ:

    Nhà nước sẽ mất một khoản thu thuế do sự chênh lệch tiền mua bán ngoài hóa đơn này. DN mua USD bị thiệt do chỉ được xuất hóa đơn với tỉ giá thấp hơn thực tế phải trả. Cái thiệt lớn nhất là sự mất cân đối trong cung cấu ngọai tệ của nền kinh tế, vô tình cổ vũ cho thị trường USD tự do mặt sức tung hòanh.

    Trong cơ chế hai tỉ giá này ai dám chắc không phát sinh tình trạng ưu tiên, cửa quyền của một số quan chức tham nhũng trục lợi từ sự chênh lệch tỉ giá này. Sự khan hiếm USD vô tình được thổi phồng quá mức, mà trước hết là do sự chênh lệch quá lớn giữa tỉ giá USD giữa hai thị trường.

    Mô hình chung chúng ta đang cổ vũ cho cơ sốt USD giả tạo, trong một thế giới mà USD hầu như đang tràng ngập. Cứ nhìn ra bên ngòai sẽ rõ, USD rớt giá liên tục so với các đồng tiền mạnh khác thì điều đó lại diễn ra theo chiều ngược lại ở Việt Nam. Vâng, VNĐ không phải là đồng tiền mạnh; vâng, chúng ta đang thực hiện chính sách tỉ giá có lợi cho xuất khẩu..

    Nhưng tất cả những điều ấy chưa giải thích thỏa đáng sự nóng dần lên từng ngày của giá USD.

    Cái được trước mắt của việc tồn tại thực trạng hai tỉ giá này là ở chổ, nó cho chúng ta thấy “cái nên” và “cái không nên” làm trong chính sách khuyến khích hay không khuyến khích của nhà nước ta. Những ngành nghề, doanh nghiệp được ưu tiên khuyến khích phát triển sẽ mua được USD với giá thị trường chính thức, những ngành, doanh nghiệp không được khuyến khích hay cần hạn chế thì phải mua USD với giá cao.

    Điều này tạo áp lực cho DN phải tìm nguồn hàng thay thế trong nước, hay hạn chế nhập khẩu đến mức thấp nhất. Áp lực lên nhập siêu sẽ được giảm bớt trên lý thuyết và dưới cách nhìn này.

    Thực tế thì nhà nước vẫn thấy, vẫn quản lý tỉ giá USD thị trường tự do, nhưng USD nhìn chung vẫn là một món hàng, sự chênh lệch giá sẽ phát sinh thị trường chợ đen, điều không thể tránh khỏi trong cơ chế thị trường.

    DN đứng trên góc nhìn vi mô, còn ngừơi làm chính sách buộc phải đứng trên cách nhìn vĩ mô tổng thể. Họ có thể tính tới việc chấp nhận khiếm khuyết trong cơ chế tỉ giá này để đánh đổi, để đạt được cái lớn hơn là hạn chế nhập siêu và khuyến khích DN tăng cường nhập khẩu hàng trong nước phục vụ cho nhu cầu sản xuất.

    Nếu nói nhà nước ta không quan tâm đến sự tồ tại hay những khó khăn của DN đến từ sự nóng dần lên từng ngày của USD là không đúng. Sự quan tâm đó đã thể hiện trong chính sách hỗ trợ lãi suất trong thời gian vừa qua và sẽ tiếp tục trong thời gian tới. Chỉ có điều những ngành nghề, những DN nào cần phải quan tâm, khuyến khích phát triển, những ngành nghề nào không cần.

    Không thể cào bằng, nếu cào bằng sự quan tâm ấy thì thay cho chính sách hỗ trợ lãi suất trong thời gian qua có thể đã là chính sách hạ mức lãi suất cơ bản xuống dưới 7% để tất cả đều hưởng lợi.

    Trong khi nguồn lực hạn chế, chúng ta buộc phải chọn bước đi thích hợp. USD sẽ dần hạ nhiệt khi nền kinh tế lại lại sự thăng bằng sau ảnh hưởng của suy thóai kinh tế thế giới.

  • Trọng Tài

    19:27 (GMT+7) - Thứ Sáu, 20/11/2009

    Trích :

    "Hiện nay, lãi suất huy động khoảng từ 8 đến 8,5% cho kỳ hạn 1 năm. Nếu năm nay, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả năm khoảng 6-7% thì lãi suất thực dương khoảng 2%. Như vậy có động lực huy động vốn".

    Hầu hết người dân bán vàng, bán USD gởi tiền Đồng vào ngân hàng để lấy lãi đều tính giá trị số tiền của mình so với vàng và USD tại thời điểm rút vốn, có ai tính theo cái số ảo CPI gì đó đâu?

    Ai bán vàng đầu năm gởi ngân hàng, nay rút ra mua vàng lại thì lỗ đứt -30%.

  • Bùi Đình Quí

    19:12 (GMT+7) - Thứ Sáu, 20/11/2009

    Tôi chân thành cảm ơn các phân tích của tiến sĩ Trần Du Lịch. Các phân tích của tiến sĩ hầu như đã phản ánh đầy đủ, xác thực tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong thời điểm hiện tại.

    Quan điểm cá nhân tôi cho rằng trong hoàn cảnh kinh tế hiện nay, bài toán vừa theo đuổi mục tiêu tăng trưởng vừa phải đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô (kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá, ..) là vô cùng khó khăn. Do vậy, nên chăng chúng ta cần phải lựa chọn mục tiêu ưu tiên để có những chính sách hợp lý?

    Có một vấn đề tôi muốn được chia sẻ thêm: một trong những nguyên nhân gây áp lực lên tỷ giá là gói hỗ trợ tín dụng tiền đồng 4%, tình trạng "ghìm" lại USD, các doanh nghiệp không sử dụng vay ngoại tệ mà vay tiền đồng để mua ngoại tệ… tạo sức cầu ngoại tệ gia tăng.

    Vậy tại sao chúng ta không hổ trợ lãi suất cho các khoản vay bằng đô la Mỹ, sau đó tính toán tổng số tiền lãi rồi qui theo tỷ giá do NHNN qui định ra Việt Nam đồng để trả cho doanh nghiệp? Như vậy sẽ tránh được tình trạng doanh nghiệp chỉ vay tiền đồng mà không vay ngoại tệ.

    Tôi hy vọng sẽ tiếp tục được đọc các bài viết của tiến sĩ đăng trên VnEconomy phân tích mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và vấn đề tỷ giá vì đây là vấn đề đang rất được quan tâm hiện nay.

  • Nguyễn Quốc Đạt

    10:59 (GMT+7) - Thứ Sáu, 20/11/2009

    Tiến sĩ có đề cập đến hệ số tín dụng/tăng trưởng ở VN là 8, ở các nước khác là 1 đến 1.3.

    Tôi đồng ý là hiệu quả sử dụng vốn cho tăng trưởng ở VN thấp nhưng nếu chỉ nhìn vào đây thì chưa thể kết luận là VN sử dụng vốn quá lãng phí được.

    Lý do là ở VN, khi thị trường chứng khoán chưa phát triển thì tín dụng ngân hàng vẫn là nguồn vốn chủ yếu cho các doanh nghiệp và nền kinh tế.

    Trong khi đó, ở các nước Thái Lan hay Singapore, thị trường chứng khoán là kênh cung cấp vốn rất lớn cho nền kinh tế bên cạnh nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Nếu so sánh ở các nước khác như Mỹ hay Anh thì hệ số nói trên còn thấp hơn nữa.

    Do vậy, cần có thêm những chỉ số khác để phân tích việc sử dụng hiệu quả vốn tín dụng ở VN.

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Tài chính

Thiên An Bình

14:19 (GMT+7) - Thứ Sáu, 3/2/2012

Nếu bán vàng hỗ trợ thanh khoản chỉ như muối bỏ biển và thực chất là giảm dự trữ bắt buộc chung cả hệ thống....

Trong bài: Lo thanh khoản yếu, ngân hàng xin xuất vàng (3 ý kiến)

Hải Triều

10:15 (GMT+7) - Thứ Sáu, 3/2/2012

Đồng ý với bạn Braveman! Theo tôi, đây là hậu quả của việc điều hành nền kinh tế theo mệnh lệnh áp đặt, bất chấp...

Trong bài: Lo thanh khoản yếu, ngân hàng xin xuất vàng (3 ý kiến)

Braveman

09:09 (GMT+7) - Thứ Sáu, 3/2/2012

Bán vàng tài khoản thì có nghĩa các ngân hàng phải mua vàng trong nước để cân bằng --> giá vàng trong nước sẽ tăng...

Trong bài: Lo thanh khoản yếu, ngân hàng xin xuất vàng (3 ý kiến)

114111

07:18 (GMT+7) - Thứ Sáu, 3/2/2012

Nếu xử thật nghiêm việc niêm yết, giao dịch hàng hoá thương mại bằng đồng đô la và giao dịch đô la chợ đen. Và nếu...

Trong bài: VND sẽ không phá giá quá mạnh trong năm nay? (1 ý kiến)

Đặng Xuân Tấn

16:19 (GMT+7) - Thứ Năm, 2/2/2012

Nên đọc bài phản biện của Tiến sĩ Lê Hông Giang (TS Lê Hồng Giang: Dòng vốn chảy vào vượt nhiều lần giá trị 500...

Trong bài: “Sẽ tổ chức hệ thống đại lý huy động vàng” (8 ý kiến)