Ổn định tiền đồng nên được ưu tiên

HOÀI THU

16/03/2010 17:05 (GMT+7)

picture Trong vòng chưa đầy ba tháng vào cuối năm ngoái và đầu năm nay, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh tỷ giá hai lần theo hướng giảm giá tiền đồng.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam trong hai tháng đầu năm đã tăng đến 3,35% so với cuối năm ngoái. Chỉ trong hai tháng đầu năm, lạm phát đã tăng gần một nửa so với kế hoạch 7% của cả năm.

Nguyên nhân của việc chỉ số giá tăng cao trong thời gian qua là gì? Liệu Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước có thể kiểm soát được tốc độ tăng  lạm phát ở mức đề ra không? Bài viết cũng thử đưa ra một số giải pháp cho việc kiểm soát lạm phát trong thời gian tới.

Số liệu trong bài được sử dụng từ nguồn của Tổng cục Thống kê, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Nhà nước.

Hệ quả và tâm lý

Trong tháng 2/2010, tỷ lệ lạm phát so với tháng trước đó là 1,96%, thấp hơn so với mức trung bình trong tháng 2 kể từ năm 2004 trở lại đây.

Một số quan điểm về phía Chính phủ cho rằng lạm phát đang trong tầm kiểm soát và Việt Nam hoàn toàn có đủ cơ sở để giữ lạm phát ở mức 7% như kế hoạch đề ra. Quan điểm của người viết cho rằng tỷ lệ lạm phát tuy tương đối thấp so với các năm trước đó, nhưng chưa phải là dấu hiệu lạc quan, vì những lý do dưới đây.

Tốc độ tăng CPI theo năm và theo tháng.

Thứ nhất, mặc dù tỷ lệ lạm phát tháng 2 so với tháng trước đó không phải ở mức cao nếu so tương đối với các năm trước, tuy nhiên, tốc độ tăng lạm phát trong 2 tháng đầu năm so với cuối năm trước đó khá cao, ở mức 3,35%. Tốc độ tăng CPI tháng 2 theo năm lên tới 8,46%, và xu hướng tăng lạm phát theo năm chưa có dấu hiệu dừng lại khi tỷ lệ tăng CPI tháng 3 trong năm nay so với tháng trước đó được dự báo tăng cao hợn nhiều so với mức -0,17% vào năm ngoái.

Thứ hai, nhìn vào nguyên nhân của tăng CPI mạnh trong hai tháng đầu năm, theo người viết, không chỉ nằm ở yếu tố thời vụ và sự tăng giá của các hàng hóa cơ bản trên thế giới, mà còn là hệ quả tất yếu của chính sách nới lỏng tài khóa, tiền tệ và chính sách tỷ giá đã được cảnh báo từ đầu năm ngoái.

Về chính sách tiền tệ, mặc dầu Ngân hàng Nhà nước đã giảm được tăng trưởng tín dụng vào cuối năm ngoái, nhưng sự tăng trưởng tín dụng từ tháng 3 cho đến tháng 11/2009 là một nguyên nhân thúc đẩy lạm phát tăng cao vào đầu năm nay. Trong thời gian đề cập ở trên, tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân mỗi tháng ở mức 3,1%.

Mặc dầu, tăng trưởng tín dụng đã giảm mạnh vào tháng 12/2009, nhưng cả năm tăng trưởng tín dụng ở mức 37,7%, và tốc độ tăng trưởng cung tiền ở mức 26,6% trong năm qua cao so với tốc độ tăng trưởng GDP thực chỉ ở mức 5,32%.

Xét theo khung thời gian dài hơn về mối quan hệ giữa cung tiền và tốc độ tăng trưởng thực GDP trong thời gian gần đây, cho thấy CPI liên tục tăng ở mức cao không có gì là ngạc nhiên. Trong 5 năm vừa qua, tốc độ tăng trưởng bình quân mỗi năm của cung tiền danh nghĩa ở mức 30,9%, trong khi tăng trưởng tín dụng bình quân ở mức 34,3%.

Nhìn vào đồ thị của hai chuỗi số liệu về tăng trưởng tín dụng và tốc độ tăng CPI, cho thấy sự gia tăng của tốc độ tăng CPI theo sau tăng trưởng của tín dụng, và mối quan hệ này có độ trễ từ 7-8 tháng (xem đồ thị bên dưới).

Tăng trưởng tín dụng, tổng phương tiện thanh toán và CPI.

Về chính sách tài khóa, thâm hụt ngân sách là khá cao do Chính phủ tăng chi tiêu và giảm thuế vào năm ngoái nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế. Quy mô lớn của gói kích cầu trị giá gần 7 tỷ Đô la đã được các nhà kinh tế cảnh báo về nguy cơ gây lạm phát từ đầu năm. Trong năm ngoái, thâm hụt ngân sách lên tới 6,9% GDP, là mức cao so với mức chấp nhận thông thường ở mức 5% GDP ở Việt Nam. Tăng chi tiêu Chính phủ khiến cho cầu về hàng hóa tăng, thúc đẩy giá tăng, đồng thời thâm hụt ngân sách liên tục sẽ gây áp lực cho in tiền để tài trợ cho các khoản chi tiêu của Chính phủ.

Cũng không thể không đề cập đến chính sách điều chỉnh tỷ giá khi nói đến yếu tố nguyên nhân tăng giá trong hai tháng vừa qua. Trong vòng chưa đầy ba tháng vào cuối năm ngoái và đầu năm nay, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh tỷ giá hai lần theo hướng giảm giá tiền đồng.

Ngoài ra, yếu tố tâm lý của doanh nghiệp cũng như người dân cũng là nguyên nhân quan trọng giải thích lạm phát lần này. Mối lo ngại về tình trạng tăng giá cả hàng hoá, tác động đẩy giá nhiều mặt hàng đứng ở mức cao.

Các yếu tố gây áp lực lạm phát

Tại thời điểm này, chỉ số lạm phát tháng 3/2010 chưa được công bố tuy nhiên, nhiều những yếu tố cho thấy tốc độ tăng theo tháng của CPI của tháng 3 sẽ ở mức tương đối cao so với những năm trước, khi tháng 2 và đầu tháng 3 chứng kiến sự điều chỉnh của một số mặt hàng thiết yếu như giá xăng được điều chỉnh tăng thêm từ 550-590 đồng/lít bắt đầu từ ngày 21/2/2010 và giá điện được điều chỉnh tăng trung bình là 6,8%.

Và việc điều chỉnh tỷ giá vào ngày 11/2 cũng sẽ tiếp tục gây ảnh hưởng đến chỉ số giá cả trong tháng 3, do độ trễ của cơ chế tác động. Giá cả đầu vào tăng thì giá cả đầu ra tăng là chuyện bình thường, chưa kể đến nhiều mặt hàng tăng giá kiểu “té nước theo mưa”.
 
Theo người viết, trong khoảng thời gian từ thời điểm này đến cuối năm, nguy cơ lạm phát có thể nằm ở những yếu tố sau.

Thứ nhất, nguy cơ lạm phát đến từ giá cả hàng hóa thế giới tăng. Trước sự phục hồi của nền kinh tế thế giới thì nhiều khả năng giá dầu và giá lương thực sẽ tăng cao, tạo lạm phát chi phí đẩy. Theo dự báo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), giá dầu thế giới năm nay sẽ tăng 22,6% so với năm ngoái. Việc giá dầu tăng tất yếu sẽ kéo theo sự điều chỉnh của giá xăng trong nước, gây tác động làm tăng chi phí của doanh nghiệp, kết quả là giá cả hàng hóa tăng.

Thứ hai, nguy cơ lạm phát đến từ khả năng điều chỉnh tỷ giá theo hướng tiền đồng yếu đi, do áp lực từ việc thâm hụt thương mại đang tiếp tục gia tăng.

Thứ ba, nguy cơ lạm phát đến từ khả năng nới lỏng chính sách tiền tệ nhằm kích thích tăng trưởng. Mặc dầu trong thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đang áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt, tuy nhiên với mục tiêu tăng trưởng kinh tế 6,5% trong năm nay, sẽ có những áp lực tăng trưởng tín dụng từ nay đến cuối năm.

Thứ tư, nguy cơ lạm phát đến chính sách tài khóa mở rộng hướng vào mục tiêu tăng trưởng. Mục tiêu của Quốc hội đưa ra trong năm nay là chấp nhận ngân sách thâm hụt ở mức 6,2% GDP, chỉ thấp hơn mức thâm hụt năm ngoái là 0,7%. Thêm vào đó, khả năng dễ dàng tiếp cận tín dụng mềm của các tổng công ty lớn Nhà nước làm ăn không hiệu quả là nguy cơ gây lạm phát tiềm ẩn không chỉ trong ngắn hạn mà trong cả trung và dài hạn.

Một vài đề xuất kiểm soát lạm phát

Thứ nhất, về chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước cần nâng cao khả năng kiểm soát cung tiền và tăng trưởng tín dụng thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ. Hay nói cách khác, Ngân hàng Nhà nước cần giảm thiểu việc áp dụng các biện pháp hành chính đối với việc kiểm soát cung tiền và tín dụng.

Kinh nghiệm điều hành chính sách tiền tệ trong năm 2009 cho thấy mặc dầu Ngân hàng Nhà nước đã đưa rất nhiều những cảnh báo và mệnh lệnh hành chính nhằm ngăn chặn tăng trưởng tín dụng, tuy nhiên vẫn không cản trở tăng trưởng tín dụng lên mức 37,7% từ mức mục tiêu ban đầu là 25%.

Cụ thể, về chính sách lãi suất, theo người viết, bỏ trần lãi suất huy động hoặc nâng trần lãi suất huy động là việc cần làm để hút thêm tiền vào hệ thống ngân hàng. Hiện tại, việc quy định trần lãi suất tiền gửi ở mức 10,5% đang gây khó khăn cho ngân hàng trong việc huy động vốn Mặc dầu, các ngân hàng cũng áp dụng trả lãi suất tăng thêm khoảng 1-2% so với mức lãi suất trần qui định đối với khách hàng VIP nhưng mức lãi suất này vẫn chưa đủ hấp dẫn để tăng lượng tiền gửi. Trong ba tháng gần đây, tốc độ tăng trưởng huy động tiền gửi âm hoặc gần với không.

Tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng tiền gửi.

Theo người viết, lãi suất tiền gửi nên được điều chỉnh tăng, để khuyến khích người dân gửi tiền vào hệ thống ngân hàng và lãi suất cho vay cao, dẫn tới giảm tăng trưởng tín dụng và từ đó cải thiện được chỉ số tổng tín dụng trên tổng tiền gửi.

Thêm vào đó, việc kiểm soát tín dụng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng là điều cần bàn khi lãi suất cho vay ở mức cao nhằm tránh sự lựa chọn bất lợi. Hiện tại, mức lãi suất mà ngân hàng thông thường áp dụng đối với cho vay sản xuất kinh doanh ở mức 16-17% vô hình dung đã loại bỏ những dự án ít rủi ro có suất sinh lời dưới mức 16-17%. Thay vào đó, chỉ những dự án có suất sinh lời cao mới có thể chấp nhận mức lãi suất này. Trong kinh tế thị trường, những dự án có suất sinh lời cao thường đi kèm với rủi ro cao.

Thứ hai, về chính sách điều chỉnh tỷ giá, theo người viết, trong trường hợp phải điều chỉnh, Ngân hàng Nhà nước nên tránh gây sốc cho thị trường ở mức thấp nhất, không để việc điều chỉnh rơi vào tình trạng "nước đến chân mới nhảy".
 
Thứ ba, về chính sách tài khóa. Ngoài việc kiểm soát chi tiêu công hiệu quả, Chính phủ nên có cơ chế kiểm soát đầu tư của các tập đoàn Nhà nước và tạo sự công bằng trong việc tiếp cận tín dụng đối với khu vực tư nhân và khu vực Nhà nước.

Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước nên tăng cường công tác thông tin dự báo, cũng như tính hiệu quả trong điều hành chính sách tiền tệ và lựa chọn các công cụ của chính sách tiền tệ. Mục tiêu của chính sách tiền tệ trong trung hạn nên hướng tới kiểm soát lạm phát hơn so với việc hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Trong năm nay, tỷ lệ lạm phát sẽ phụ thuộc vào sự hy sinh cho tăng trưởng kinh tế là bao nhiêu. Mặc dầu, Việt Nam đang trên đà hồi phục sau thời kỳ suy thoái, nhưng quan điểm của người viết cho rằng việc giữ ổn định tiền đồng trong năm nay cần đặt lên hàng đầu. Có lẽ, cảnh báo của IMF không thừa khi cho rằng “Việt Nam cần giám sát tình hình lạm phát chặt chẽ, đặc biệt khi giá hàng hóa tiếp tục tăng ở mức cao trong năm 2010”.

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Ng. Trọng Tài

    16:42 (GMT+7) - Thứ Năm, 18/3/2010

    Theo tôi trong những hoàn cảnh như hiện nay sẽ rất khó để lý giải đúng sai theo cách thông thường.

    Nên nhớ rằng chúng ta đang trong một thời kỳ khó khăn nghiêm trọng của kinh tế tài chính toàn cầu và chúng ta lại đang "gồng mình" để chống chọi và đạt cho được mục tiêu dài hơi hơn.

    Tôi rất tán đồng cách lựa chọn của các nhà quản lý là lấy duy trì tăng trưởng kinh tế theo cam kết làm đích hướng, còn việc chống lạm phát đừng quá lo lắng, bởi chúng ta đã có kinh nghiệm về kiẻm soát lạm phát trong nhièu năm rồi?!

    Điều tôi quan tâm hiện nay là có sự phối hợp hiệu quả giữa 2 công cụ chính sách hay không mà thôi. Kinh nghiệm cho thấy rằng trong các tình huống được xem là "có vấn đề" của nền kinh tế, thì 2 công cụ này nên có sự phối kết hợp đồng bộ nhau thì tình hình sẽ luôn trong tầm kiểm soát.

    Hơn nữa, nên lưu ý là trong tình hình có nhiều diễn biến phức tạp, chúng ta nên hết sức thận trọng khi viết và nói về một vấn đề hết sức nhạy cảm là tiền tệ.

    Năm 2007 - 2008 tình hình diễn biến phức tạp hơn hiện nay, nhưng ta vẫn thoát ra một cách ngọan mục. Theo tôi, hiện nay diễn biến thuận lợi hơn nhiều.

  • Lê Việt Hưng

    22:19 (GMT+7) - Thứ Tư, 17/3/2010

    Tôi ủng hộ ý kiến dỡ bỏ trần lãi suất của tác giả vì lý do sau:

    Với tốc độ lạm phát tăng cao như hiện nay, dòng tiền từ dân sẽ không chảy vào ngân hàng buộc Nhà Nước phải phát hành thêm tiền mới để đảm bảo tính thanh khoản cho nền kinh tế, tạo ra sự mất giá của tiền đồng VN.

    Khi VND mất giá người dân phải mua vàng,bất động sản ,nhằm giữ giá trị đồng tiền, các doanh nghiệp giảm đầu tư sản xuất kinh doanh do giá đầu vào tăng cao, nguyên vật liệu không ổn định, khó hạch toán kinh tế; các doanh nghiệp xây dựng không dám ký kết hợp đồng do nguyên vật liệu không ổn định.

  • Ckv

    05:55 (GMT+7) - Thứ Tư, 17/3/2010

    Xin giải thích cho những thắc mắc của bạn đọc Khanhnam:

    - Thứ nhất, nếu không bỏ trần lãi suất tiền gửi, các ngân hàng sẽ khó khăn trong việc huy động vốn, hậu quả là không có nguồn cho vay ra.

    - Thứ hai, nếu cho rằng không có trần cho vay thì các doanh nghiệp không thể huy động được vốn từ ngân hàng thì lại càng sai. Vì xét cho cùng ngân hàng cũng là tổ chức hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, mà cho vay là một trong những hoạt động đó. Không có chuyện ngân hàng không cho vay ra mà chỉ có việc cho vay phải đảm bảo an toàn, hiệu quả.

    Bạn nói rằng chỉ có doanh nghiệp độc quyền nhà nước hoặc các doanh nghiệp kinh doanh mang tính rủi ro cao mới tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng chứng tỏ bạn đang không tham gia thị trường (chỉ đứng ở bên ngoài nhìn và nghe) hoặc bạn đang rút ra kết luận từ việc bạn đang quan hệ với một tổ chức tín dụng nào đó. Nếu vậy tôi khuyên bạn nên tìm hiểu và chuyển quan hệ sang tổ chức tín dụng khác đi.

    - Thứ ba, cơ chế lãi suất thoả thuận không phải cơ chế "xin cho", mà đây là cơ chế thị trường, theo đó giá cả hình thành khi cung và cầu gặp nhau. Ngân hàng thương mại hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận nên sẽ không "cho" những người đi "xin" nào hết.

  • Hoàng Ngọc Âu

    02:35 (GMT+7) - Thứ Tư, 17/3/2010

    Đây là một bài hay. Người viết chuyển tải nội dung rất rõ ràng, có hệ thống và công phu nữa.

    Tuy nhiên có một số lập luận của tác giả trong bài viết này theo tôi chưa được thoả đáng.

    Ví dụ:

    "Theo người viết, lãi suất tiền gửi nên được điều chỉnh tăng, để khuyến khích người dân gửi tiền vào hệ thống ngân hàng và lãi suất cho vay cao, dẫn tới giảm tăng trưởng tín dụng và từ đó cải thiện được chỉ số tổng tín dụng trên tổng tiền gửi".

    Theo tôi trong điều kiện NHNN đang quy định LS trần tiền gửi 10,5% dẫn tới tăng trưởng huy động tiền gửi âm hoặc bằng 0 trong 3 tháng vừa qua, từ đó sẽ tạo ra độ khan hiếm về tín dụng trong hệ thống NHTM. Điều này cũng sẽ dẫn đến việc đẩy LS cho vay lên cao. Như tôi biết mới đây nhất LS cho vay của 1 số NH đã lên đến 18%.

    Vậy lập luận như trên của tác giả trong bối cảnh hiện nay liệu có hoàn toàn đúng?

  • Trọng Tài

    20:00 (GMT+7) - Thứ Ba, 16/3/2010

    Theo tôi, nếu Ngân Hàng Nhà Nước ổn định được tỷ giá USD, còn vàng thì cho 8 Ngân Hàng Thương Mại và 3 Công Ty Kinh Doanh Vàng được xuất nhập khẩu vàng để giá vàng tự do tăng giảm theo giá thế giới thì người dân sẽ tin tưởng vào tiền Đồng ngay.

    Khi người dân đã tin tưởng vào giá trị của tiền Đồng thì tiền gởi tiết kiệm sẽ tự động chảy mạnh vào các NHTM dù lãi suất giảm dưới 10%/năm.

    "Lấy tiểu ngã hy sinh cho đại ngã", thiểu số phải hy sinh tiện ích để phục vụ đại đa số nhân dân, Chính Phủ cần giảm bớt chi tiêu xây dựng các cơ quan, giảm chi tiêu mua sắm xe con, giảm bớt hội họp..., đồng thời tăng Thuế Trước Bạ xe du lịch từ 4 đến 15 chỗ ngồi để giảm số ngoại tệ thâm hụt.

  • Khanhnam

    17:59 (GMT+7) - Thứ Ba, 16/3/2010

    Bài viết này có một điểm hơi khó hiểu:

    Trong khi tác giả yêu cầu tăng lãi suất tiền gửi lại sử dụng lý do lãi suất cho Vay hiện đang ở mức cao. Thử đặt giả thiết nếu bỏ trần lãi suất hoặc tăng trần lãi suất huy động thì hệ quả là gì? Sẽ có một cuộc đua lãi suất lên trần mới (nếu có trần) hoặc lên mức cao hơn trong năm 2008 đã từng có. Và vì không có trần cho Vay thì các doanh nghiệp chắc chắn sẽ không thể huy động được vốn từ ngân hàng (ngoài các doanh nghiệp Độc quyền nhà nước, hoặc các doanh nghiệp kinh doanh mang tính rủi ro cao).

    Như vậy hệ quả sau một năm của chính sách này sẽ chỉ là tồn tại một nền kinh tế với rất nhiều doanh nghiệp không còn mang tính bền vững, nhiều tham nhũng do cơ chế xin cho (thoả thuận) và các ngành kinh doanh rủi ro cao (Lợi nhuận không từ dịch vụ sản xuất mà từ Vàng, Chứng khoán và Nhà đất)

    Điều cần làm ở đây là làm sao, hút được vốn trong dân, ổn định lạm phát, ổn định chính sách lãi suất để phát triển bền vững. Chúng ta không đánh đổi phát triển bằng mọi giá nhưng cũng không nên siết chặt để còn lại một nên kinh tế đầy độc tố.

    Tại sao chúng ta không tư duy theo một hướng mở những doanh nghiệp đầu tư lợi nhuận cao và công khai hút vốn từ Dân cho Hạ tầng, BDS, Dịch vụ, Đào tạo. Với thông tin công khai, minh bạch và có lợi cho người dân thì tôi nghĩ tự nhiên tiền sẽ chảy vào doanh nghiệp có ích mà không phải lo quá nhiều vào chính sách tiền tệ. Còn với chính sách thay đổi liên tục thì tâm lý 100% người dân chẳng biết đầu tư vào đâu hơn là Vàng và USD.

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Tài chính

Nguyễn Hoàng Long

10:19 (GMT+7) - Thứ Năm, 9/2/2012

Trong cơ chế thị trường, các ngân hàng thương mại cũng là những doanh nghiệp hoạt động trong môi trường cạnh tranh. Việc các doanh...

Trong bài: “Phải giải quyết thanh khoản ngân hàng trong quý 1/2012” (2 ý kiến)

Khánh Hà

09:17 (GMT+7) - Thứ Năm, 9/2/2012

Một điều dễ hiểu khi các NH không muốn giảm lãi suất cho vay và hết kêu ca về thanh khoản là: có trần lãi...

Trong bài: “Phải giải quyết thanh khoản ngân hàng trong quý 1/2012” (2 ý kiến)

Dang Hai

08:37 (GMT+7) - Thứ Năm, 9/2/2012

Trong trường hợp này theo tôi ngân hàng là người chịu thiệt nhất. Cán bộ pháp chế của ngân hàng này nói chung là yếu...

Trong bài: Cực hình từ tín dụng “đen” (35 ý kiến)

Thiên An Bình

11:55 (GMT+7) - Thứ Tư, 8/2/2012

Vàng có thể lên nữa tùy theo kinh tế thế giới khỏe hay yếu nhưng đô la không thể lên được mà có nhích lên...

Trong bài: Giá vàng trong nước đuối sức khi USD tự do lao dốc mạnh (1 ý kiến)

Pvd

10:37 (GMT+7) - Thứ Tư, 8/2/2012

Cứ “chăm chăm” nhìn vào vốn huy động đầu vào là không ổn! Ngẫm lại thấy ý Thiên An Bình quả là rất chí lý. Dẫu tín...

Trong bài: Phía sau 2,8 triệu tỷ đồng vốn (2 ý kiến)