“Không nên để nhiều ngân hàng quá nhỏ!”

NGUYỄN HOÀI

23/04/2010 22:05 (GMT+7)

picture Ông Lê Đức Thúy, Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Hệ số an toàn vốn tối thiểu theo Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN và áp lực tăng vốn điều lệ tại Nghị định 141 là cơ hội để sàng lọc ngân hàng thương mại nhỏ, yếu và đẩy nhanh tiến trình mua bán - sáp nhập (M&A).

Tuy nhiên, thái độ ứng xử của Nhà nước trong câu chuyện này mới là quan trọng. Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Lê Đức Thúy, Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

Áp lực của pháp lý và thực tiễn kinh doanh

Thưa ông, hiện có khoảng 20 ngân hàng thương mại phải tăng đủ vốn điều lệ  lên mức 3.000 tỷ đồng trong năm nay. Vì sao câu chuyện này quá quan trọng như vậy?

Nếu xét trên phương diện luật pháp thì năm 2010 là kỳ hạn cuối cùng để các ngân hàng thương mại có mức vốn dưới 3.000 tỷ đồng phải đáp ứng mức vốn điều lệ tối thiểu là 3.000 tỷ đồng và hiện có khoảng 20 ngân hàng chưa đạt yêu cầu này.

Còn xét trên phương diện hệ số an toàn vốn tối thiểu (vốn tự có/tổng tài sản có rủi ro - Capital Adequacy Ratio - CAR) theo chuẩn quốc tế thì nếu nhìn chung cả hệ thống thì đều đạt mức 8%. Tuy nhiên, khi đi sâu vào chi tiết thì có khá nhiều vấn đề rất đáng bàn.

Vì thế, áp lực của pháp lý và thực tiễn kinh doanh trong việc đạt hệ số an toàn vốn đã buộc các tổ chức tín dụng phải tính đến phương án tăng vốn điều lệ.

Ngoài ra, do nhu cầu thực tế, nếu tổ chức tín dụng muốn mở rộng quy mô hoạt động thì phải nâng vốn điều lệ. Chẳng hạn, cơ quan quản lý đang gắn việc mở chi nhánh, phòng giao dịch, mở rộng tín dụng của ngân hàng thương mại với vốn điều lệ.

Xu hướng chung trên thế giới là phải nâng hệ số này cao hơn nữa. Nhiều nước trong khu vực  đã đạt 12% từ lâu và chưa dừng ở đây, còn ở các nước phát triển còn khuyến nghị cao hơn, tiêu chuẩn Basel II đặt ra mức là 15%.

Kinh doanh ngân hàng không thể chỉ bằng nước bọt

Ông đánh giá gì về hệ số CAR giữa các nhóm ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần hiện nay?

Trong nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, có nhiều đơn vị chưa đạt tiêu chuẩn vì nhiều lý do về chính trị, kinh tế, cho vay kích cầu, cho vay dự án các doanh nghiệp nhà nước nên mức tăng trưởng tín dụng rất cao.

Trong khi đó, vì là ngân hàng thương mại nhà nước nên vốn điều lệ phải do nhà nước cấp nhưng hiện nay, nhà nước chưa cấp đủ số vốn điều lệ cần thiết cho họ nên hệ số CAR nhóm này còn thấp.

Còn ngân hàng thương mại cổ phần, kể cả số đã đáp ứng đủ mức vốn điều lệ tại Nghị định 141 thì về hình thức, hệ số an toàn vốn  đạt tỷ lệ mức bình quân khoảng 12% - 13%, cao hơn nhóm ngân hàng thương mại nhà nước nhưng nhìn chung, họ đều dùng vốn điều lệ để góp vốn, kinh doanh nhiều lĩnh vực, trong khi mức khấu trừ ra khỏi vốn điều lệ để tính toán hệ số nói trên còn chưa chặt chẽ.

Vì thế, tính trên hình thức thì có vẻ đạt hoặc cao hơn tiêu chuẩn nhưng đi vào thực chất bóc tách từng khoản đã đầu tư, đôi khi ở vượt quá giới hạn cho phép.

Tôi ví dụ đơn giản thế này: một ngân hàng có vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng, và muốn có một tổng tài sản rủi ro khoảng 12 nghìn tỷ, nhưng nếu ngân hàng đó đã dùng khoảng 300 tỷ trong số vốn điều lệ góp vào một dự án bất động sản thì vốn điều lệ để tính toán hệ số chỉ 700 tỷ chứ không còn là 1.000 tỷ nữa. Như vậy, hệ số an toàn vốn tối thiểu đã thay đổi theo hướng giảm đi.

Nhưng thưa ông, vốn nào mà chẳng phải kinh doanh? Vì  sao đưa một phần vốn điều lệ kinh doanh khác ngành đăng ký thì không được “xập xí xập ngầu” vào vốn tự có để tính toán hệ số CAR?

Đã kinh doanh ngân hàng thì không thể chỉ bằng nước bọt. Ngân hàng đi vay 10 đồng về để cho vay lại, chẳng may rủi ro mất một đồng thì còn có tiền túi để bù đắp rủi ro đó. Vốn điều lệ thì phải kinh doanh đúng ngành nghề của mình, còn mang bớt đi kinh doanh ngành nghề khác thì quy mô kinh doanh ngành nghề đã đăng ký phải thu hẹp lại.

Và cũng đừng nên “xập xí xập ngầu chỗ này”. Trong trường hợp trên nếu muốn mở rộng kinh doanh thì phải tăng vốn tự có và đó là đạo lý bình thường trong làm ăn.

Nên buộc sáp nhập ngân hàng không đủ vốn điều lệ

Theo ông, trong khi thị trường chứng khoán còn khó khăn, làm thế nào để các ngân hàng thương mại trong diện tăng vốn thành công?

Nếu là nhóm ngân hàng thương mại nhà nước thì việc tăng vốn điều lệ phải phụ thuộc vào việc nhà nước cấp thêm vốn từ ngân sách, bằng cách hoặc dùng ngân sách tăng vốn cho họ hoặc đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa các ngân hàng này để thu hút vốn từ bên ngoài.

Hiện nay, nhóm này mới chỉ có VietinBank và Vietcombank đã cổ phần hóa nhưng tỷ lệ phát hành ra công chúng vẫn rất nhỏ. Tất nhiên, khi cổ phần hóa các ngân hàng này thì giá sẽ không còn cao như vài năm trước nhưng nếu gọi được các cổ đông chiến lược, bán với mức giá gấp vài ba lần mệnh giá thì việc tăng vốn cũng không phải quá khó khăn.

Còn  đối với các ngân hàng thương mại cổ phần thì là cả một vấn đề. Đối với các đơn vị chưa đáp ứng đủ mức vốn điều lệ 3.000 tỷ đồng thì áp lực mạnh hơn rất nhiều, nhất là lúc thị trường chứng khoán èo uột và lòng tin vào cổ phiếu ngân hàng bị giảm sút rất mạnh. Nếu có chút lợi nhuận thì phải giữ lại để tăng vốn và chia cổ tức bằng cổ phiếu.  

Trong trường hợp “cố” bán ra ngoài thì không hẳn đã là tốt. Bởi lẽ, khi cổ phiếu của một ngân hàng đang được giao dịch với mức giá “1.8” mà muốn thu hút nhiều bán rẻ xuống “1.1” thì sẽ phương hại đến cổ đông hiện hữu.  

Theo ông, nếu các ngân hàng thương mại không thể nâng vốn điều lệ theo mức quy định thì nên ứng xử như thế nào?

Tôi được biết không ít ngân hàng đã đề nghị Chính phủ cho giãn tiến độ thực hiện lộ trình tăng vốn điều lệ theo Nghị định 141.

Tất nhiên, Chính phủ quyết định theo hướng nào là do Chính phủ. Cá nhân tôi cho rằng, nên kiên quyết buộc những tổ chức tín dụng không tự nâng vốn điều lệ theo quy định phải sáp nhập với nhau, để đẩy nhanh quá trình mua lại, sáp nhập các ngân hàng, không nên để quá nhiều ngân hàng nhỏ, làm thị trường rối thêm.

Quá trình sáp nhập, mua lại luôn tốt đối với các ngân hàng đủ vốn và nhất là các ngân hàng không có khả năng tăng vốn. Ngoài ra, chúng còn làm giảm bớt số lượng tổ chức tín dụng đang hiển diện khá đông trong nền kinh tế so với quy mô thị trường nhỏ như hiện nay.

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Ngọc Linh

    17:20 (GMT+7) - Thứ Hai, 26/4/2010

    Khi yêu cầu tăng vốn, không biết NHNN có nghĩ đến cảnh "too big to fail" hay không?

    NHTM cũng chỉ là một loại hình công ty cổ phần - nhưng kinh doanh có điều kiện, do đó điều quan trọng là điều kiện thành lập, hoạt động do NHNN quy định có tốt hay không mà thôi.

    Hơn nữa NHNN cũng nên "cho phá sản" những NHTM không đủ điều kiện hoạt động, vì hiện nay hầu như các NHTM được bao bọc quá kĩ. Nên dù có tăng vốn hay không thì điều quan trọng nhất vẫn là sự minh bạch thông tin.

  • Trần Quang Phúc

    15:50 (GMT+7) - Thứ Hai, 26/4/2010

    Câu hỏi của bạn Chim Gõ Kiến đặt ra có vẻ hợp lý nhưng hơi hài hước.

    Thể chế chính trị, tính minh bạch và tính thực thi của pháp luật giữa hai quốc gia là khác nhau. Ở Mỹ hệ thống kiểm soát rủi ro được thực hiện chặt chẽ và minh bạch đến từng chủ thể. Họ cũng coi hai chữ “phá sản” đối với các ngân hàng là điều hết sức bình thường trong khi Việt Nam là ngược lại. Hai chữ “phá sản” đối với một ngân hàng nào đó là nỗi ám ảnh và đáng lo sợ với nhiều người kể cả cơ quan quản lý. Chính vì thế nên ngân hàng Việt Hoa chết bao nhiêu năm nay nhưng không cho chết.

    Trở lại vấn đề sát nhập hay không thì đây thực ra là một phương cách giảm nhẹ thường thấy trong giải quyết các vấn đề kinh tế của Việt Nam nói chung. Một điểm rất yếu của các ngân hàng nhỏ là tập trung quá nhiều vào kinh doanh tín dụng, và tín dụng cho bất động sản…

    Đây là những hoạt động sinh lời cao nhưng tạo ra rủi ro lớn nhất cho mọi tổ chức tín dụng. Rất ít những ngân hàng chấp nhận lãi ít, rủi ro thấp do vậy việc cần thiết hiện này là tăng cường đánh giá và quản lý chặt chẽ các yêu cầu về quản trị rủi ro, phân loại nợ, trích lập dự phòng, nâng cao yêu cầu về tăng hệ số CAR…

    Đó phải là một giải pháp đồng bộ và triệt để chứ không chỉ mỗi chuyện tăng vốn để đáp ứng được một tiêu chuẩn nào đó trong khi còn nhiều yếu tố quan trọng khác giúp cho hệ thống ngân hàng ổn định.

    Hệ thống các ngân hàng ở Việt Nam hiện nay người nói là ít, kẻ bảo là nhiều cũng bắt nguồn từ những lý do nêu trên trong đó sự yếu kém về quản lý nhà nước và thiếu độc lập của ngân hàng trung ương cũng là những lý do chính.

  • Tri Nguyễn

    09:37 (GMT+7) - Thứ Hai, 26/4/2010

    Qua bài phỏng vấn và các ý kiến tôi đã nghiệm ra vài điều:

    - Sức ép quá lớn về vốn tối thiểu cho ngành ngân hàng làm cho môi trường đầu tư bị méo mó nặng nề.

    - Hoàn toàn đồng ý: Giấy chứng nhận cổ đông hoặc cổ phiếu không phải là tài sản đảm bảo vì anh giao cho đơn vị khác làm việc đó rồi. Điều này đúng với mọi doanh nghiệp kinh doanh trong mọi ngành nghề.

  • Manh Cuong

    09:06 (GMT+7) - Thứ Hai, 26/4/2010

    Rất đồng ý với ý kiến của bạn Chim Gõ Kiến.

  • NHien

    12:20 (GMT+7) - Chủ Nhật, 25/4/2010

    Tôi hoàn toàn đồng ý với biện pháp kiên quyết sát nhập hoặc thậm chí giải thể các NHTMCP vốn nhỏ không góp vốn đủ trước 31/12.

    Không thể để tồn tại mấy con sâu làm rầu nồi canh nhu tình trạng các NHTMCP nông thôn mới chuyển sang đô thị, vì không đủ vốn cho vay nên phải huy động vốn trên thị trường liên ngân hàng là chủ yếu, đã làm tình hình toàn hệ thống ngân hàng rơi vào khó khăn chung.

  • Viethung

    22:44 (GMT+7) - Thứ Bảy, 24/4/2010

    Tôi thấy lập luận vốn an toàn tối thiểu 3.000 tỷ là không chắc chắn. Sự ra đời của ngân hàng là do nhu cầu của người dân.

    Tôi muốn hỏi: Ai là người đã cấp phép cho các ngân hàng nhỏ ra đời vậy?

  • 114111

    07:42 (GMT+7) - Thứ Bảy, 24/4/2010

    Nên kiên quyết để buộc các NH nhỏ phải sáp nhập với nhau tạo thành NH vừa. Vì để nhiều NH nhỏ hiện nay chỉ làm rối thêm thị trường tiền tệ. Chúng ta hãy nhìn lại thời gian qua, chạy đua tăng lãi suất và cho vay quá cao cũng chỉ diễn ra tại các ngân hàng nhỏ nhưng lại tác động xấu đến toàn TT tiền tệ.

  • Chim Gõ Kiến

    23:25 (GMT+7) - Thứ Sáu, 23/4/2010

    Mời ông Thuý vào đọc link dưới đây thì thấy ngay ở nwớc Mỹ cũng còn có hàng ngàn ngân hàng nhỏ và vốn còn nhỏ hơn so với NHTMVN nhiều.

    Ông Lê Xuân Nghĩa từng nói: NHTM ở VN còn quá ít so với dân số và ko nhất thiết yêu cầu về quy mô vốn.

    http://www2.fdic.gov/SDI/SOB/index.asp

    Bỏ qua nhiều tổ chức tài chính tín dụng có quy môn nhỏ hơn cũng có số liệu sau:

    - Tổng số ngân hàng: VN: 40 - Mỹ: 6839
    - GDP/bank (xấp xỉ): VN: $2.5b - Mỹ: $1.8b
    - dân số /bank: VN 2.2m - Mỹ: 45K
    - Vốn CSH: VN tối thiểu 3000 tỷ VND ~ $150m - Mỹ (2500 ngân hàng nhỏ nhất): $6.5 triệu USD

    Cơ sở nào NHNN đưa ra quy định vốn tối thiểu 3000 tỷ? Mong ông giải thích cho.

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Tài chính

Nguyễn Đức Thắng

22:14 (GMT+7) - Thứ Sáu, 25/5/2012

Nguyên nhân gốc rễ của việc rối loạn lãi suất những năm qua chủ yếu là do chính hệ thống ngân hàng gây ra. Điều...

Trong bài: Thống đốc Nguyễn Văn Bình: Xem xét lại lãi suất cơ bản (6 ý kiến)

Nguyễn Đức Thắng

21:15 (GMT+7) - Thứ Sáu, 25/5/2012

Việc thỏa thuận, mặc cả mua bán, thương thảo về giá giữa người mua, người bán đã là chuyện có từ ngàn năm ở chợ....

Trong bài: Đồng loạt giảm các lãi suất điều hành (1 ý kiến)

traihp

16:49 (GMT+7) - Thứ Sáu, 25/5/2012

Tôi không đồng ý với ý kiến của bạn Thanh Danh. Chúng ta ko thể cá mè 1 lứa được. Dù sao Vinalines cũng là...

Trong bài: Maritime Bank “né” dư chấn từ Vinalines (2 ý kiến)

Nguyễn Đức Thắng

16:39 (GMT+7) - Thứ Sáu, 25/5/2012

Mặc dù đã có một số cơ chế, chính sách hỗ trợ các DNVVN, mặc dù hiện tại các ngân hàng lớn dư thừa vốn,...

Trong bài: Ngân hàng thừa thanh khoản, doanh nghiệp suy kiệt vốn (15 ý kiến)

Mai Thiên An

16:19 (GMT+7) - Thứ Sáu, 25/5/2012

Né 1 điều luật hậu quả khôn lường đến lúc này thì ai cũng biết cả rồi. Từ bài học LSCB này thiết nghĩ cần nghiêm...

Trong bài: Thống đốc Nguyễn Văn Bình: Xem xét lại lãi suất cơ bản (6 ý kiến)