Mở rộng cơ chế thỏa thuận: Dấu hỏi về biến động lãi suất

MINH ĐỨC

05/04/2010 13:43 (GMT+7)

picture Ngân hàng Nhà nước đã và đang thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ để ổn định lãi suất thị trường theo xu hướng giảm dần.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Dự kiến trong tuần này, Ngân hàng Nhà nước sẽ bắt tay xây dựng văn bản hướng dẫn việc thực hiện cho vay các khoản ngắn hạn theo lãi suất thỏa thuận, theo định hướng Chính phủ đã đưa ra tại phiên họp thường kỳ tháng 3 vừa qua.

Đầu ra được mở, cả ngắn hạn và trung dài hạn, trần lãi suất huy động cũng chờ đợi được gỡ bỏ để tạo điều kiện cho các ngân hàng cân đối trong hoạt động.

Nhưng mối quan tâm lúc này là khi có cơ chế mở đó, lãi suất trên thị trường liệu có tạo ra những biến động mạnh, thậm chí leo thang như từng diễn ra nửa đầu năm 2008?

Trả lời báo chí tuần qua về khả năng này, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu, cho rằng lãi suất huy động và cho vay của các ngân hàng thương mại hiện đang ở mức cao, xét theo lãi suất thực dương và khả năng hấp thụ của nền kinh tế. Ngân hàng Nhà nước đã và đang thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ để ổn định lãi suất thị trường theo xu hướng giảm dần.

Cụ thể, nhà điều hành đã và đang tích cực hỗ trợ thanh khoản đối với ngân hàng thương mại với kỳ hạn dài hơn, khối lượng lớn hơn so với trước đây; hỗ trợ thông qua tái cấp vốn và hoán đổi ngoại tệ; chỉ đạo các ngân hàng thương mại Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn và điều chỉnh lãi suất giảm dần phù hợp diễn biến nền kinh tế.

Về phía ngân hàng thương mại, TS. Nguyễn Trí Hiếu, thành viên Hội đồng Quản trị độc lập của Ngân hàng An Bình (ABBank), cho rằng “việc Ngân hàng Nhà nước sẽ bỏ trần lãi suất huy động và bỏ luôn cả trần lãi suất cho vay ngắn hạn là một quyết định được thị trường tài chính chào đón và hoan nghênh”.

Ông Hiếu nhận định: với quyết định bỏ lãi suất trần cho cả cho vay ngắn hạn và huy động tiền gửi của dân chúng và doanh nghiệp, mặt bằng lãi suất được dự đoán sẽ tăng cao và có tác dụng trực tiếp đến hoạt động của các ngân hàng. Ngân hàng có thể thu hút một lượng tiến nhàn rỗi đáng kể của dân cư và doanh nghiệp vì lãi suất huy động cao, đồng thời cũng thuận lợi hơn khi cho vay vì không bị kiềm chế trên danh nghĩa bởi mức lãi suất trần.

“Trên phương diện vĩ mô, điều này giúp thị trường ngân hàng trở nên minh bạch hơn, đóng góp cho sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường ngân hàng”, ông Hiếu nói.

Tuy nhiên, đại diện ABBank cũng đặt vấn đề về lo ngại từ việc bỏ trần có thể đẩy mặt bằng lãi suất lên ngoài tầm kiểm soát. Và theo ông Hiếu, điều này có thể xảy ra, nhưng nếu để thị trường tự điều tiết thì sau một thời gian biến động sẽ tìm được điểm quân bình (equilibrium). Vai trò của Ngân hàng Nhà nước lúc này không còn mang tính can thiệp hành chính, mà mang tính chỉ đạo dựa vào các công cụ của chính sách tiền tệ như thị trường mở, lãi suất chiết khấu, dự trữ bắt buộc để điều tiết thị trường và hướng thị trường đến lãi suất mục tiêu.

Cũng theo đại diện này, “một điều đáng lo ngại khác là các doanh nghiệp vì thiếu vốn nên phải vay ngân hàng, nhưng thực tế nhiều doanh nghiệp thua lỗ vì phải trả lãi quá cao. Vì thế, về lâu dài Ngân hàng Nhà nước phải tìm cách đưa mặt bặng lãi suất xuống một mức hợp lý hơn, qua việc điều chính cung tiền. Lãi suất cho vay hiện nay quá cao, bất lợi cho các doanh nghiệp vay vốn từ ngân hàng. Mặt bằng lãi suất cho vay cần phải được giảm xuống dưới 10%/năm để các doanh nghiệp có khả năng trả lãi đồng thời tạo lợi nhuận cho chính mình, một tiền đề cho sự lành manh của cả nền kinh tế”.

Cùng quan điểm trên, TS. Lê Thẩm Dương, Trưởng khoa Quản trị Kinh doanh – Đại học Ngân hàng Tp.HCM, cho rằng việc mở cơ chế lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay ngắn hạn là “quá đúng” và lẽ ra nên triển khai sớm hơn; việc “thả” lãi suất tiền gửi trước sau rồi cũng thực hiện.

“Những điều chỉnh này là quá đúng, thậm chí đến giờ mới thực hiện là hơi trễ. Vì sao? Vì trước đó anh phải nói dối. Anh cho vay ngắn hạn nhưng chỉ cần “lách” thêm 1 ngày là thành trung hạn để theo lãi suất thỏa thuận. Thứ hai, cần thực hiện cơ chế đó để mạch máu vốn được thông suốt”, TS. Lê Thẩm Dương bình luận.

Yêu cầu mà chuyên gia này đặt ra là cần xem xét việc thực hiện những điều chỉnh trên trong bối cảnh mới. Theo ông, nếu năm 2008 là năm căng thẳng chống lạm phát, năm 2009 là năm tập trung cho tăng trưởng GDP, thì năm 2010 là năm của cân đối hai mục tiêu giữ lạm phát ở mức chấp nhận được và hỗ trợ tăng trưởng ổn định. Từ đây, chính sách tiền tệ cần xem xét để nới lỏng hơn và phối hợp đồng bộ với các giải pháp khác.

TS. Dương phân tích: “Tất nhiên khi “thả” lãi suất thì sẽ lo biến động, leo thang. Nhưng thị trường sẽ điều chỉnh. Ngân hàng Nhà nước điều tiết thông qua việc nới lỏng chính sách tiền tệ ở mức độ nhất định, tăng cung tiền, tăng hỗ trợ qua thị trường mở… Bên cạnh đó cần phối hợp chặt chẽ với việc kiềm chế giá cả các mặt hàng trọng yếu như thời gian qua; cần xem xét lại chỉ số ICOR để kiểm soát và tăng cường hiệu quả đầu tư …

Tôi tin rằng chủ trương Chính phủ vừa đưa ra sẽ thực hiện thành công. Ngân hàng Nhà nước sẽ điều tiết cùng các ngân hàng thương mại hạ mặt bằng lãi suất. Chứ lãi vay 18%/năm thì tỷ suất lợi nhuận của công ty phải khoảng 25% mới đảm bảo sinh lãi, mấy công ty nào chịu được những mức lãi suất cao như thế?”.

Tất nhiên, chuyên gia này cho rằng việc hạ lãi suất và nới lỏng chính sách tiền tệ cũng ở mức độ nhất định, cân bằng với mục tiêu chống lạm phát. Và theo ông, năm nay nếu giữ được lạm phát khoảng 9% đã là một thành công.

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Trần Điền

    08:55 (GMT+7) - Thứ Tư, 7/4/2010

    Chuyên gia cũng chỉ là các chuyên gia, họ không phải là các cá thể tham gia trực tiếp vào thị trường, nên thường nhiều khi cách đặt vấn đề và các cách lý giải vấn đề của họ cũng chỉ thuần túy là để tham khảo mà thôi.

  • Đào Văn Độ

    08:43 (GMT+7) - Thứ Ba, 6/4/2010

    Việc thị trường tự điều tiết lãi suất là khái niệm mang tính lý thuyết nhiều hơn là thực tiễn ở Việt Nam.

    Thứ nhất về phía doanh nghiệp đi vay, đa số các doanh nghiệp nhỏ và vừa có số vốn vay ngân hàng bằng hoặc nhỉnh hơn vốn chủ sở hữu hiện có. Khi chi phí đi vay tăng lên họ không thể ngay lập tức cắt giảm nguồn vốn vay này mà mất rất nhiều thời gian để điều chỉnh kế hoạch và nhất là quy mô kinh doanh.

    Khả năng chuyển sang vay một ngân hàng khác có lãi suất rẻ hơn cũng không đơn giản như đổi nhà cung cấp đầu vào khác. Khi đi vay doanh nghiệp phải thế chấp hầu hết các tài sản của mình ở ngân hàng. Để vay tại tổ chức tín dụng mới doanh nghiệp buộc phải trả hết nợ tại ngân hàng cũ.

    Trong khoảng thời gian trống này doanh nghiệp buộc phải huy động tín dụng đen với lãi suất cắt cổ. Rủi ro này đi kèm với một loạt vấn đề khác khi đặt mối quan hệ với ngân hàng mới khiến doanh nghiệp không dễ rời bỏ ngân hàng mà mình đã vay mặc dù phải chịu lãi suất cao hơn.

    Thứ hai về phía người gửi tiền, lãi suất yêu cầu không phải là đảm bảo lãi suất thực dương mà là lãi suất mà ở đó người gửi tối ưu hóa lợi ích của mình. Khi dự đoán lạm phát sẽ cao thì người gửi tiền có xu hướng chuyển sang dự trữ bằng vàng, USD… Giá bất động sản tăng nhanh cũng hút một lượng tiền lớn đổ.

    Hoạt động của sàn vàng trong thời gian vừa qua cho thấy sự chuyển dịch mạnh mẽ của dòng vốn đến những nơi có kỳ vọng sinh lời cao hơn. Vì vậy điều cốt lõi trong việc duy trì sự ổn định trong đầu vào của các ngân hàng là Nhà nước phải tạo môi trường kinh tế ổn định, tránh những cuộc di cư ồ ạt của luồng tiền.

    Từ đây ta có thể thấy rằng việc thỏa thuận lãi suất đầu ra sẽ làm tăng lãi suất cho vay, bỏ trần lãi suất huy động sẽ làm tăng lãi suất đầu vào. Thị trường có thể tự điều chỉnh nhưng độ trễ là quá lớn. Nhà nước nên đứng ra điều tiết sự méo mó này của thị trường.

  • Van Cao

    15:55 (GMT+7) - Thứ Hai, 5/4/2010

    Chúng ta thường nói tôn trọng thị trường nhưng thực ra chưa hiểu hết thị trường. Trả lại cơ chế thỏa thuận cho lãi suất là việc phải làm.

    Lâu nay NHNN cứ vòng vo mãi, dẫn dến gây nhiều hậu quả, nhưng hậu quả lớn nhất vẫn là méo mó thị trường, cung cầu vốn không gặp nhau, đẩy lãi suất lên một cách vô lối. Nếu đúng nghĩa thị trường thì đến một lúc nào đó doanh nghiệp sẽ không muốn vay nữa, lựa chọn câc nguồn vốn khác, và lãi suất tất yếu sẽ giảm.

    Không nên lo lắng rằng quay trở về thỏa thuận lãi suất sẽ tăng. Thị trường luôn chứng minh rằng nó đúng và hợp lý, ít nhất là với số đông.

  • Bien Phan

    15:47 (GMT+7) - Thứ Hai, 5/4/2010

    Tôi cho rằng việc dỡ bỏ trần lãi suất hay điều chỉnh trần lãi suất cũng chỉ để hợp thức hóa những vấn đề thực tế đang diễn ra tại NHTM. Về cơ bản không có nhiều tác động tích cực đến công tác huy động vốn và cho vay trong tình hình hiện nay vì thực sự không làm thay đổi cơ cấu kỳ hạn cũng như giảm mặt bằng lãi suất huy động.

    Ngược lại, nếu không xử lý khéo sẽ tạo ra cuộc đua giữ chân khách hàng và hệ quả làm lãi suất huy động tăng lên từ đó làm khó cho đơn vị vay vốn vì đa phần lãi suất cho vay được thả nổi 3 tháng/lần.

    Trong bối cảnh hiện nay, việc NHNN cho rằng cần duy trì lãi suất cho vay thấp thể hiện cam kết nguồn cung vốn cho thị trường sẽ được đẩy mạnh trong thời gian tới. Tuy nhiên để thành công trong việc hạ LS thị trường NHNN cần phải tăng cung tiền một cách có trọng điểm, có nghĩa để nhận được những nguồn vốn này NHTM phải đáp ứng tiêu chí về lĩnh vực sử dụng vốn chứ không phải NHNN bơm tiền ra cho NHTM thích cho vay lĩnh vực nào cũng được.

    Ngoài ra lượng vốn bơm ra với một NHTM được tính toán trên cơ sở nguồn vốn khả dụng của chính NHTM đó để đảm bảo việc cho vay chỉ được tiếp tục với các NHTM đã huy động được vốn nhưng do kỳ hạn thấp nên không thể cho vay trung dài hạn (ít vốn TDH thì lãi suất cho vay phải cao).

    Đây thực chất là việc swaps kỳ hạn đối với các nguồn vốn huy động. Khi đó NHNN cho NHTM vay kỳ hạn dài trên cơ sở đảm bảo bằng các khoản tiền có kỳ hạn ngắn. Theo quan điểm cá nhân tôi đây chính là việc kết hợp giữa việc bơm tiền ra và hút tiền vào nhịp nhàng để không ảnh hưởng quá lớn đến cung tiền trong nền kinh tế và từ đó giảm thiểu tác động đến lạm phát.

    Một khi NHNN tính toán chặt chẽ để thực hiện được biện pháp trên và với việc tăng lượng cung tiền có chi phí thấp thì không lý do gì NHTM lại đẩy mạnh lãi suất để huy động vốn trong khi NHNN có thể đáp ứng được nhu cầu này, ngoài ra sẽ không dễ cho các NHTM lấy tiền của NHNN nếu việc đầu tư của anh không có trọng điểm theo đúng hướng phát triển của nền kinh tế.

    Làm được tốt điều này sẽ giải quyết hài hòa nhiều lợi ích, tất nhiên không phải là hoàn hảo nhưng cũng là giải pháp chấp nhận được.

  • Trần Hoàng Anh

    15:38 (GMT+7) - Thứ Hai, 5/4/2010

    Theo tôi Ngân hàng Nhà nước nên giữ trần lãi suất tiền gửi như hiện nay và nên điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản xuống 7,5%.

    Tác giả Minh Đức đã trích dẫn ý kiến của một vài nhà khoa học và nhà lãnh đạo ngân hàng đều có ý kiến khuyến khích ngân hàng nhà nước nên bỏ trần lãi suất huy động và bỏ luôn trần lãi suất cho vay. Việc làm đó theo tôi là đúng nhưng không phải vào thời điểm hiện nay, chí ít là cho đến hết năm 2011, vì nền kinh tế nước ta vừa mới bước đầu thoát ra khỏi khủng hoảng của nền kinh tế thế giới, đang như người ốm vừa khỏi, các doanh nghiệp VN đang đương đầu với bao khó khăn thách thức.

    Tôi thống nhất với quan điểm của Minh Đức là nếu lãi suất 18/% thì doanh nghiệp phải có tỉ suất lợi nhuận từ 25% trở lên với có lãi và rất rất ít doanh nghiệp VN đạt được tỉ suất lợi nhuận 25%.

    Ngân hàng Nhà nước nên cân nhắc việc thả nổi lãi suất. Bài học nhãn tiền là về việc thả nổi giá xăng dầu mới có hơn 3 tháng nhưng các doanh nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam đã không chịu nổi, buộc lòng Bộ Tài chính đã phải có văn bản khống chế lại, khi tăng giá xăng dầu phải xin phép liên bộ.

  • NT

    14:35 (GMT+7) - Thứ Hai, 5/4/2010

    Về mặt lý thuyết, các chuyên gia nói rất chuẩn, nhưng điều hành thực tiễn là cả một vấn đề nghệ thuật, dung hòa các lợi ích, phù hợp với pháp luật hiện hành, năng lực thực tiễn của NHTW và tính độc lập của NHTW.

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Tài chính

Thu Thảo

22:24 (GMT+7) - Thứ Năm, 9/2/2012

Cảm ơn tác giả vì bài viết này! Nó thực sự hay và bổ ích với tôi!...

Trong bài: Khủng hoảng nợ dưới chuẩn tại Mỹ: Từ A đến Z (13 ý kiến)

Nguyễn Hoàng Long

10:19 (GMT+7) - Thứ Năm, 9/2/2012

Trong cơ chế thị trường, các ngân hàng thương mại cũng là những doanh nghiệp hoạt động trong môi trường cạnh tranh. Việc các doanh...

Trong bài: “Phải giải quyết thanh khoản ngân hàng trong quý 1/2012” (2 ý kiến)

Khánh Hà

09:17 (GMT+7) - Thứ Năm, 9/2/2012

Một điều dễ hiểu khi các NH không muốn giảm lãi suất cho vay và hết kêu ca về thanh khoản là: có trần lãi...

Trong bài: “Phải giải quyết thanh khoản ngân hàng trong quý 1/2012” (2 ý kiến)

Dang Hai

08:37 (GMT+7) - Thứ Năm, 9/2/2012

Trong trường hợp này theo tôi ngân hàng là người chịu thiệt nhất. Cán bộ pháp chế của ngân hàng này nói chung là yếu...

Trong bài: Cực hình từ tín dụng “đen” (35 ý kiến)

Thiên An Bình

11:55 (GMT+7) - Thứ Tư, 8/2/2012

Vàng có thể lên nữa tùy theo kinh tế thế giới khỏe hay yếu nhưng đô la không thể lên được mà có nhích lên...

Trong bài: Giá vàng trong nước đuối sức khi USD tự do lao dốc mạnh (1 ý kiến)