Chuyên gia WB “hiến kế”: Việt Nam nên tăng lãi suất

ANH QUÂN

08/04/2010 11:33 (GMT+7)

picture Theo hai vị chuyên gia kinh tế trưởng của WB tại khu vực Đông Á - Thái Bình Dương và tại Việt Nam, cái Việt Nam đang cần là một chính sách tín dụng thắt chặt, với lãi suất tiền đồng được nâng lên tương đương với tốc độ lạm phát.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
“Một năm trước, chúng tôi có thể coi là những người đơn độc khi tỏ ra lạc quan về triển vọng kinh tế Việt Nam”.

Phát biểu như trên, chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam Martin Rama không quên đúc kết trong 7 năm nhiệm kỳ của mình, chưa bao giờ ông bi quan về tình hình của Việt Nam.

Những phân tích, đánh giá của ông được nghiên cứu và sử dụng trong báo cáo cập nhật tình hình kinh tế Đông Á - Thái Bình Dương, do WB công bố ngày 7/4, cho thấy Việt Nam đã thoát ra khỏi suy thoái với vị thế tốt hơn nhiều so với các nước trong khu vực, tuy vẫn còn tồn tại những rủi ro vĩ mô như tái lạm phát, căng thẳng ngoại tệ, lãi suất lên cao…

Lực hút vốn ngoại vẫn lớn

Nói về trường hợp Việt Nam, chuyên gia kinh tế trưởng của WB tại khu vực Đông Á - Thái Bình Dương, ông Vikram Nehru, nhận xét: “Tăng trưởng của Việt Nam trong năm ngoái, mặc dù chịu những tác động từ cú sốc bên ngoài, vẫn ở tình trạng tốt hơn các quốc gia khác”.

GDP năm 2009 của Việt Nam đã tăng 5,3%, có nguyên nhân ngành xây dựng tăng trưởng cao nhờ chương trình kích cầu tương đối lớn của Chính phủ.

Chi tiêu ngân sách lớn, tăng trưởng tín dụng nhanh chóng, cộng với việc ổn định tâm lý cho các doanh nghiệp nhà nước đã khiến tổng đầu tư tăng mạnh trong năm 2009, đẩy tỷ lệ đầu tư trên GDP lên tới 42,8%.

Sự phục hồi kinh tế cũng được củng cố trong những tháng gần đây, với GDP tăng 6,9% trong quý cuối năm 2009 so với cùng kỳ năm trước. “Tốc độ tăng trưởng khoảng 6% vào quý đầu năm 2010 cũng là đáng khích lệ”, báo cáo của WB nhận định.

Trong khi đó về căn bản, cân bằng đối ngoại của Việt Nam khá bền vững tại thời điểm kết thúc năm 2009. Xuất khẩu đã giảm 9,7% kim ngạch trong năm 2009, nhưng nhập khẩu giảm nhiều hơn, tới 14,7%, giúp cho thâm hụt tài khoản vãng lai giảm xuống còn 7,8% GDP (năm 2008 tương đương 11,9% GDP).

Các luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước tính giảm khoảng 13%. Đây là mức giảm không đáng kể trong một năm đầy sóng gió, theo đánh giá của WB. Cũng trong năm 2009, thặng dư tài khoản vốn hầu như đã bù đắp được cho thâm hụt trong tài khoản vãng lai.

“Việt Nam vẫn là địa điểm tốt để thu hút đồng vốn từ các quốc gia khác”, Martin Rama nói.

Theo chuyên gia này, hiện có khoảng 5.000 tỷ USD có thể được đổ vào các nền kinh tế, nhưng có rất nhiều khoản tiền không thanh khoản, đang nằm trong các tài khoản ngân hàng để chờ đón cơ hội đầu tư. “Sự ổn định chính là cách để thuyết phục các quốc gia khác rằng Việt Nam là điểm thu hút đầu tư tốt. Nửa đầu năm nay có thể chưa tốt lắm, nhưng nửa cuối có thể khả quan hơn”.

Ông cũng dự báo, tỷ lệ tăng trưởng 6,5% trong năm nay là hoàn toàn khả thi.

Chưa thoát nguy cơ lạm phát, thâm hụt

Tuy nhiên, chính việc dựa vào cầu nội địa để hỗ trợ cho hoạt động kinh tế trong năm 2009 đã gây nên những áp lực lên thâm hụt cán cân thanh toán.

Báo cáo của WB lưu ý, hạng mục sai số lớn một cách không bình thường trong cán cân thanh toán (chiếm 10% GDP), và hiện tượng mua bán USD vượt ra ngoài biên độ chính thức trên thị trường tự do đã cho thấy một số dấu hiệu có sự mất lòng tin vào đồng nội tệ.

Hàng tỷ USD đã được các hộ gia đình, doanh nghiệp găm giữ với mong muốn bảo toàn giá trị tài sản của họ. Theo Martin Rama, đây là một trong các nguyên nhân dẫn đến sai số lớn trong cán cân thanh toán.

Trong khi đó, lạm phát có dấu hiệu tăng trở lại kể từ quý cuối cùng của năm 2009. “Đổ thêm dầu vào lửa”, giá nguyên vật liệu trên thị trường quốc tế cũng tăng cao, việc điều chỉnh tỷ giá VND/USD và giá năng lượng đều là những nhân tố làm cho tỉ lệ lạm phát cao hơn.

Áp lực lạm phát có thể thấy rõ hơn trên thị trường tài sản, với chỉ số chứng khoán có xu thế đi lên trong nhiều tháng liên tục, giá vàng trong nước tăng lên và giá đất cũng tăng cao.

Trong khi đó, việc hạ lãi suất xuống quá thấp cũng làm cho các đợt phát hành trái phiếu chính phủ trở nên kém hấp dẫn. Mặc dù tốc độ giải ngân ODA được đẩy nhanh đáng kể và Chính phủ đã rút bớt các khoản tiền gửi tại các ngân hàng thương mại, song việc bù đắp thâm hụt ngân sách vẫn ngày càng trở nên khó khăn hơn.

“Những biến động này cho thấy, chính sách tài khóa và tiền tệ mở rộng của chính phủ kể từ năm 2008 đã sắp đi tới giới hạn. Với nền kinh tế toàn cầu đang phục hồi tốt hơn nhiều so với năm 2009, sắp đến lúc Việt Nam cần rút dần các biện pháp kích thích kinh tế của mình”, báo cáo của WB khuyến nghị.

Giải pháp là tăng lãi suất?

Theo hai vị chuyên gia kinh tế trưởng của WB tại khu vực Đông Á - Thái Bình Dương và tại Việt Nam, cái Việt Nam đang cần là một chính sách tín dụng thắt chặt, với lãi suất tiền đồng được nâng lên tương đương với tốc độ lạm phát.

Nêu quan điểm về giải pháp mà Việt Nam có thể sử dụng như “một mũi tên trúng hai đích”, ông Vikram Nehru cho rằng, có một cách có thể giải quyết vấn đề lạm phát đang gia tăng và thâm hụt tài khoản đối ngoại, đó là tăng lãi suất.

“Điều này sẽ đem lại hai kết quả. Thứ nhất, nó sẽ làm nguội lại một chút lạm phát. Thứ hai, nó sẽ tạo ra dòng vốn quay trở lại nền kinh tế, tạo xu hướng rời bỏ đồng USD để chuyển sang tiền VND, qua đó, dự trữ ngoại hối cũng có cơ hội tích lũy lại”, ông cho biết.

Nói rõ hơn quan điểm này, ông Martin Rama giải thích, việc tăng lãi suất đến mức độ hợp lý có thể kéo dòng tiền quay trở lại các ngân hàng, làm giảm áp lực lạm phát. Hơn nữa, khi người dân và doanh nghiệp chuyển từ dự trữ USD sang tiền gửi VND cũng làm giảm căng thẳng tỷ giá.

"Tôi nghĩ rằng lãi suất cho vay có thể ở giữa mức 12% và 18%/năm, còn lãi suất huy động sẽ thấp hơn tương ứng một khoảng đủ để các ngân hàng kinh doanh có lãi. Tuy nhiên, rất khó nói chính xác là bao nhiêu", ông tính toán.

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Gogogo

    10:01 (GMT+7) - Thứ Sáu, 9/4/2010

    Rất đồng tình với bạn Chem, nhận xét của các chuyên gia WB là hoàn toàn chính xác và chứng tỏ sự thấu hiểu thị trường Việt Nam.

    Tuy nhiên, rõ ràng vấn đề là thời điểm tăng lãi suất mới là quan trọng nhất nhưng hoàn toàn không được nhắc tới, và đây chính là điều mà tôi cho là quan trọng nhất.

    Thứ nhất là trong khi chính phủ VN vừa có những động thái mang lại sự bình ổn của thị trường tiền tệ thì nay tăng lãi suất chẳng phải sẽ làm cho thị trường lại lao đao như vậy là tự giẫm chân lên mình rồi.

    Thứ hai là tình hình lạm phát của VN không có gì đáng ngại, có chăng là chuyện của 1-2 năm nữa vậy thì không có lý do gì lại gấp rút sử dụng công cụ tài chính một cách lãng phí như thế.

    Thứ ba là thực chất điều mà VN cần làm là thúc đẩy phát triển kinh tế, vì thế tôi cho là trong ngắn hạn cần thúc đẩy đưa tiền vào lưu thông nhưng tránh lạm phát, tăng GDP là vấn đề tiên quyết trong năm 2010 này. Việc lý luận tăng lãi suất cơ bản làm giảm nguy cơ đầu cơ USD và tăng dòng tiền VND vào ngân hàng là hoàn toàn chủ quan.

    Nhưng dù sao cũng rất cảm ơn những góp ý bổ ích về hướng giải quyết của các chuyên gia WB cùng với bài viết này.

  • Vũ Tiến Dũng

    22:45 (GMT+7) - Thứ Năm, 8/4/2010

    Tôi cho rằng đại diện World Bank nói có lý lắm! Tuy nhiên chính phủ Việt Nam cần điều hành lãi suất thật linh hoạt để phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam là điều rất quan trọng. Tăng lãi suất sẽ thu hút được dòng vốn trở lại nền kinh tế phục vụ sản xuất hiệu quả cao, nó sẽ không chảy vào bất động sản hay chứng khoán vì lý do khá đơn giản: gửi NH lãi suất cao hơn! Tôi nghĩ người dân chỉ hiểu đơn giản vậy thôi!

  • Chem

    20:07 (GMT+7) - Thứ Năm, 8/4/2010

    Thật lòng xin lỗi bạn Công Bình và anh Xuân Đức, các bác nhận xét chán quá.

    Ông Martin nhận xét và hiểu rất rõ thị trường tài chính, kinh tế Việt Nam mới đưa ra những đề nghị như vậy. Hơn nữa, thực tế chúng ta (toàn bộ các thành phần tham gia thị trường tài chính, kinh tế, bao gồm cả Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước) thực ra cũng mong muốn dần dần hiện thực hóa đề nghị của ông Martin này.

    Tính em nói thẳng, các bác bỏ qua nhé.

  • Cong Binh

    17:35 (GMT+7) - Thứ Năm, 8/4/2010

    Tôi rất cảm kích trước sự nhiệt tình của đại diện World Bank. Tuy nhiên các ông cần phải hiểu tình hình Việt Nam thật kỹ lưỡng trước khi "hiến kế", chứ "hiến kế" lung tung vậy thì chết. Tôi tưởng bệnh quan liêu chỉ xảy ra ở cấp quốc gia thôi chứ đâu ngờ bệnh này còn xảy ra ở cấp độ toàn cầu.

  • Xuanduc

    17:13 (GMT+7) - Thứ Năm, 8/4/2010

    Nếu làm theo lời khuyên của hai ông WB tăng lãi suất thì giá vốn đầu vào tăng, giá thành tăng dẫn đến tăng giá bán và kết quả là lạm phát và giảm tốc độ tăng GDP.

    Muốn GDP đạt 6.5% năm 2010 chính phủ cần tìm cách giảm lãi suất mà không cần bơm quá nhều tiền vào hệ thống. Có thể là bằng cách khơi thông dòng vốn đã có thay vì bơm thêm vào.

    Tôi không phải là chuyên gia ngân hàng, có gì không đúng mong mọi người giảng giải thêm.

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Tài chính

Nguyễn Đức Thắng

22:14 (GMT+7) - Thứ Sáu, 25/5/2012

Nguyên nhân gốc rễ của việc rối loạn lãi suất những năm qua chủ yếu là do chính hệ thống ngân hàng gây ra. Điều...

Trong bài: Thống đốc Nguyễn Văn Bình: Xem xét lại lãi suất cơ bản (6 ý kiến)

Nguyễn Đức Thắng

21:15 (GMT+7) - Thứ Sáu, 25/5/2012

Việc thỏa thuận, mặc cả mua bán, thương thảo về giá giữa người mua, người bán đã là chuyện có từ ngàn năm ở chợ....

Trong bài: Đồng loạt giảm các lãi suất điều hành (1 ý kiến)

traihp

16:49 (GMT+7) - Thứ Sáu, 25/5/2012

Tôi không đồng ý với ý kiến của bạn Thanh Danh. Chúng ta ko thể cá mè 1 lứa được. Dù sao Vinalines cũng là...

Trong bài: Maritime Bank “né” dư chấn từ Vinalines (2 ý kiến)

Nguyễn Đức Thắng

16:39 (GMT+7) - Thứ Sáu, 25/5/2012

Mặc dù đã có một số cơ chế, chính sách hỗ trợ các DNVVN, mặc dù hiện tại các ngân hàng lớn dư thừa vốn,...

Trong bài: Ngân hàng thừa thanh khoản, doanh nghiệp suy kiệt vốn (15 ý kiến)

Mai Thiên An

16:19 (GMT+7) - Thứ Sáu, 25/5/2012

Né 1 điều luật hậu quả khôn lường đến lúc này thì ai cũng biết cả rồi. Từ bài học LSCB này thiết nghĩ cần nghiêm...

Trong bài: Thống đốc Nguyễn Văn Bình: Xem xét lại lãi suất cơ bản (6 ý kiến)