Lãi suất vay vốn: Ghi từ một khế ước nhận nợ

MINH ĐỨC

25/01/2010 02:14 (GMT+7)

picture "Tôi cũng hiểu rõ cái khó của ngân hàng, nhưng việc đẩy lãi suất đi quá xa làm tăng áp lực trả nợ lên người vay rất nhiều”.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Lãi suất vay vốn là 19,4%/năm. Sau khi khách hàng đàm phán, khế ước mới chỉ còn 12%/năm, nhưng… cộng thêm phí 6%/năm.

Sau những thông tin phản ánh về việc thu phí trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại, VnEconomy tiếp tục nhận được nhiều ý kiến phản ánh của các cá nhân, đại diện doanh nghiệp.

Một số trường hợp sẵn sàng cung cấp các hồ sơ, khế ước liên quan chỉ để khẳng định một thực tế: có lãi suất vay vốn hơn 19%/năm, việc thu phí vẫn tồn tại.

Tuy nhiên, với một số doanh nghiệp, khi trao đổi trực tiếp với phóng viên, tâm lý chung là sự e ngại khi cung cấp các tài liệu liên quan đến hoạt động tài chính của mình, cũng như e ngại có thể ảnh hưởng đến quan hệ tín dụng với ngân hàng.

Lãi suất vay vốn: 19,4%/năm!

Liên tục những tuần gần đây, báo cáo cập nhật của Ngân hàng Nhà nước cho biết, lãi suất cho vay thỏa thuận đối với các nhu cầu vốn phục vụ đời sống, cho vay thông qua thẻ tín dụng trong hệ thống ngân hàng thương mại phổ biến ở mức từ 15% - 17%/năm.

Tuy nhiên, khảo sát ngẫu nhiên một số trường hợp vay vốn tiêu dùng cho thấy, từ cuối năm 2009 có những trường hợp đã phải chịu lãi suất lên tới từ 18% - 19,4%/năm.

Xin đơn cử một trường hợp vay vốn với mục đích bổ sung vốn xây dựng, sửa chữa nhà tại một ngân hàng thương mại cổ phần lớn tại Tp.HCM.

Khế ước nhận nợ của trường hợp này ngày 29/12/2009 cho lần giải ngân nối tiếp theo hợp đồng tín dụng ký ngày 21/11/2009 ghi rõ: trong hạn, lãi suất vay (năm) 19,4%/năm, lãi suất vay (ngày) 20%/năm/360 ngày; quá hạn là 150% lãi suất trong hạn.

Lãi suất vay được cố định trong thời hạn 3 tháng, kể từ ngày bên vay nhận tiền vay. Lãi suất vay được điều chỉnh 3 tháng/lần theo công thức: Lãi suất vay (%/năm) = LS13 + 10,48%/năm + X.

LS13 là lãi suất tiền gửi tiết kiệm loại lĩnh lãi cuối kỳ, cùng loại tiền cho vay, có kỳ hạn 13 tháng do ngân hàng công bố hoặc niêm yết tại thời điểm xác định lãi suất. Nếu kỳ điều chỉnh lãi suất vay rơi vào thời điểm này, theo công thức trên, người vay có thể phải chịu tới gần 21%/năm, bởi ngân hàng này đang áp lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 13 tháng lĩnh lãi cuối kỳ là 10,37%/năm.

“X” trong công thức trên được xác định căn cứ vào mức tăng hoặc giảm dự trữ bắt buộc của Ngân hàng Nhà nước theo nguyên tắc: tương ứng với mức tăng hoặc giảm mức dự trữ bắt buộc 1%, “X” sẽ tăng hoặc giảm là 0,144%/năm… Trường hợp “X” là một số dương và bên vay không đồng ý với mức lãi suất tăng sau khi điều chỉnh, bên vay có quyền trả trước hạn một phần hoặc toàn bộ nợ gốc mà không bị phạt trả nợ trước hạn.

Ngoài ra, khế ước nhận nợ còn có các điều khoản liên quan đến quy định phạt đối với trả nợ trước hạn, các cam kết mà bên vay phải tuân thủ…

Giảm xuống 12%/năm, nhưng…

Ngày 19/1/2010, bên vay cho biết đã đến ngân hàng để ký lại khế ước nhận nợ. Sau khi đàm phán và nói chuyện “thẳng thắn” với ngân hàng, khế ước mới được lập lại với những thay đổi đáng chú ý.

Vẫn là khế ước ghi ngày 29/12/2009 theo hợp đồng tín dụng ngày 21/11/2009 như trên và cùng một khoản vốn giải ngân tiếp, trong hạn, lãi suất vay (năm) chỉ còn 12%/năm, lãi suất vay (ngày) cũng chỉ còn 12%/năm/360 ngày.

Kỳ điều chỉnh lãi suất vẫn là sau 3 tháng, nhưng công thức tính điều chỉnh cũng đã thay đổi hẳn: Lãi suất vay (năm) = LS13 + 5,28%/năm + X.

Như vậy, lãi suất vay vốn từ 19,4%/năm trước đó ghi trong khế ước mới được giảm xuống còn 12%/năm. Chi tiết này cho thấy lãi suất trong khế ước tuân thủ đúng quy định của pháp luật, theo Điều 476 Bộ luật Dân sự (lãi suất cho vay không được quá 150% lãi suất cơ bản); và giả sử có tranh chấp xẩy ra, ngân hàng không còn ở thế bất lợi như ghi mức 19,4%/năm trước đó, nếu xét theo Điều 476.

Thế nhưng việc giảm lãi suất xuống 12%/năm đó chưa hẳn là người vay đã thoát chi phí cao. Đó không phải là một khế ước nhận nợ độc lập và trọn vẹn cho người vay. Bởi đi cùng với điều chỉnh trên, ngân hàng đưa ra giấy đề nghị và cam kết chịu phí quản lý tài sản, mức phí là 6%/năm, tổng lãi suất gián tiếp cho khoản vốn đó vẫn lên tới 18%/năm.

Trong trường hợp này, khi cung cấp hồ sơ cho phóng viên, người vay nhấn mạnh mục đích chính của mình là để “phản ánh thực trạng cho vay hiện nay, cũng như việc thu phí là có tồn tại. Tôi cũng hiểu rõ cái khó của ngân hàng, nhưng việc đẩy lãi suất đi quá xa làm tăng áp lực trả nợ lên người vay rất nhiều”.

Liên quan đến việc Ngân hàng Nhà nước kiểm tra các ngân hàng thu phí cho vay, trả lời VnEconomy cuối tuần qua, ông Hồ Hữu Hạnh, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Tp.HCM, cho biết đoàn công tác đã vào cuộc và hiện chưa có báo cáo kết quả cụ thể. Với những trường hợp vi phạm, ông Hạnh cho biết sẽ căn cứ theo quy định xử phát hành chính hiện hành để xử lý.

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Nguyễn Văn Ngọc

    23:48 (GMT+7) - Thứ Ba, 23/2/2010

    Vấn đề ngân hàng lách luật thu thêm phí, theo cá nhân tôi có lẽ cũng phải lách luật thôi nêu chúng ta đặt mình vào trường hợp người cho vay.

    Để dễ dàng cho mọi người nhận xét, tôi chỉ nêu một thí dụ; nếu ngân hàng cho vay với lãi suất 2%/ tháng, 100 triệu thu được lãi 2 triệu, nhưng gặp người vay không trả đúng hạn hoặc chây ỳ không trả, ngân hàng thu hồi nợ bởi con đường luật pháp, yêu cầu cơ quan thi hành án thu hồi, buộc người phải thi hành án( người vay tiền trả), phí thi hành án là 3%, mà lãi suất quá hạn trong trường hợp này là 3%, ngay khi cân đối đã thấy ngân hàng lỗ vì ngân hàng phải trả lãi cho người gửi tiền cho ngân hàng; chưa tính đến chi phí duy trì bộ máy, chi phí khởi kiện...

    Đây là một vấn đề mà các nhà quản lý chưa tính toán, ngân hàng nhà nước áp đặt lãi suất trần nhưng không tính toán đến phí thi hành án.

  • Huong

    03:07 (GMT+7) - Thứ Năm, 28/1/2010

    Theo tôi mục đích của bài báo nhằm phản ánh thực trạng cho vay của ngân hàng hiện nay.

    Theo như ý kiến của một số người, nếu NH áp lãi suất cao thì người vay có quyền từ chối hoặc trì hoãn việc giải ngân. Việc đó rất dễ dàng đối với một người chưa đặt quan hệ tín dụng với ngân hàng vì lúc này người vay vẫn còn được phép lựa chọn.

    Tuy nhiên đối với người đã có quan hệ tín dụng với ngân hàng rồi thì mọi chuyện không còn đơn giản nữa. Người vay hoàn toàn có quyền không tiếp tục vay vốn tại ngân hàng lãi suất cao nữa và chuyển sang ngân hàng cho vay lãi suất tốt hơn. Nhưng để làm được điều đó trong trường hợp vay thế chấp tài sản, người vay phải tất toán được số nợ đã giải ngân cộng với phí phạt để có thể lấy lại giấy tờ sở hữu nhà và chi phí để làm lại hồ sơ vay vốn từ đầu ở NH khác.

    Đối với người vay chỉ có duy nhất tài sản thế chấp thì việc này dường như là không thể. Chưa kể chi phí phát sinh từ việc trì hoãn. Tôi nghĩ người viết đang nêu lên cái khó của những người vay trong tình cảnh như vậy.

    Hiện nay lãi suất vay tiêu dùng áp dụng tại hầu hết NH dao động từ 14,5% cho đến 17%/năm. Việc 1 số NH cho vay trên 19% -20% đã khiến cho người vay trong trường hợp nêu trên cảm thấy không công bằng. Khi LS của NH không nằm ở mặt bằng chung của thị trường.

    Người vay sẽ từ đó nghĩ rằng NH muốn hạn chế tối đa việc cho vay và đồng nghĩa người đang vay sẽ phải chịu LS cao hơn để bù đắp cho phần hao hụt này. Người vay vì thế cảm thấy áp lực hơn, gánh nặng hơn khi mà tiền lãi phải chi trả cho NH nhiều hơn cả nợ gốc.

    Việc vay vốn phục vụ cho tiêu dùng vốn không sinh ra lời nhiều như hoạt động SXKD. Rủi ro cao là một nguyên nhân làm cho LS vay tiêu dùng cao hơn nhưng nên cao ở một mức độ hợp lý và phù hợp với phần đông thu nhập của người tiêu dùng hiện nay.

  • Trungtran

    17:10 (GMT+7) - Thứ Tư, 27/1/2010

    Đọc toàn bộ các ý kiến trên tôi thấy mọi người vẫn chưa bàn đến bản chất của việc quản lý lãi suất cho vay của NHNN.

    Xin thưa các bạn, đúng là lãi suất phản ánh một việc rất đơn giản ở đây là cung cầu của một mặt hàng đó là vốn.

    Nếu các bạn vay khi vốn dồi dào, tức hàng rẻ thì lãi suất thấp, các bạn vay khi vốn khan hiếm huy động khó thì hàng đắt, lãi suất cao.

    Vấn đề ở đây là giá hàng ngoài tính chất thị trường còn được điều chỉnh bởi một nhà sản suất chi phối (không phải là độc quyền nhé các bạn) là NHNN.

    Nhưng NHNN + điều 470 BLDS về 150% lãi suất trần đã sinh ra một mệnh lệnh hành chính kiểm soát giá hàng trái với quy luật thị trường như hiện nay.

    Theo tôi điều này cũng như mức USD trong và ngoài ngân hàng khác nhau mà thôi. Giá bên ngoài mới là giá đúng chính thức của nó.

    Lãi suất ở đây cũng vậy ,lãi suất công bố hiện không đúng theo quy luật thị trường mà đã bị mệnh lệnh hành chính bẻ cong và từ đó sinh ra các cách lách luật, các tiêu cực do sự lệch lạc này.

    Theo tôi hãy bỏ cái lãi suất trần đi và vận hành đúng theo bản chất của thị trường.

    Theo mức lãi suất hiện nay thì lãi suất cho vay phải tầm 20% mới là hợp lý với đúng giá của thị trường. Vì vậy nếu ai cần vay vốn lúc này mà làm ăn kém hơn 20%/năm thì đừng đi vay làm gì cho phí.

  • Tuấn Kiệt

    23:07 (GMT+7) - Thứ Ba, 26/1/2010

    Có 2 trường hợp:

    Thứ nhất nếu khách hàng vay vốn với mục đích phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh thì việc áp các loại phí đi kèm là sai.

    Còn nếu khách hàng vay vốn với mục đích tiêu dùng cá nhân, thì lãi suất vay là cần phải là lãi suất thỏa thuận để phù hợp với cung cầu trong điều kiện khó khăn hiện nay.

    Việc các ngân hàng thu phí liên quan tới hoạt động tín dụng, một phần do quy định chưa rõ ràng, như thế nào là tiêu dùng, là kinh doanh, thu nhập trả nợ có nguồn từ đâu,( từ lương, hay từ kinh doanh,,,) việc quy định không rõ ràng cụ thể (Thông tư 01, các văn bản....) dẫn đến các ngân hàng áp các loại phí nhằm gia tăng lãi suất chắc chắn xảy ra.

    Do đó cần phải có sự rõ ràng trong các VB NHNN ban hành, thì chắc chắn tình trạng này sẽ không xảy ra.

  • Ben 15T

    17:04 (GMT+7) - Thứ Ba, 26/1/2010

    Giá vốn phản ánh cung cấu thị trường. Nhà nước có thể dùng các công cụ khác nhau để uốn nắn thị trường, nhưng dùng công cụ đưa ra lãi suất trần có thể chưa hợp lý. Nó quá cứng nhắc, theo quy luật đến một lúc nào đó sẽ có cái mới để thay đổi nó thôi.

    Tôi còn nhớ câu chuyển về lạm phát tỷ giá ở nước Thái Lan. Chính phủ Thái Lan quy định tỷ giá ấn định với đồng USD, cố định tỷ giá để tránh làm mất giá đồng tiền Thái. Nhưng sau đó, do quy luật thị trường mạnh mẽ đến nỗi đưa Thái Lan lâm vào khủng hoảng tỷ giá, Tỷ giá quy đổi lúc đó bỗng nhiên tăng đến chóng mặt sau một thời gian dài chính phủ kiềm hãm.

    Rút từ bài học này, tôi thấy hiện trạng lãi suất của VN lúc naỳ cũng vậy.

    Chi phí vay vốn (bao gồm lãi + phí các loại) quá cao,không có lời. DN có quyền không lấy tiền, như vậy NH loại bỏ được các công ty có suất sinh lời kém. Chọn lọc được DN có suất sinh lời cao. Thúc đẩy tiến bộ xã hội.

    Phí này là chi phí cơ hội cho K/H phải trả cho việc sử dụng vốn trong thời điểm nhiều nhà băng khác đóng cửa. DN có quyền không lấy tiền. Như vậy, họ đánh mất cơ hội bung tiền ra đầu tư. Cái gì cũng có giá của nó mà.

    Tại sao NH phải chuyển sang đơn vị khác quản lý: Cũng là đơn vị kinh doanh giống DN thôi. Khi biên độ lợi nhuận giảm. NH phải tìm mọi cách cắt giảm chi phí như: giảm nhân viên, cắt giảm nhưng chi phí không cần thiết, tối ưu hiệu quả hoạt động.

    VD: Lúc trước K/H mua hàng thì bao xe chở giao hàng tận nhà. Còn giờ, không có lời thì không bao giao hàng nữa, ai muốn thì có thể thuê xe chở về.

    Tuy nhiên, do chính phủ chưa có quy định rõ về phí, mức phí như thế nào. Do vậy, mỗi nhà mỗi cảnh. Có chỗ thu ít, nhưng bắt đóng liền. Có cho thu nhiều, có chỗ bắt cam kết chuyển khoản 100%, chuyển toàn bộ giao dịch về NH đó, mua bảo hiểm khoản vay... trường hợp vi phạm có thể thu hồi nợ trước hạn.

    Đặt bạn vào trường hợp của NH. Nếu bạn có tiền bạn có dám cho vay không? Cho vay, kiếm chỗ đầu tư đã khó, còn phải quản lý nó, đòi nợ, quá trời chuyển trên trời dưới đất.... Mà còn bị lỗ nữa thì ai làm.

    Tôi cũng lưu ý của luật dân sự về quy định giá bán và niêm yết giá bán. Người bán phải báo giá rõ ràng. K/H có quyền biết giá mua hàng hóa dịch vụ của mình. Nhiêu đó thôi cũng đủ một vài chỗ thu phí có vấn đề rồi

  • Luật Pháp

    15:33 (GMT+7) - Thứ Ba, 26/1/2010

    Tôi thấy ở đây có hai vấn đề cần làm rõ:

    Một là thực thi pháp luật: Những gì đã là luật thì buộc mọi người phải chấp hành. Nếu làm sai luật thì dứt khoát phải xử lý theo đúng luật. Có như vậy thì đất nước mới có kỷ cương, đất nước có kỷ cương thì mới ổn định và phát triển. Một đất nước khi thực hiện luật lại có quá nhiều bàn luận để bào chữa cho những hành vi sai luật và kết quả là luật không được thực thi thì khó mà điều hành được đất nước. Khi đó hậu quả thật khôn lường.

    Hai là vấn đề cơ chế thị trường: Mọi người đang mượn cụm từ "cơ chế thị trường" để bào chữa cho những gì không phù hợp mà lại quên rằng đối với nước ta cụm từ đầy đủ phải là " cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa". Với cụm từ này thì "cơ chế thị trường" của nước ta có điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Lãi suất cơ bản chính là một trong những công cụ điều tiết này.

    Ba là vấn đề huy động và cho vay vốn: Các ngân hàng đang chạy đua tăng lãi suất huy động và lách luật để tăng lãi suất cho vay vượt qua qui định của luật. Giả sử nếu các ngân hàng làm đúng luật, giảm lãi suất huy động và không huy động được vốn để đưa vào sản xuất, chắc chắn khi đó sẽ có những điều tiết mới của Nhà nước cho phù hợp với nền kinh tế.

    Vì những lý do trên đây, tôi đồng ý với bài viết của anh Minh Đức.

  • Thiên Nhân

    15:01 (GMT+7) - Thứ Ba, 26/1/2010

    Nền kinh tế nước ta đã được nhiều nước coi là kinh tế thị trường. Vì vậy, hoạt động kinh doanh như ngân hàng cũng cần tuân thủ qui luật của thị trường.

    Số lượng Ngân hàng ở VN hiện nay đã tương đối nhiều đủ để tạo ra được sự cạnh tranh, trong đó có huy động vốn và cho vay. Sự cạnh tranh thấy rõ ở việc huy động vốn với nhiều chiêu khuyến mại. Việc vay ở dâu, lãi suất cao hay thấp thuộc quyền lựa chọn của Bạn. Bạn có thể không vay ở NH này để chuyển qua NH khác hoặc không vay do lãi suất quá cao.

    Cần phải minh bạch và sòng phẳng. Không nên chỉ muốn Ngân hàng cho vay với lãi suất thâp, trong khi bản thân mình lại muốn lãi suất cao khi gửi tiền vào ngân hàng.Đó là một nghịch lý. Muốn có vón cho Bạn vay, NH đã dùng cách cách khác nhau để huy động với LS cao hơn trần qui định. Đây là một thực tế ai cũng biết. Dù sao Bạn cũng vay được vốn khi cần thiết.

    Bạn trách NHNN quản lý không tốt ư? Nếu NHNN quản lý tốt, thường xuyên thanh tra, giám sát để NHTM làm theo luật, khi đó chẳng có vốn ra và vốn vào NH và khi đó, NH cũng chết và Bạn cũng sẽ chết.

    Vấn đề ở đây là cơ chế Lãi suất CB, nó không hợp lý, bó buộc NHNN, NHTM, khách hàng, buộc ai cũng lách để được việc. Nhưng không ai dám sửa.

    Luật không hợp lý ai cũng biết và ai cũng lách, ai cũng vi phạm, ai cũng kêu nhưng không ai làm gì. Đó là một nghịch lý lớn.

  • Finance

    11:06 (GMT+7) - Thứ Ba, 26/1/2010

    Tôi không phê phán tác giả, cũng như mọi người, mỗi người đều có quan điểm riêng và tôi cũng có quan điểm của riêng mình.

    Bản chất của đi vay là đi mua vốn, thế thì các bạn có thể mua ở bất kỳ nơi nào bán vốn, nếu không mua được vốn chỗ này thì các bạn mua vốn ở chỗ khác miễn sao đạt được hiệu quả cao nhất là tốt rồi. Nếu các bạn cảm thấy vào thời điểm này, chi phí vốn cao quá không tương xứng với hiệu quả kinh doanh (hiệu quả nhìn ở ngắn hạn hay dài hạn là tùy các bạn) thì có lẽ các bạn nên khoan hãy mua vốn.

    Nói về pháp luật, thật ra trong nền kinh tế thị trường, nhà nước chỉ can thiệp vào để tạo sự công bằng và sự phát triển ổn định và bền vững. Các bạn không nên vịn vào các quy định này nọ để mà bóp méo đi quy luật cung cầu. Trong kinh doanh sẽ không bao giờ có khái niệm lợi ích đơn phương, một bên hưởng lợi còn một bên chịu thiệt hại khi tham gia vào một thỏa thuận.

    Tôi thấy cũng có bạn chê các NH quản lý vốn yếu kém ---> Thực ra đúng là như vậy.

    Ngân hàng cũng giống như công ty cũng là một thành phần, cũng có chức năng và vai trò nhất định trong nền kinh tế. Trong nền kinh tế, cũng có doanh nghiệp quản lý tốt, DN quản lý không tốt và ngân hàng cũng vậy. Theo quy luật tự nhiên, anh nào không tốt sẽ bị đào thải, tất yếu là phải thế. Vậy vấn đề của các bạn là quản lý doanh nghiệp của chính các bạn cho thật tốt hay chông chờ vào sự ban phát ân huệ của các ngân hàng quản lý vốn không tốt?...

    Theo tôi các bạn nên chấn chỉnh lại DN của chính các bạn trước khi quá muộn, việc của Ngân hàng thì hãy để tự họ lo nếu không thì họ sẽ tiêu thế thôi.

    Trong thời điểm khó khăn hiện nay, tôi nhận thấy đã có rất nhiều DN kém hiệu quả không còn hoạt động nữa. Đây chính là một điểm rất tốt cho những DN đang còn hoạt động. Thị trường đã mất dần đi những kẻ phá rối, thật sự là như thế.

    Cảm ơn mọi người đã đọc chia sẻ của tôi.

  • Lê Thắng

    09:55 (GMT+7) - Thứ Ba, 26/1/2010

    Tôi đồng ý với tác giả bài viết.

    Là một một bạn đọc của website này tôi nhận thấy tác giả bài viết đã đưa ra một lời cánh báo tình hình lãi suất ngân hàng có dấu hiệu "nóng" và lách luật bằng các loại phí.

    Nội dung bài viết cũng không phải mang tính chất cá nhân là "tố" ngân hàng nào. Vì vậy, cơ quan chức năng cần vào cuộc sớm để trong lĩnh vực này khi hiện tượng này chưa trở thành phổ biến. Còn với các "nhà" bank cũng như người đi vay vốn đều chung mục tiêu là lợi nhuận, nếu bất lợi chắc chắn sẽ không có giao dịch.

    Vấn đề là vai trò của NH Nhà nước có theo kịp để quản lý với thực tế hay không.

  • Trần Quốc Thắng

    09:11 (GMT+7) - Thứ Ba, 26/1/2010

    Bài viết hình như chỉ biết chỉ trích bank trong việc cho vay với lãi suất cao. Đúng như câu thuận mua vừa bán, tất cả đều là giấy trắng, mực print, chữ ký hẳn hoi, không muốn nói các bank cạnh tranh rất quyết liệt. Người làm chủ của 1 bank thì bao giờ cũng đau đầu với việc này không riêng gì với doanh nghiệp. Đồng ý với việc vay vốn liên ngân hàng với lãi suất 22% giống như anh chị đã nói. Đây là hoạt động không khác gì môi giới tài chính, mà đã là môi giới thì phải có lời.

    Mọi người cứ nói bank này bank nọ mà không hề suy nghĩ đến Ngân hàng Nhà nước đang quản lý các khoản vay và lãi suất. Theo tôi, chỉ cần Ngân hàng Nhà nước đứng ra làm gì đó cho hợp lý là xong. Nếu tốt, thì các bank sẽ bỏ bớt hay giảm lãi suất quản lý tài sản khi vay.... Còn việc doanh nghiệp làm sao lãi >40% hàng tháng thì đó là chuyện của doanh nghiệp, đâu có liên quan gì đến bank, đã chấp nhận vay thì phải chấp nhận, đó là do cách quản lý tài chính yếu kém, không linh hoạt, thiếu hay lủng chổ này là chạy đi chấp vá...

  • Đồng ý

    23:46 (GMT+7) - Thứ Hai, 25/1/2010

    Tôi cũng là người vay vốn.

    Trước thời điểm tháng 12, giữa doanh nghiệp chúng tôi và ngân hàng có thỏa thuận là áp dụng lãi suất cho vay kinh doanh và lãi suất thời điểm trước tháng 12 là 10.5%/năm, hiện tại là 12%/năm.

    Sự việc không có gì đáng nói nếu như ngân hàng tiếp tục cho giải ngân phần còn lại (do doanh nghiệp chúng tôi mới chỉ giải ngân 1/3 số tiền ngân hàng duyệt) theo lãi suất Nhà nước quy định. Khi được yêu cầu giải ngân tiếp, ngân hàng bắt chúng tôi phải ký kết một hợp đồng quản lý tài sản với mức phí 6%. Như vậy tổng lãi suất cho khoản giải ngân chúng tôi phải chịu là 18%.

    Vậy xin hỏi: Một doanh nghiệp làm cách nào có thể tăng lợi nhuận hàng tháng lên >40% để bù đắp lãi suất?

    Nếu nói ngân hàng không làm trái luật, vậy tại sao lại yêu cầu doanh nghiệp ký với một đơn vị thứ 3 để quản lý tài sản?

  • Nguyenanh

    18:53 (GMT+7) - Thứ Hai, 25/1/2010

    Tôi thấy người vay cũng kỳ! Không biết phải ở sao cho vừa lòng người.

    Lúc vay ngân hàng không được, phải ra thị trường chợ đen vay với lãi suất cắt cổ thì cũng than! Rồi khi ngân hàng cho vay thì cũng than.

    Thuận mua vừa bán thôi! Kinh doanh ai cũng muốn có lời chứ! Trong khi nguồn huy động vốn khó khăn, thì việc nâng chút đỉnh lãi suất huy động lên cho người gửi tiền vui lòng 1 chút xíu nếu đi gửi tiền. Mà nguồn tỉền có dồi dào thì người vay mới dễ dàng vay được chứ.

  • Phong Cầm

    16:44 (GMT+7) - Thứ Hai, 25/1/2010

    Qua bài báo của Minh Đức và ý kiến phản hồi của Nhận Thấy, tôi có ý kiến thế này.

    Thứ nhất: Tôi nhất trí với phản hồi của Nhận Thấy. Song tôi xin bổ xung thêm rằng trường hợp Minh Đức đưa ra không thực sự đáng bàn vì Ngân hàng cho vay họ quy định lãi suất thỏa thuận đối với cho vay tiêu dùng 19,4% là đúng luật được Ngân hàng Nhà nước cho phép.

    Minh Đức cần phải biết rằng để lãi suất cao nhiều lúc các ngân hàng thương mại đang thực thi chính sách tiền tệ của NHNN Việt nam. Lãi suất cao nghĩa là hạn chế cho vay, giảm lượng tiền trong lưu thông, giảm lạm phát. Hiện nay Ngân hàng Nhà nước sẽ tiến tới dần điều hành thị trường tiền tệ thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ chứ không theo văn bản hành chính. Mọi việc lãi suất lên xuống của các ngân hàng theo tiếng gọi của thị trường và chịu sự ảnh hưởng của chính sách tiền tệ.

    Thứ hai: Phóng viên có thế đưa vấn đề, hoặc hiện tượng để mọi người suy ngẫm, các chính khách qua đó nắm bắt thông tin để có sự điều chỉnh phù hợp với diễn biến của đời sống, kinh tế xã hội. Tuy nhiên tôi phản đối bài viết này của Minh Đức, vì tôi cho rằng chất lượng bài viết vu vơ, không theo kịp thực tế. Cũng phải xin nói với Minh Đức rằng chính vì vẫn đề lãi suất này mà Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tư Pháp và các thành viên Chính phủ đang phải tìm ra cách điều hành thực tế, mang tính thị trường. Hiện Hiệp hôi Ngân hàng đang có công văn gửi Thống đốc về việc xem xét bỏ hoặc không áp dụng điều 476 - Bộ luật Dân sự đối với các tổ chức tín dụng đấy Minh Đức ạ.

    Tôi thử đặt ra câu hỏi nếu cho vay lãi suất 12% như hiện nay. Trong khi đó huy động vốn 10,499999% không có ai gửi vì lãi suất tiền gửi thấp. Ngân hàng lấy đâu tiền mà cho vay chứ chưa nói đến có tiền cho vay với lãi suất cao.

    Vấn đề quan trọng làm sao ngân hàng vẫn huy động được tiền trong các tầng lớp dân cư và vẫn có thể cho vay với lãi suất chấp nhận được giữa các bên ngân hàng và người vay. Câu hỏi này cả nền kinh tế đang mong chờ ở Ngân hàng Nhà nước và các thành viên Chính phủ.

  • Cùng nhận thấy

    16:40 (GMT+7) - Thứ Hai, 25/1/2010

    Có lẽ các bạn phê phán tác giả đều là người ngân hàng nhỉ?

    Tôi là người vay vốn đây. Tôi không đồng tình với ý kiến của bạn Kinh Kha. Không thể vì khó khăn thanh khoản, vì phải vay trên liên ngân hàng 22%/năm, mà nguyên nhân là do ngân hàng quản trị vốn yếu kém, dự báo kém..., để đổ lên đầu người vay vốn được!

    Thứ nữa: Điều 476 của Bộ Luật dân sự quy định: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do NHNN công bố đối với loại cho vay tương ứng”. Mục tiêu chính của quy định này là nhằm ngăn chặn việc cho vay nặng lãi trong nền kinh tế và để tạo ra căn cứ cho tòa án xét xử khi có tranh chấp xảy ra. Quy định này điều chỉnh các quan hệ trong nền kinh tế và không loại trừ trường hợp nào, tất cả cùng bình đẳng. Cho nên người vay hoàn toàn có thể khởi kiện ngân hàng dựa theo quy định của bộ luật.

    Còn việc vay tiêu dùng theo lãi suất thỏa thuận là theo Thông tư số 02 của NHNN. Thông tư này cũng trái với quy định tại điều 476 nói trên. Vấn đề là hệ thống pháp lý bất nhất làm nảy sinh các vấn đề kinh tế, xã hội phức tạp.

    Còn với tác giả, tôi thấy đó là một trường hợp cho thấy người dân đang phải chịu lãi suất "cắt cổ" như thế nào, bị ép chịu phí như thế nào. Tác giả không hoàn toàn đề cập đến việc lãi suất cho vay vượt trần, cũng không nói lãi suất đó vi phạm pháp luật. "Có tật giật mình", những ý kiến của các bạn tự đưa ra để phê phán tác giả thôi.

    Trân trọng. Nhân tiện xin gửi báo tài liệu về việc thu phí cho vay, người vay "phải yêu cầu được cung cấp dịch vụ quản lý tài sản". Vừa ký vừa cười ra nước mắt. Tiếc là báo không có chế độ phóng to, in đậm để tôi làm nổi bật dòng chữ trong ngược kép đó.

    Trân trọng.

  • Truong Van Duc

    16:30 (GMT+7) - Thứ Hai, 25/1/2010

    Lãi suất cho vay trong thời gian gần đây tăng cao phản ánh đúng quy luật cung cầu trên thị trường. Cung tiền < Cầu tiền -> Lãi suất tăng.

    Lãi suất của món vay là biểu hiện của giá cả trong quan hệ tín dụng. Lãi suất không chịu ảnh hưởng nhiều lắm từ giá trị của món vay mà nó chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi mức độ rủi ro trong quan hệ tín dụng. Cho vay tiêu dùng là hình thức cho vay có mức độ rủi ro cao nên lãi suất cho vay cao là đúng với quy luật. Hiện nay, cho vay tiêu dùng lãi suất 19-20% là hợp lý.

    Còn lãi suất cho vay 12% là do quy định của Nhà nước (không vượt quá 150% lải suất cơ bản) nên không phản ảnh đúng quy luật cung cầu của thị trường dẫn đến việc các ngân hàng cho vay tập trung vào lĩnh vực tiêu dùng, áp dụng theo lãi suất thỏa thuận là điều dễ hiểu.

    Còn việc các ngân hàng cho vay lách luật bằng nhiều hình thức như chuyển sang cho vay tiêu dùng, thu phí… là hệ quả của cơ chế, chính sách không phù hợp với quy luật mà ra.

  • Thanh Tùng

    16:10 (GMT+7) - Thứ Hai, 25/1/2010

    Đúng là tác giả bài này cần xem lại. Ngân hàng Nhà nước chỉ quy định áp dụng trần lãi suất cho vay đối với các khoản vay có mục đích bổ sung vốn sản xuất kinh doanh. Các khoản vay tiêu dùng, sửa chữa nhà cửa, cho vay qua thẻ tín dụng... được áp dụng lãi suất thỏa thuận. Và trong trường hợp này thì "thuận mua vừa bán". Không ai ép người đi vay vậy nên nếu chấp nhận được lãi suất thì vay, không thì thôi.

    Tôi được biết hiện các ngân hàng đều áp dụng lãi suất cho thanh toán qua thẻ Visa/Master ở mức 1,5% - 1,7%/tháng.

  • Kinh Kha

    15:36 (GMT+7) - Thứ Hai, 25/1/2010

    Tôi xin có một số ý kiến về bài viết này như sau:

    1. Đây là trường hợp cho vay tiêu dùng theo lãi suất thỏa thuận nên ngân hàng cho vay theo lãi suất như vậy là không có gì vi phạm pháp luật. Tác giả bài báo này chắc không biết gì về hoạt động tín dụng của Ngân hàng rồi.

    2. Tác giả chỉ đứng về phía người đi vay mà không xét đến khía cạnh của Ngân hàng, hiện nay khi ngân hàng buộc phải cho vay không quá 12% theo quy định lãi suất trần. Hiện nay các ngân hàng khó khăn trong thanh khoản, đi vay trên thị trường liên ngân hàng có khi lãi suất lên đến 22%/năm. Vậy ai thấu hiểu cho các ngân hàng đây?

    Bài báo này mang nặng tính chủ quan của tác giả!

  • Trần Quốc Thắng

    14:22 (GMT+7) - Thứ Hai, 25/1/2010

    Tôi cũng đồng tình bài viết của độc giả trên. Vấn đề không phải vay lãi suất bao nhiêu, mà là vấn đề có trả lãi + nợ đúng hạn hay không?

    Mấy cái qui định do bank ban hành chỉ là qui định nội bộ trong 1 bank thôi, còn nhiều vấn đề về lãi suất ưu đãi khác.

    Cuối cùng, vẫn là vay có trả nợ và lãi đúng hạn hay không? Những lúc anh không có tiền để kinh doanh (làm gì đó), không chạy đông chạy tây vay mượn bạn bè được thì bạn làm gì khi không có bank? và khi thành công với khoản vay đó, anh chị sẽ nói gì về bank?....

  • Phương nam

    10:33 (GMT+7) - Thứ Hai, 25/1/2010

    Đây đúng 100 % là doanh nghiệp vay kinh doanh, không phải vay tiêu dùng cá nhân. Doanh nghiệp tôi cũng đã vay theo hình thức này có bảo lãnh bằng sổ đỏ. Lãi suất cho vay là 12%/năm ......cộng phí là 8,8% = tổng cộng là 20,8%/năm.

  • Nhận thấy

    08:30 (GMT+7) - Thứ Hai, 25/1/2010

    Khi đọc bài báo này xong thì tôi có một số ý kiến như sau:

    - Đây là trường hợp cho vay tiêu dùng theo lãi suất thỏa thuận chứ không phải vay sản xuất kinh doanh bị khống chế 150% căn cứ theo lãi suất cơ bản. Mà đã theo lãi suất thỏa thuận thì đó là thỏa thuận dân sự, không vi phạm luật pháp.

    - Xét theo tính rủi ro và khả năng thu nhập để trả nợ. Nếu người vay được ngân hàng đánh giá là người có độ tin tương an tòan và thu nhập cao ổn định thì lãi suất cho vay có thể thấp hơn đối với trường hợp ngược lại.

    - Thời điểm vay vốn, đây là thời điểm khi lãi suất đầu vao cao và tính thanh khỏan của ngân hàng chưa phải là tốt thì thời điểm này vay chưa hiệu quả. Tại sao năm 2008 khi mà lãi suất tăng cao thì vẫn có người vay tiêu dùng như đâu thấy kêu ca như bây h.

    - Nền kinh tế Việt Nam đang vận hành theo cơ chế thị trường thì việc người vay gặp ngân hàng cũng phải theo đúng cơ chế này. Nếu cho rằng ngân hàng " cho vay lãi cao" thì bản thân người gửi tiền cũng muốn lãi cao, trong khi ngân hàng cũng phải kinh doan có lợi nhuận, tạo công ăn việc làm, đóng thuế đầy đủ cho nhà nước....

    Tôi thiết nghĩ hiện nay có rất nhiều ngân hàng cạnh tranh nhau cho khách hàng vay. Do đó có thể nói môi trường cạnh tranh rất khốc liệt. Nhưng nếu ngân hàng nào cũng cho vay theo cơ chế lách luật như hiện nay thì lỗi không phải của ngân hàng mà do cơ chế quy định.

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Tài chính

Pvd

10:37 (GMT+7) - Thứ Tư, 8/2/2012

Cứ “chăm chăm” nhìn vào vốn huy động đầu vào là không ổn! Ngẫm lại thấy ý Thiên An Bình quả là rất chí lý. Dẫu tín...

Trong bài: Phía sau 2,8 triệu tỷ đồng vốn (2 ý kiến)

Thiên An Bình

18:52 (GMT+7) - Thứ Ba, 7/2/2012

Cứ chăm chăm vào vốn huy động để giải quyết vốn đầu ra cho nền kinh tế xem chừng không ổn lắm. Vốn cho nền...

Trong bài: Phía sau 2,8 triệu tỷ đồng vốn (2 ý kiến)

Hoàng

16:57 (GMT+7) - Thứ Ba, 7/2/2012

Cái này là con gà và quả trứng, cứ chạy quanh cho đủ bộ....

Trong bài: Lo thanh khoản yếu, ngân hàng xin xuất vàng (5 ý kiến)

Phạm Tiến Thăng

19:02 (GMT+7) - Thứ Bảy, 4/2/2012

Tôi cũng bị gần như trườg hợp này. Tôi có vay tín dụng đen 400tr, có viết giấy hợp đồng mua bán nhà đất làm tín...

Trong bài: Cực hình từ tín dụng “đen” (34 ý kiến)

Nhat Dinh

09:53 (GMT+7) - Thứ Bảy, 4/2/2012

Có lẽ người bình thường như tôi không thể hiểu nổi tại sao giá vàng trong nước đắt hơn nước ngoài mà lại xuất khẩu...

Trong bài: Lo thanh khoản yếu, ngân hàng xin xuất vàng (5 ý kiến)