Quản trị rủi ro thanh khoản ngân hàng

NGUYỄN HOÀI

29/12/2009 09:46 (GMT+7)

picture Các ngân hàng thương mại lớn như BIDV, Vietinbank, VietcomBank, ACB hay mới xuất hiện trên thị trường như LienVietBank nắm giữ khá nhiều lượng trái phiếu Chính phủ nên tính thanh khoản rất tốt.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Theo các chuyên gia, trong 36 loại rủi ro hoạt động tài chính ngân hàng thì rủi ro thanh khoản được coi là nguy hiểm nhất.

Kinh doanh lĩnh vực này, chẳng ai quên bài học “vỡ lòng” đó nhưng lâu nay, không ít trường hợp vì lòng tham, vì “ăn xổi” đã tự đẩy mình vào thế “giật gấu vá vai”.

Thanh khoản luôn là nỗi ám ảnh

Những bài học nhãn tiền ở nước Mỹ, châu Âu mới đây và liên hệ với thực tiễn Việt Nam trong những ngày qua thì vấn đề quản trị rủi ro, đặc biệt là rủi ro thanh khoản và rủi ro đạo đức trở nên rất đáng lưu tâm.

Tiến sĩ Nguyễn Đức Hưởng, Tổng giám đốc LienVietBank cho rằng, rủi ro thanh khoản xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân khác nhau như: tập trung tín dụng trung dài hạn vào một số khách hàng lớn; tập trung nguồn vốn huy động không kỳ hạn vào một số khách hàng lớn và khi họ rút bất ngờ, có thể dẫn đến mất thanh khoản; phát triển nóng cả nguồn vốn lẫn tín dụng cũng liên quan đến rủi ro thanh khoản.

Trong hoạt động kinh tế, đặc biệt là hoạt động ngân hàng, ai cũng muốn tránh xa thứ rủi ro này, bởi chúng tiêu tốn lợi nhuận, làm kiệt quệ năng lực tài chính và thậm chí là đứt khả năng nghĩa vụ chi trả hay cam kết tài chính với đối tác.

Đồng tình với ý kiến này, tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia chia sẻ: căng thẳng thanh khoản cuối năm trong hệ thống ngân hàng Việt Nam phải loại bỏ một lý do quan trọng nhất là khủng hoảng tài chính. Bởi trong đó không có khủng hoảng nợ, tỷ lệ nợ xấu (theo chuẩn kế toán Việt Nam) tương đối thấp, danh mục tài sản nhìn chung là lành mạnh, không có sản phẩm dịch vụ độc hại như thị trường tài chính Mỹ hay ở một số quốc gia phát triển.

Và như vậy, cội nguồn câu chuyện trên là do yếu tố quản lý ở các ngân hàng thương mại và Ngân hàng Nhà nước. Thực tế, hầu hết các ngân hàng thương mại nhỏ đều không có hoặc có nhưng rất ít trái phiếu Chính phủ trong danh mục tài sản của mình.

“Lý do đơn giản là họ rất tham lam vì cho rằng duy trì trái phiếu Chính phủ thì lợi nhuận thấp, trong khi sử dụng đồng vốn đó cho vay thì lợi nhuận cao hơn”, ông Nghĩa nói.

Hơn nữa, không ít cổ đông phất lên từ buôn bán bất động sản, xe máy, ôtô, sắt thép… nhờ tích lũy được nguồn vốn nên khi nhảy sang kinh doanh ngân hàng cũng với quan niệm “kinh doanh ngân hàng cũng thế cả” nên đã đòi hỏi lợi nhuận quá mức đối với ban điều hành, ngược lại ban điều hành cũng muốn lấy thành tích với cổ đông, nên cố bằng mọi cách đẩy lợi nhuận lên cao.

Từ đó, họ chọn những danh mục đầu tư rủi ro cao nhưng đem lại tỷ suất sinh lời cao và ngược lại, những tài sản lợi nhuận bền vững nhưng rủi ro thấp thì bị bỏ qua.

Dường như họ quan tâm quá nhiều đến lợi ích ngắn hạn mà không nghĩ rằng, trái phiếu Chính phủ, ngoài việc đem lại lợi nhuận, thì chúng còn trở thành vật cầm cố nơi Ngân hàng Nhà nước để bù đắp thanh khoản khi cần thiết.  

Trăm cái họa đều từ lòng tham

Một thực tế, các ngân hàng thương mại lớn như BIDV, Vietinbank, VietcomBank, ACB hay mới xuất hiện trên thị trường như LienVietBank nắm giữ khá nhiều lượng trái phiếu Chính phủ nên tính thanh khoản rất tốt.

Vì thế, trong những thời điểm khó khăn của 2008 hay nửa tháng gần đây, không những họ luôn ổn định thanh khoản mà còn trở thành “thượng đế” rất đắt khách trên thị trường liên ngân hàng, trong khi một số ngân hàng khác phải đôn đáo xoay xở nguồn và chấp nhận trở thành kẻ đi “ăn đong”.

“Những ngân hàng nhỏ gặp khó khăn thanh khoản thì lỗi đầu tiên là do yếu kém và ăn xổi ở thì trong quản lý danh mục tài sản, mặc dù ông nào cũng có hẳn một bộ máy quản lý tài sản nợ, tài sản có rất oách!”, Giám đốc một ngân hàng thường xuyên cho vay trên thị trường liên ngân hàng nói.

Tất nhiên, sẽ chẳng có một chuẩn mực hay tỷ lệ mang tính “khuôn vàng thước ngọc” trong mối tương quan giữa tài sản “nhiều rủi ro” và “ít rủi ro” nhưng theo ông Nghĩa, chỉ nên duy trì “tài sản có rủi ro” dưới 85% và tỷ lệ tài sản còn lại là tiền mặt, trái phiếu Chính phủ, “bất động sản ở vị trí đắc địa” là… ổn! Tuy nhiên, ở Việt Nam rất ít ngân hàng thương mại duy trì được tỷ lệ này.

Một vấn đề khác, cùng với trách nhiệm của ngân hàng thương mại thì quản lý rủi ro thanh khoản còn có một phần trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước với tư cách là người mua bán cuối cùng trên thị trường ngân hàng, nhằm ổn định tính thanh khoản cho cả hệ thống, điều mà lâu nay, cơ quan này vẫn làm khá tròn bổn phận.

Tuy nhiên, vấn đề hỗ trợ thanh khoản của Ngân hàng Nhà nước cũng tồn tại một câu chuyện “chỉ có ở Việt Nam” đó là: chiết khấu trên bộ hồ sơ tín dụng! Bởi vì những ngân hàng nhỏ khi gặp khó khăn vốn nhưng không có trái phiếu Chính phủ nên Ngân hàng Nhà nước không thể thực hiện công cụ tái chiết khấu; cho vay trên nghiệp vụ thị trường mở thì các ngân hàng này cũng không có tài sản đủ tiêu chuẩn để cầm cố.

Vì thế, chỉ còn một cách là tái cấp vốn trên bộ hồ sơ tín dụng. Cụ thể, ngân hàng thương mại sẽ mang bộ hồ sơ tín dụng đã cam kết giải ngân cho khách hàng lên Ngân hàng Nhà nước cầm cố hồ sơ, lấy tiền về cho khách hàng vay.

Đây là loại “nghiệp vụ” mà trên thế giới chưa có bao giờ. Bởi ở các nước đó, nếu rơi vào tình cảnh này, ngân hàng trung ương các nước có thể cho phá sản ngay lập tức.

Còn ở Việt Nam, vì phải giữ an toàn cho cả hệ thống nên lắm khi, Ngân hàng Nhà nước trở thành cơ quan “bảo hiểm tiền gửi” toàn diện cho ngân hàng thương mại một cách bất đắc dĩ.

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Nghiatq

    15:11 (GMT+7) - Thứ Ba, 29/12/2009

    Bài viết phản ánh được thực trạng quản lý Tài sản - Nợ của các NHTM. Hiện nay, các NHTM đều có hội đồng quản lý tài sản Nợ - Có (Hội đồng ALCO) quản lý cơ cấu tài sản và nguồn vốn của ngân hàng. Vấn đề tỷ lệ 85% tất và thấp hơn tất nhiên là có thực hiện. Tuy nhiên, tùy vào từng tình hình, hoàn cảnh, và thời gian kéo dài bao lâu mà tỷ lệ này có thể méo mó, tất nhiên, đó chính là vấn đề xuất hiện rủi ro!

    Vấn đề quan trọng được đề cập đó là rủi ro chênh lệch kỳ đáo hạn, theo quy định mới, tỷ lệ vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung dài hạn là không quá 30% và tất nhiên, các NHTM phần lớn đều sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn, một khi tình hình thanh khoản toàn hệ thống "nóng" lên một chút, các NHTM này tạm thời huy động vốn trên thị trường liên ngân hàng và OMO để giải quyết, càng góp phần đẩy tình hình thêm trầm trọng.

  • Nguyenkhoi

    11:30 (GMT+7) - Thứ Ba, 29/12/2009

    Tôi rất đồng tình với quan điểm bài viết đã nêu. Song điều quan trọng trong phòng chống và hạn chế rủi ro thanh khỏan đó là bản thân các NHTM phải kiểm sóat được dòng tiền vào và ra, nếu chúng ta chỉ qui nạp chung có 4 lọai tiền gửi: Không kỳ hạn; dưới 12 tháng; từ 12 đến 24 và trên 24 tháng thì sẽ còn phát sinh vô vàn rủi ro về thanh khỏan.

    Vì thực tế tại nhiều NHTM nguồn tiền gửi ổn định từ 12 tháng trở lên (tính đến thời điểm phân tích) chiếm tỷ trọng không cao, song các NHTM lại sử dụng chúng vào đầu tư vào trung dài hạn (kèm theo ân hạn trên 12 tháng nữa) chính là nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khỏan, nguyên nhân là chúng ta đã bỏ qua việc phân tích dòng tiền thực và đánh tráo khái niệm.

    Mặt khác chúng ta chưa kiểm sóat tốt phần đối chiếu, bù trừ công nợ của doanh nghiệp dẫn đến tình trạng cuối năm các DN phải thanh quyết tóan làm cho tổng cầu tiền thực tăng lên rất cao là nguyên nhân tạo ra mất thanh khỏan. Như vậy nếu cân đối bù trừ tốt sẽ khắc rất nhiều tình trạng trên.

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Tài chính

Nguyễn Đức Thắng

22:14 (GMT+7) - Thứ Sáu, 25/5/2012

Nguyên nhân gốc rễ của việc rối loạn lãi suất những năm qua chủ yếu là do chính hệ thống ngân hàng gây ra. Điều...

Trong bài: Thống đốc Nguyễn Văn Bình: Xem xét lại lãi suất cơ bản (6 ý kiến)

Nguyễn Đức Thắng

21:15 (GMT+7) - Thứ Sáu, 25/5/2012

Việc thỏa thuận, mặc cả mua bán, thương thảo về giá giữa người mua, người bán đã là chuyện có từ ngàn năm ở chợ....

Trong bài: Đồng loạt giảm các lãi suất điều hành (1 ý kiến)

traihp

16:49 (GMT+7) - Thứ Sáu, 25/5/2012

Tôi không đồng ý với ý kiến của bạn Thanh Danh. Chúng ta ko thể cá mè 1 lứa được. Dù sao Vinalines cũng là...

Trong bài: Maritime Bank “né” dư chấn từ Vinalines (2 ý kiến)

Nguyễn Đức Thắng

16:39 (GMT+7) - Thứ Sáu, 25/5/2012

Mặc dù đã có một số cơ chế, chính sách hỗ trợ các DNVVN, mặc dù hiện tại các ngân hàng lớn dư thừa vốn,...

Trong bài: Ngân hàng thừa thanh khoản, doanh nghiệp suy kiệt vốn (15 ý kiến)

Mai Thiên An

16:19 (GMT+7) - Thứ Sáu, 25/5/2012

Né 1 điều luật hậu quả khôn lường đến lúc này thì ai cũng biết cả rồi. Từ bài học LSCB này thiết nghĩ cần nghiêm...

Trong bài: Thống đốc Nguyễn Văn Bình: Xem xét lại lãi suất cơ bản (6 ý kiến)