Ngân hàng: Ngoại lãi nhiều, nội lãi ít


05/03/2010 15:28 (GMT+7)

picture Khách hàng sử dụng máy ATM của ANZ - Ảnh: Lê Toàn.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Gần đây những chiếc máy rút tiền tự động ATM của các ngân hàng ngoại như ANZ, HSBC xuất hiện ngày càng nhiều trong khu vực trung tâm Tp.HCM. Không giống như trước, máy ATM của ngân hàng ngoại chỉ được đặt ở cạnh hội sở chính, bây giờ họ có thể đặt ở nhiều nơi.

Cùng với việc mở rộng mạng lưới, các ngân hàng 100% vốn nước ngoài dần lấn lướt các đồng nghiệp nội địa, đặc biệt trong tăng trưởng lợi nhuận, họ đang để sau lưng một khoảng cách khá xa với các ngân hàng cổ phần.

Năm ngoái, theo thống kê của chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Tp.HCM, các ngân hàng nước ngoài trên địa bàn có mức tăng trưởng lợi nhuận tới 168,3% so với năm 2008, với con số tuyệt đối 3.517 tỉ đồng (1.311 tỉ đồng năm 2008).

Trong khi đó tăng trưởng lợi nhuận của các ngân hàng cổ phần chỉ có 20,3%, từ 4.988 tỉ đồng năm 2008 lên 5.999 tỉ đồng năm 2009.

Các ngân hàng cổ phần hối hả cho vay, hối hả nâng lãi suất huy động để cạnh tranh lẫn nhau và hối hả phát triển tín dụng. So với cuối năm 2008, năm vừa qua tăng trưởng tín dụng của khối cổ phần nhảy lên 59,9%, mức tăng mạnh nhất trong số các ngân hàng. Còn các ngân hàng nước ngoài vẫn “bình chân như vại” trong mảng tín dụng. Họ dường như không quan tâm lắm đến nâng dư nợ cho vay. Kết quả là tăng trưởng tín dụng của họ năm ngoái âm - 0,66%.

Vậy điều gì đã tạo nên sự bứt phá lợi nhuận của ngân hàng nước ngoài? Ở một ngân hàng nước ngoài lớn, trong cơ cấu lợi nhuận 40% là kinh doanh ngoại hối và trái phiếu; thu phí thanh toán xuất nhập khẩu và các phí khác của khách hàng doanh nghiệp chiếm 20%; cho vay tiêu dùng cá nhân cộng dịch vụ 20%, dịch vụ khác chiếm tỷ trọng còn lại. Ở một số ngân hàng nước ngoài khác, lợi nhuận từ kinh doanh ngoại tệ và ngân quỹ cũng chiếm 40% lợi nhuận.

Rõ ràng, dịch vụ ngoại hối và phí mới là nguồn lợi nhuận chính của ngân hàng nước ngoài. Khi mà ngân hàng nội địa bị ràng buộc bởi hàng loạt các quy định hành chính liên quan đến kinh doanh ngoại tệ, không thể lách luật, thì ngân hàng nước ngoài tỏ ra linh hoạt.

Suốt một thời gian dài họ mua bán Đô la Mỹ với doanh nghiệp thông qua một ngoại tệ thứ ba để đạt được tỷ giá mong muốn và khi Ngân hàng Nhà nước cấm nghiệp vụ này, họ vẫn sử dụng ngoại tệ thứ ba thông qua một ngân hàng thứ ba.

Thí dụ doanh nghiệp XYZ muốn mua Đô la Mỹ của họ, thì đầu tiên doanh nghiệp đó phải mua Euro của ngân hàng nội địa XYZ với một tỷ giá thỏa thuận. Họ bán Euro cho ngân hàng XYZ để XYZ bán cho doanh nghiệp. Có Euro rồi, doanh nghiệp bán lại cho họ cũng theo giá thỏa thuận vào ngày hôm sau, làm sao tương ứng với sự chênh lệch của Đô la Mỹ (giữa giá niêm yết của ngân hàng và giá thị trường tự do) mà họ bán cho doanh nghiệp. Trên hợp đồng, giá mua bán Đô la vẫn tuân thủ quy định của Ngân hàng Nhà nước, nhưng trên thực tế, sau một sự lòng vòng, giá thực mua - bán đã khác nhiều.

Ngoài ra một số ngân hàng nước ngoài áp dụng phí ngoại tệ linh hoạt (flexible fees) khi doanh nghiệp chuyển khoản ra nước ngoài, mở L/C, bảo lãnh… Với các công ty đa quốc gia, việc đưa ra các mức phí càng thuận lợi hơn, nhất là khi các công ty này nhập khẩu máy móc, nguyên vật liệu, triển khai dự án đầu tư.

Không phải ngẫu nhiên, các công ty của nước nào thì thường giao dịch với ngân hàng của nước ấy mở ở Việt Nam. Chẳng hạn các công ty Hàn Quốc giao dịch với ngân hàng Hàn Quốc, Đài Loan với Đài Loan, Pháp với Pháp, Úc với Úc… Ngân hàng trong nước không thể “bắt chước” cách kinh doanh ấy của ngân hàng nước ngoài vì nếu làm vậy có thể bị thanh tra, kiểm tra liên tục.

Tuân thủ đúng quy định, ngân hàng nội khó tìm lợi nhuận từ kinh doanh ngoại hối. Một khi giá mua bán Đô la Mỹ chuyển khoản và tiền mặt luôn kịch trần và bằng nhau, các ngân hàng cổ phần chỉ còn cách giới thiệu các doanh nghiệp với nhau để tự thương lượng. Hậu quả là doanh thu kinh doanh ngoại tệ năm 2009 của nhiều ngân hàng cổ phần sụt giảm mạnh, có ngân hàng thậm chí lỗ ở mảng này.

Lợi nhuận từ dịch vụ thấp, ngân hàng cổ phần lao vào tín dụng. Cho vay chỉ cung cấp 20% cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng nước ngoài, nhưng lại chiếm đến 75-80% lợi nhuận của ngân hàng nội. Sự lệch pha đó dẫn đến sự lệch pha về chất lượng tín dụng của hai khối.

Năm 2009 tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng nước ngoài ở Tp.HCM chỉ chiếm 0,63% tổng dư nợ. Tuy nhiên với ngân hàng cổ phần, tỷ lệ này là 1,39%, gấp hơn hai lần tỷ lệ của ngân hàng nước ngoài. Còn so với ngân hàng quốc doanh, nơi nợ xấu chiếm 2,02% tổng dư nợ, thì tỷ lệ nợ xấu của nước ngoài chỉ bằng một phần ba.

Cùng một môi trường kinh doanh như nhau, cùng chịu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô như nhau, vì sao ngân hàng ngoại lãi nhiều, ngân hàng nội lãi ít? Phải chăng sự khác nhau về tốc độ tăng trưởng lợi nhuận ấy chỉ thuần túy do ngân hàng nước ngoài nhiều kinh nghiệm, công nghệ cao hay đằng sau đó còn là sự quản lý ở mức độ khác nhau đối với tổ chức tín dụng nội và ngoại của Ngân hàng Nhà nước?

Hải Long (TBKTSG)

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Thu Hằng

    09:58 (GMT+7) - Thứ Bảy, 13/3/2010

    Bài viết đưa ra được nhiều thông tin hữu ích, tuy nhiên ví dụ về mua bán ngoại tệ USD/EUR viết rất rối. Có lẽ chỉ cần nói là nhà nước mình chỉ quy định tỷ lệ của USD/VND và EUR/VND nên các ngân hàng lách bằng tỷ lệ chéo USD/EUR thì bạn đọc sẽ dễ hình dung hơn nhiều. Hơn nữa lấy tên XYZ cho cả DN và ngân hàng khiến ví dụ càng thêm loạn.

  • Thanh Xuân

    11:17 (GMT+7) - Thứ Ba, 9/3/2010

    Các ngân hàng nước ngoài (bao gồm ngân hàng 100% vốn nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài) tại Việt Nam đang được hưởng rất nhiều "lợi thế" ngoài lợi thế sẵn có về công nghệ, kinh nghiệm và vốn so với các ngân hàng nội địa.

    Đó có thể là:

    1. Được cấp bảo lãnh của chính phủ (BTC) đối với các khoản vay cấp cho các doanh nghiệp Việt Nam theo các hình thức tín dụng xuất khẩu ECA, vay hỗ trợ phát triển ODA...

    2. Không chịu các mệnh lệnh hành chính về các chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, thỏa thuận lãi suất huy động....

    3. Khi cần thiết có thể sử dụng vốn của ngân hàng mẹ để thực hiện cho vay mà không vướng các tỷ lệ an toàn theo quy định tại Việt Nam.

    4. Linh hoạt trong cơ chế huy động vốn, mua bán ngoại tệ và cấp tín dụng, cơ chế lãi suất và phí...

    5. Tận dụng được mối quan hệ với các công ty mẹ tại nước bản địa hoặc các công ty mẹ toàn cầu, đa quốc gia... có công ty con/công ty liên kết hoạt động tại Việt Nam.

    và ...

    Những lợi thế này có được là nhờ đâu mà đã giúp cho các ngân hàng nước ngoài ngày càng đẩy xa khoảng cách với các ngân hàng nội về hiệu quả kinh doanh, thị phần cũng như tạo áp lực cạnh tranh găy gắt nhưng không thật sự công bằng với các ngân hàng nội địa?

  • Mai Hùng

    23:23 (GMT+7) - Chủ Nhật, 7/3/2010

    Bài viết hay và có chuyên môn cao. Những người trong cuộc có thể học hỏi được nhiều, nhất là các ngân hàng "nội".

  • Nguyen Huu Hanh

    19:31 (GMT+7) - Thứ Bảy, 6/3/2010

    Là người đang làm trong ngàng ngân hàng đã lâu, tôi có vài ý kiến sau.

    Thứ nhất, không thể xem việc tăng trưởng lợi nhuận của các ngân hàng nước ngoài như thế là nổi trội so với các ngân hàng trong nước. Năm 2008, kết quả của khối ngoại rất xấu và 2009 tốt hơn và vì vậy 168% không có nhiều ý nghĩa.

    Thứ hai, về hoạt động ngoại hối, tất cả các ngân hàng đều chịu chung một chính sách và quản lý của NHNN. Và một điều dễ hiểu là bao giờ NHNN cũng phải hỗ trợ các ngân hàng trong nước nhiều hơn giúp họ từng bước có thể cạnh tranh tốt hơn. Còn phần mua bán thông qua một ngân hàng thứ ba lại còn mơ hồ hơn.

    Và trong tình hình cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, chẳng có khách hàng nào ngu ngốc đến mức chịu để cho ngân hàng ngoại cắt cổ bằng một mức giá trên trời, nhất là các công ty nước ngoài vốn tính chi li từng đồng chi phí.

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Tài chính

Thu Thảo

22:24 (GMT+7) - Thứ Năm, 9/2/2012

Cảm ơn tác giả vì bài viết này! Nó thực sự hay và bổ ích với tôi!...

Trong bài: Khủng hoảng nợ dưới chuẩn tại Mỹ: Từ A đến Z (13 ý kiến)

Nguyễn Hoàng Long

10:19 (GMT+7) - Thứ Năm, 9/2/2012

Trong cơ chế thị trường, các ngân hàng thương mại cũng là những doanh nghiệp hoạt động trong môi trường cạnh tranh. Việc các doanh...

Trong bài: “Phải giải quyết thanh khoản ngân hàng trong quý 1/2012” (2 ý kiến)

Khánh Hà

09:17 (GMT+7) - Thứ Năm, 9/2/2012

Một điều dễ hiểu khi các NH không muốn giảm lãi suất cho vay và hết kêu ca về thanh khoản là: có trần lãi...

Trong bài: “Phải giải quyết thanh khoản ngân hàng trong quý 1/2012” (2 ý kiến)

Dang Hai

08:37 (GMT+7) - Thứ Năm, 9/2/2012

Trong trường hợp này theo tôi ngân hàng là người chịu thiệt nhất. Cán bộ pháp chế của ngân hàng này nói chung là yếu...

Trong bài: Cực hình từ tín dụng “đen” (35 ý kiến)

Thiên An Bình

11:55 (GMT+7) - Thứ Tư, 8/2/2012

Vàng có thể lên nữa tùy theo kinh tế thế giới khỏe hay yếu nhưng đô la không thể lên được mà có nhích lên...

Trong bài: Giá vàng trong nước đuối sức khi USD tự do lao dốc mạnh (1 ý kiến)