“Hạ giá VND hại nhiều hơn lợi”

LÊ HƯỜNG

14/05/2010 10:18 (GMT+7)

picture Theo ông Bùi Kiến Thành, với nguyên liệu nhập khẩu chiếm tỷ lệ cao trong giá thành sản xuất, khi đồng VND giảm, giá thành sản xuất hàng xuất khẩu sẽ tăng - Ảnh: Reuters.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Sau khi có tin đồn về việc Ngân hàng Nhà nước sẽ điều chỉnh giảm giá VND 4%, ngày 13/5, Ngân hàng Nhà nước đã khẳng định đây là thông tin thất thiệt không có cơ sở, gây tâm lý hoang mang trên thị trường.

Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với chuyên gia kinh tế độc lập Bùi Kiến Thành xung quanh chính sách tỷ giá, chính sách lãi suất đối với khả năng thanh khoản của nền kinh tế vào thời điểm hiện nay.

Đồng Euro và Bảng Anh đang giảm giá được hy vọng sẽ thúc đẩy xuất khẩu và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế của các nước sử dụng những đồng tiền này. Ngân hàng Nhà nước vừa khẳng định chưa có chủ trương điều chỉnh tỷ giá, ý kiến của ông về quyết định này?

Nền kinh tế của các nước khác và Việt Nam hoàn toàn khác nhau, và những vấn đề gặp phải cũng là khác nhau. Trong khi Việt Nam là nền kinh tế dựa trên nhập khẩu nguyên liệu nước ngoài quá nhiều, một nền kinh tế gia công thì các nước khác không lệ thuộc nhập khẩu.

Do đó, các nước khác sử dụng biện pháp giảm giá đồng tiền, để đồng tiền rẻ hơn, hàng hóa sản xuất ra có tính cạnh tranh hơn khi xuất khẩu. Nhưng, đấy là lý luận của những nền kinh tế đã phát triển chứ không phải của Việt Nam.

Tại Việt Nam, những mặt hàng xuất khẩu chiến lược như may mặc, giày dép có hàm lượng nguyên liệu đầu vào từ 80% đến 90% là nhập khẩu. Do đó, khi hạ giá VND, giá hàng hóa nguyên liệu nhập khẩu sẽ cao. Với nguyên liệu nhập khẩu chiếm tỷ lệ cao trong giá thành sản xuất, khi đồng VND giảm, giá thành sản xuất hàng xuất khẩu sẽ tăng.

Do đó, nếu chỉ có 10-20% nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu là nội địa, việc hạ giá VND sẽ làm hại nhiều hơn làm lợi cho chúng ta. Thêm vào đó, việc hạ giá VND cũng không có lợi cho việc xuất khẩu gạo, cà phê, khoáng sản.

Đáng chú ý, việc hạ giá VND còn làm tăng giá hàng tiêu dùng nhập khẩu, vì vậy sẽ đẩy chỉ số giá tiêu dùng (CPI) lên cao.

Có ý kiến cho rằng nên tăng lãi suất để giảm lạm phát, ông có bình luận gì?

Hiện nay, Việt Nam không hề có lạm phát.

Lập luận lạm phát hiện nay là do hiểu lầm hai khái niệm lạm phát và tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Thực ra, lạm phát và chỉ số giá tiêu dùng tăng là không đồng nghĩa.

Lạm phát là lạm dụng quyền phát hành để đẩy ra nền kinh tế  nhiều tiền quá, "chạy qua" một số hàng hóa, và như vậy, làm cho nền kinh tế quá nhiều phương tiện thanh toán mà không có đủ hàng hóa mua.

Trong khi đó, tình trạng của nền kinh tế chúng ta hiện nay là đang thiếu tiền. Các ngân hàng thương mại không có đủ tiền cho doanh nghiệp vay.

Chỉ số giá tiêu dùng tăng là do một số nguyên nhân khác. Thứ  nhất lãi suất cơ bản tăng từ trong tháng 11/2009, đẩy lãi suất của các ngân hàng thương mại tăng lên từ 10,5% lên 12%. Nhưng thực chất không phải ở mức 10,5% - 12%, các ngân hàng thương mại có nguồn vốn để bù lãi suất, và lãi suất cho vay ưu đãi ở mức 6,5%.

Khi Chính phủ quyết định chấm dứt chính sách hỗ trợ lãi suất, giá vốn đi vay của một số doanh nghiệp tăng vọt lên 12%. Thực tế còn cao hơn con số 12%, ở mức 14-15%, thậm chí 18-19%. Như vậy, chi phí vốn vay đã tăng gấp nhiều lần.

Lãi suất đầu vào tăng đẩy giá thành sản xuất tăng. Do đó, có thể nói, việc Ngân hàng Nhà nước tăng lãi suất cơ bản từ 7% lên 8% đã đẩy giá thành tăng lên nhiều. Kết quả là, giá tiêu dùng tăng. Như vậy, quyết định tăng lãi suất để chống lạm phát nhưng lại làm tăng chỉ số CPI.

Thứ hai, việc hạ giá đồng VND làm tăng giá nguyên liệu đầu vào sản xuất và tăng giá hàng hóa tiêu dùng trực tiếp. Kết quả là, chỉ số giá tiêu dùng tăng. Thứ ba, việc tăng CPI cũng có một phần do tính chu kỳ của việc tăng giá trong dịp tết. Thứ tư, giá cả các mặt hàng thiết yếu như điện, than, nước, xăng dầu đều tăng cũng đóng góp vào sức tăng của CPI.

Như vậy, việc tăng CPI trong quý 1 vừa qua không phải do lượng cung tiền nhiều.

Vậy theo ông, nên giảm tốc độ tăng giá tiêu dùng theo cách nào?

Có người cho rằng, khi CPI tăng cần giải quyết bằng cách tăng lãi suất, khống chế lượng tiền vào nền kinh tế. Điều này không đúng với nền kinh tế Việt Nam.

Ở các nền kinh tế khác, lưu lượng tín dụng tiêu dùng chiếm 60-70%, người dân ở các nước khác mua cái gì cũng vay tiền. Chỉ 30% lưu lượng tín dụng là của sản xuất kinh doanh và dịch vụ. Vì vậy, các nước khác áp dụng biện pháp tăng lãi suất để "khóa" tiêu dùng, giúp giảm giá hàng hóa, cầu ít đi vì ít tiền.

Vấn đề ở Việt Nam rất khác. Tín dụng tiêu dùng ở Việt Nam liệu có chiếm được 10%? Hơn 90% là tín dụng cho sản xuất và kinh doanh. Lãi suất tăng không tác động đến giá cả, mà lại làm tăng chi phí sản xuất, do đó phản tác dụng.

Hiện nay, các ngân hàng thương mại không huy động được vốn trong nhân dân, lãi suất đầu vào cao, do đó ngân hàng thương mại muốn cho vay có lãi phải tăng lãi suất cho vay. Thực tế, lãi suất cao thấp chỉ đóng một phần trong quyết định gửi tiền vào ngân hàng của người dân. Có thể có những kênh đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn, hoặc người dân giữ tiền dưới kênh khác để khỏi mất giá bằng cách mua vàng, mua USD cất đi. Khi ngân hàng không huy động được vốn thì không có tiền cho vay. Cái gì hiếm thì đắt.

Vai trò của Ngân hàng Nhà nước là điều tiết lưu lượng tiền tệ đủ để nền kinh tế phát triển ổn định, bền vững, không dư để tạo ra lạm phát và không thiếu để tạo ra thiểu phát. Vấn đề là phải bắt mạch được nền kinh tế đang thừa hay thiếu tiền. Vấn đề này có thể giải quyết được. Mọi quốc gia đều đo lưu lượng tiền tệ qua các chỉ số, để biết được dùng bao nhiêu tiền là đủ.

Ngân hàng Nhà nước không cần phải vay của ai cũng có thể cho vay lại được vì  Ngân hàng Nhà nước có quyền phát hành giấy bạc, tín dụng, không phải trả lãi suất. Ngân hàng Nhà nước là người cho vay cuối cùng. Nếu ngân hàng thương mại không huy động được của người dân, Ngân hàng Nhà nước phải tái cấp vốn cho ngân hàng thương mại. Nếu không có tín dụng, cả nền kinh tế sẽ đứng lại.

Điều cần thiết hiện nay là phải có đủ tiền với lãi suất hợp lý. Nếu chính phủ quyết định Ngân hàng Nhà nước phải mở van, cho ngân hàng thương mại vay vốn cần thiết để có đủ thanh khoản, Ngân hàng Nhà nước có thể hạ lãi suất tái cấp vốn, điều này hoàn toàn nằm trong quyền lực của Ngân hàng Nhà nước.

Một điều đáng xem xét là Ngân hàng Nhà nước tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại nhưng cũng cần tính đến việc giải ngân các nguồn vốn này theo những dự án có đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, nên xem xét giải ngân dựa trên dự án không phải dựa trên đối tượng.

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Le Hoa

    13:38 (GMT+7) - Thứ Bảy, 15/5/2010

    Nền kinh tế Việt Nam về cơ bản là một nền kinh tế gia công và lắp ráp, nếu không nhập khẩu thì sẽ không có sản xuất. Ngoài ra tỷ lệ giá trị gia tăng trên giá trị sản xuất ngày càng kém, nếu so với giai đoạn 2000-2005 thì hiện nay tỷ lệ này giảm sút nhanh chóng khoảng từ 7-10 điểm phần trăm. Như vậy có thể thấy nguồn gốc của lạm phát và thâm hụt thương mại là do hiệu quả sản xuất yếu đi.

    Về lý thuyết, “lạm phát” là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền. Và lương cung tiền là một trong những nguyên nhân gây nên lạm phát.

    Do nền kinh tế Việt Nam khác người (khác ở chỗ năng lực sản xuất còn yếu) thì việc ra tăng tổng cầu chỉ làm tăng giá mà thôi. Và lại càng không thể in tiền cho các ngân hàng thương mại vay được.

  • DTG

    08:32 (GMT+7) - Thứ Bảy, 15/5/2010

    Theo tôi được biết, việc tăng lãi suất cho vay sẽ tác động đến "hiệu quả" của phương án, dự án SXKD. Việc tăng lãi suất hầu như không có tác động đến giá thành của sản phẩm, bởi chi phí lãi vay chiếm một tỷ lệ rất nhỏ khi tính chi phí để xác định kết quả SXKD và rằng " chi phí lãi vay" không cấu thành trong giá thành sản phẩm. Nó chỉ tác động đến "cách thức" trong việc huy động vốn mà doanh nghiệp lựa chọn...

  • N. Đấu

    22:10 (GMT+7) - Thứ Sáu, 14/5/2010

    Tôi cũng đồng ý với ý kiến của Thanh, tuy nhiên cần sửa lại chút xíu là: do tiền lương người lao động trong ngắn hạn vẫn trả bằng VND nên việc hạ giá VND sẽ có lợi cho doanh nghiệp sản xuất hàng XK; như vậy, thu nhập thực tế của người dân giảm đi và chạy vào túi doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu.

  • Thang

    19:22 (GMT+7) - Thứ Sáu, 14/5/2010

    Tôi không cho rằng giảm lãi suất cho vay sẽ giảm giá thành sản phẩm. Bài học một lượng tiền lớn được vay và đầu tư vào chứng khoán, bds vẫn còn nóng hổi.

    Tôi đồng tình với Thanh, nguyên nhân chính ở đây là đầu tư vô tội vạ, kém hiệu quả. Nang suat lao dong trong lĩnh vực sản xuất vẫn còn rất thấp.

    Tôi nghĩ giải pháp ở đây là, cần phải quản lý chặt đối tượng vay tiền, nên ưu tiên cho lĩnh vực sản xuất, những dự án thuyết phục.

  • Bùi Thuỷ

    17:36 (GMT+7) - Thứ Sáu, 14/5/2010

    Cảm ơn chuyên gia Bùi Kiến Thành về những nhận định rất sâu sắc. Mong được có nhiều phân tích của ông hơn về kinh tế VN hiện nay.

  • Thanh

    16:45 (GMT+7) - Thứ Sáu, 14/5/2010

    Bài viết này có những điểm bất hợp lý sau:

    1/ Nếu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu thì việc tăng hay giảm tỷ giá hối đoái sẽ không ảnh hưởng đến giá thành. Vì vậy nói giá thành tăng lên lên là hoàn toàn sai.

    Ví dụ nhập khẩu nguyên liệu trị giá 1 USD và bán ra (xuất khẩu) 1.20 USD thì lợi nhuận của dianh nghiệp là 0.20 USD. Nếu tỷ giá có thay đổi thì giá thành vẫn là 1 USD trong khi lợi nhuận tính bằng VND sẽ tăng lên nếu VND giảm giá.

    2/ Nếu nhập khẩu để tiêu dùng thì đương nhiên sẽ làm cho giá hàng tiêu dùng (tính bằng VND) tăng lên và có tác dụng hạn chế nhập khẩu.

    3/ NHNN không thể cấp vốn cho hệ thống NHTM một cách vô tội vạ. Bản chất của việc in tiền là một khoản nợ đối với quốc gia, nó bắt buộc phải có hàng hoá đối ứng.

    4/ Lãi suất tăng lên có thể làm giá thành sản phẩm tăng nhưng lại có tác dụng hút tiền vào hệ thống ngân hàng qua đó làm giảm sức cầu của thị trường. Vì vậy doanh nghiệp chưa chắc giá cả do doanh nhiệp bán ra sẽ tăng tương ứng.

    Vấn đề của nền kinh tế Việt Nam hiện nay là vấn nạn đầu tư thiếu hiệu quả. Các giải pháp về lãi suất và tỷ giá chỉ có tác dụng tạm thời.

  • Mai Hùng

    16:04 (GMT+7) - Thứ Sáu, 14/5/2010

    Nhận định của ông Bùi Kiến Thành quả thực sâu sắc. Ngân hàng Nhà nước nên mời ông Thành tư vấn về chính sách tiền tệ trong thời gian tới.

  • NAD

    15:00 (GMT+7) - Thứ Sáu, 14/5/2010

    Đây đúng là nhận xét của chuyên gia, hoàn toàn tán đồng quan điểm và cách nhìn nhận của ông.

    Cần phải phân biệt được vấn đề cơ bản là CPI và lạm phát, từ đó mới có được giải pháp chính xác.

  • Huỳnh Đức Hùng

    14:57 (GMT+7) - Thứ Sáu, 14/5/2010

    Rất cám ơn ông Bùi Kiến Thành về bài phân tích. Đó mới đúng là bản chất của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

  • 13:28 (GMT+7) - Thứ Sáu, 14/5/2010

    Tôi không đồng tình với những ý kiến này. Theo lý thuyết, nâng lãi suất và hạn chế tín dụng sẽ có tác dụng chống lạm phát. Nếu năm 2008 không phải là thí dụ đáng thuyết phục thì những ai đã trải qua thời kỳ lạm phát cuối những năm 1980s đều thấy rất rõ tác dụng của các chính sách này ở Việt nam.

    Tôi cũng không đồng tình với lời khuyên NHNN in tiền cho NHTM vay. NHNN chỉ thực hiện vai trò người cho vay cuối cùng khi NHTM có vấn đề về thanh khoản. Khi cho vay cũng đòi hỏi NHTM phải có tài sản để chiết khấu, đảm bảo phương tiện thanh toán trong nền kinh tế không thay đổi, làm ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ. Nếu không thì hệ thống NHTM huy động của dân làm gì cho tốn kém, vay NHNN cho xong.

    Có lẽ tôi chưa hiểu hết ý tứ của tác giả, nhưng tôi không thể đồng ý với những ý kiến kiểu này. Tất nhiên đó chỉ là những ý kiến cá nhân của tôi muốn chia sẻ cùng các bạn.

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Tài chính

Nguyễn Hoàng Long

10:19 (GMT+7) - Thứ Năm, 9/2/2012

Trong cơ chế thị trường, các ngân hàng thương mại cũng là những doanh nghiệp hoạt động trong môi trường cạnh tranh. Việc các doanh...

Trong bài: “Phải giải quyết thanh khoản ngân hàng trong quý 1/2012” (2 ý kiến)

Khánh Hà

09:17 (GMT+7) - Thứ Năm, 9/2/2012

Một điều dễ hiểu khi các NH không muốn giảm lãi suất cho vay và hết kêu ca về thanh khoản là: có trần lãi...

Trong bài: “Phải giải quyết thanh khoản ngân hàng trong quý 1/2012” (2 ý kiến)

Dang Hai

08:37 (GMT+7) - Thứ Năm, 9/2/2012

Trong trường hợp này theo tôi ngân hàng là người chịu thiệt nhất. Cán bộ pháp chế của ngân hàng này nói chung là yếu...

Trong bài: Cực hình từ tín dụng “đen” (35 ý kiến)

Thiên An Bình

11:55 (GMT+7) - Thứ Tư, 8/2/2012

Vàng có thể lên nữa tùy theo kinh tế thế giới khỏe hay yếu nhưng đô la không thể lên được mà có nhích lên...

Trong bài: Giá vàng trong nước đuối sức khi USD tự do lao dốc mạnh (1 ý kiến)

Pvd

10:37 (GMT+7) - Thứ Tư, 8/2/2012

Cứ “chăm chăm” nhìn vào vốn huy động đầu vào là không ổn! Ngẫm lại thấy ý Thiên An Bình quả là rất chí lý. Dẫu tín...

Trong bài: Phía sau 2,8 triệu tỷ đồng vốn (2 ý kiến)