Không “nuông chiều” các ngân hàng yếu kém

NGUYỄN HOÀI

20/04/2010 09:35 (GMT+7)

picture Hết năm 2008, mới chỉ có 28 đơn vị vượt “ba rie” và có tới gần 10 đơn vị mới đạt mức vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng vào cuối 2009, muộn hơn một năm so với quy định tại Nghị định 141 - Ảnh: Quang Liên.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Một chuyên gia nhận định, nếu thực hiện nghiêm Nghị định 141/CP thì qua 2010, chỉ còn 20 ngân hàng thương mại cổ phần được phép tồn tại với mức vốn điều lệ trên 3.000 tỷ đồng.

Đó là cơ hội tốt để gạt bỏ những cơ thể ốm yếu, nhưng liệu Nhà nước có “làm nghiêm”?

Tại hội thảo “Tái cấu trúc khu vực tài chính, ngân hàng sau khủng hoảng - Xu  thế thế giới và những vấn đề đặt ra với Việt Nam” do Viện Kinh tế và Chính trị thế giới phối hợp với Thời báo Ngân hàng tổ chức tuần trước, các chuyên gia đã gióng lên những cảnh báo về nguy cơ gây mất an toàn hệ thống của những ngân hàng nhỏ, tiềm lực yếu nhưng không chịu sáp nhập hoặc mua bán lại (M&A).

Chỉ thích “riêng một góc trời”

Tiến sĩ Vũ Đình Ánh, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Thị trường giá cả (Bộ Tài chính), cho biết, tính đến tháng 3/2010, trong số 39 ngân hàng thương mại cổ phần, nếu xét theo quy mô vốn điều lệ thì có 21/39 ngân hàng thương mại cổ phần dưới 2.000 tỷ đồng; 30/39 dưới 3.000 tỷ đồng và chỉ 9/39 có vốn trên 3.000 tỷ đồng.

Đứng đầu “câu lạc bộ trên 3.000 tỷ đồng” là Vietcombank với 12.100 tỷ đồng (650 triệu USD) nhưng có thể bị VietinBank “qua mặt” vì vốn điều lệ của ngân hàng này đang là 11.252 tỷ đồng và dự kiến hết 2010, VietinBank sẽ phát hành thêm 3 đợt, nâng vốn điều lệ lên mức 18.731 tỷ đến 19.833 tỷ đồng. Tiếp theo là Eximbank (8.800 tỷ đồng), ACB (7.814 tỷ đồng), Sacombank (6.700 tỷ đồng), LienVietBank (3.300 tỷ đồng)...

Tuy nhiên, nếu theo quy định tại Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009 thì cả Vietcombank lẫn VietinBank không được xếp vào “nhóm cổ phần” vì nhà nước vẫn nắm giữ trên 50% vốn điều lệ và số ngân hàng có mức vốn trên 3.000 tỷ đồng rất ít. “Rõ ràng, quy mô các ngân hàng thương mại cổ phần quá nhỏ bé trong khi số lượng lại tương đối nhiều so với quy mô nền kinh tế chỉ khoảng 100 tỷ USD của năm 2009”, ông Ánh nhận xét.

Trở lại với Nghị định 141/2006/NĐ-CP, ngay từ 2006, Nhà nước đã sớm nhìn thấy tình trạng “nhiều nhưng yếu” trong ngành ngân hàng nên đã đưa ra rào cản vốn điều lệ nhằm mục tiêu nâng cao tiềm lực tài chính cho số ngân hàng quy mô nhỏ.

Theo đó, hết năm 2008, các ngân hàng thương mại cổ phần phải đạt mức vốn điều lệ tương đương mức vốn pháp định được quy định tại nghị định này là 1.000 tỷ đồng và hết 2010 là 3.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, hết năm 2008, mới chỉ có 28 đơn vị vượt “ba rie” và có tới gần 10 đơn vị mới đạt mức vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng vào cuối 2009, muộn hơn một năm so với quy định tại Nghị định 141.

Ngân hàng Nhà nước nói gì?

Đáng lẽ, về nguyên tắc, nếu không đảm bảo mức vốn này thì phải giải thể hoặc thực hiện các thương vụ M&A nhưng xem ra, điều này là chưa thể và cội nguồn của vấn đề lại xuất phát từ cả hai phía: ngân hàng và cơ quan quản lý.

Trước hết, quan điểm “riêng một góc trời” vẫn còn ngự trị rất lớn trong cách hành xử của nhiều ngân hàng. Điều này được nhận thấy rất rõ, hiện có gần 40 ngân hàng thương mại cổ phần nhưng yếu tố “ngoại” mới chỉ có ở một số ngân hàng như Techcombank, ABBank, SeABank..., trong khi chưa hề có một vụ M&A nào trong ngành ngân hàng trong nhiều năm gần đây.

Thứ hai là vấn đề liên quan đến trách nhiệm của cơ quan quản lý. Mặc dù gần 10 ngân hàng bị chậm trễ tăng vốn điều lệ theo lộ trình gần một năm như nói trên nhưng cơ quan quản lý vẫn nương tay và liệu điều này có tiếp tục đối với mức vốn 3.000 tỷ đồng hay không thì vẫn là dấu hỏi.

Đem vấn đề này trao đổi với Ngân hàng Nhà nước, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu thẳng thắn: “Nếu không tăng được vốn theo quy định thì phải xử lý thôi, vì đã là pháp luật thì phải chấp hành. Ngân hàng Nhà nước sẽ có nhiều biện pháp xử lý theo pháp luật hiện hành và không nuông chiều những trường hợp này. Không phải khi giá cổ phiếu gấp 10 lần thì hăng hái nhảy vào lập ngân hàng, còn khi thị trường chững lại thì lại kêu khó”.

Một điểm đáng lưu ý khác, theo Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009 về “tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại” thì tỷ lệ góp vốn của thể nhân và pháp nhân lần lượt là 10% và 20% vốn điều lệ. Từ 2010, vốn điều lệ tối thiểu mỗi ngân hàng được nâng lên 3.000 tỷ đồng và có ý kiến rằng, nếu chất lượng hoạt động của một ngân hàng nào kém cỏi thì mức độ ảnh hưởng đến hệ thống sẽ rất khó lường.

Đã có một tình huống được giả định rằng, một “đại gia” nào đó gửi vốn cho các thể nhân đứng tên ở vài ba ngân hàng. Sau đó, “đại gia” này dùng các cổ đông “hờ” gây áp lực cho hội đồng quản trị và ban điều hành phải giải ngân cho các dự án của mình. Trong điều kiện thị trường ổn định thì có thể “chưa làm sao” nhưng chẳng may “đại gia” mất thanh khoản thì thử hỏi hậu họa sẽ như thế nào?

Cũng theo Thống đốc thì mức vốn góp theo Nghị định 59 sẽ giảm còn một nửa khi Luật Ngân hàng nhà nước và Luật Các tổ chức tín dụng được thực thi. Cùng đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ bắt buộc cổ đông ngân hàng phải chứng minh nguồn gốc vốn góp, thay vì chỉ chung chung “không vi phạm pháp luật” như lâu nay. Những cổ đông có tỷ lệ vốn góp nhiều hơn mức luật cho phép thì phải rút bớt hoặc sang nhượng lại.

Như vậy, mức vốn điều lệ tối thiểu 3.000 tỷ đồng, sự minh bạch và giảm tỷ lệ đối với nguồn vốn góp được coi là cơ hội tốt để nhà nước sàng lọc, loại bỏ những cơ thể ốm yếu trong hệ thống ngân hàng.

Nhưng giả sử, hết năm 2010, có ngân hàng không đủ khả năng tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng thì cơ quan quản lý có thêm một lần “nới tay” như năm ngoái?

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • x

    16:45 (GMT+7) - Thứ Sáu, 13/8/2010

    Tôi đồng ý với việc sáp nhập các NH yếu kém. Song cần phải có những biện pháp rất mạnh để minh bạch tình hình tài chính thì mới có thể đánh giá hết được. Vốn lớn chưa chắc tài chính đã tốt, vốn nhỏ chưa chắc tài chính đã xấu và hoạt động kém.
    Minh bạch tài chính là một vấn đề rất lớn đang đặt ra đối với các NH. Điều này đòi hỏi sự ra tay quyết liệt của NHNN.

  • Ngọc Linh

    09:47 (GMT+7) - Chủ Nhật, 2/5/2010

    Việc đánh giá "yếu" hay "mạnh" nên căn cứ vào hiệu quả hoạt động chứ không nên nhìn vào quy mô. Ngân hàng tuy có vốn điều lệ thấp nhưng hoạt động minh bạch, an toàn ,hiệu quả thì vẫn hơn một anh "to xác" nhưng làm việc kém hiệu quả, làm ăn chụp giựt, an toàn kém. NHNN nên đánh giá khách quan hơn.

  • HLong

    12:59 (GMT+7) - Thứ Hai, 26/4/2010

    Tôi đoán và hiểu rằng mục đích của việc yêu cầu các Ngân hàng tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng là để các Ngân hàng tăng cường sức mạnh tài chính để chuẩn bị cho cạnh tranh với các Ngân hàng ngoại.

    Tuy nhiên, vốn lớn cũng chỉ là một phần, quan trọng hơn hết là vốn của Anh tuy nhỏ nhưng Anh quản lý chất lượng tín dụng tốt, an toàn thanh khoản luôn được đảm bảo, khách hàng nhiều và chất lượng (thậm chí tốt hơn các Ngân hàng lớn) thì tại sao phải áp cho vốn điều lệ cao đến thế?

  • Hoàng Tấn Thanh Nguyên

    21:17 (GMT+7) - Chủ Nhật, 25/4/2010

    Tôi nghĩ Nhà nước nên mạnh tay với các ngân hàng yếu kém, chứ không dể dải như những năm trước. Ngân hàng nào không đủ vốn điều lệ tối thiểu cho phép thì nên M&A với các tổ chức tài chính mạnh khác.

  • Trần Quang Hưng

    21:14 (GMT+7) - Thứ Bảy, 24/4/2010

    Tôi cho rằng ngân hàng yếu kém là do có tỉ lệ nợ xấu cao, kém minh bạch chứ không phải vốn điều lệ thấp.

  • trần xuân lâm

    19:42 (GMT+7) - Thứ Bảy, 24/4/2010

    Tôi cũng hoàn toàn đồng ý với bài viết này

  • Nguyen Hoang Quang Vu

    15:18 (GMT+7) - Thứ Ba, 20/4/2010

    Tôi đồng ý với bài viết này, NHNN ko nên nuông chiều các Ngân hàng yếu kém. Nếu đến cuối năm 2010, ngân hàng nào ko đủ mức vốn điều lệ tối thiểu 3.000 tỷ đồng thì xử lý sát nhập hoặc mua bán lại.

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Tài chính

Nguyễn Đức Thắng

22:14 (GMT+7) - Thứ Sáu, 25/5/2012

Nguyên nhân gốc rễ của việc rối loạn lãi suất những năm qua chủ yếu là do chính hệ thống ngân hàng gây ra. Điều...

Trong bài: Thống đốc Nguyễn Văn Bình: Xem xét lại lãi suất cơ bản (6 ý kiến)

Nguyễn Đức Thắng

21:15 (GMT+7) - Thứ Sáu, 25/5/2012

Việc thỏa thuận, mặc cả mua bán, thương thảo về giá giữa người mua, người bán đã là chuyện có từ ngàn năm ở chợ....

Trong bài: Đồng loạt giảm các lãi suất điều hành (1 ý kiến)

traihp

16:49 (GMT+7) - Thứ Sáu, 25/5/2012

Tôi không đồng ý với ý kiến của bạn Thanh Danh. Chúng ta ko thể cá mè 1 lứa được. Dù sao Vinalines cũng là...

Trong bài: Maritime Bank “né” dư chấn từ Vinalines (2 ý kiến)

Nguyễn Đức Thắng

16:39 (GMT+7) - Thứ Sáu, 25/5/2012

Mặc dù đã có một số cơ chế, chính sách hỗ trợ các DNVVN, mặc dù hiện tại các ngân hàng lớn dư thừa vốn,...

Trong bài: Ngân hàng thừa thanh khoản, doanh nghiệp suy kiệt vốn (15 ý kiến)

Mai Thiên An

16:19 (GMT+7) - Thứ Sáu, 25/5/2012

Né 1 điều luật hậu quả khôn lường đến lúc này thì ai cũng biết cả rồi. Từ bài học LSCB này thiết nghĩ cần nghiêm...

Trong bài: Thống đốc Nguyễn Văn Bình: Xem xét lại lãi suất cơ bản (6 ý kiến)