Khó hạ lãi suất vì yêu cầu trích dự phòng quá cao?

MINH ĐỨC

11/08/2010 03:00 (GMT+7)

picture VNBA đề nghị Ngân hàng Nhà nước cho giảm tỷ lệ dự phòng chung từ 0,75% xuống 0,5%, đồng thời cho phép kéo dài thời gian các tổ chức tín dụng phải thực hiện trích lập dự phòng chung đến thời gian phù hợp hơn để các ngân hàng có điều kiện giảm lãi suất cho vay - Ảnh: Reuters.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Các ngân hàng thương mại khó đảm bảo hiệu quả kinh doanh và giảm lãi suất cho vay khi yêu cầu tỷ lệ trích lập dự phòng hiện nay quá cao.

Đây là nhận định của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) trong văn bản gửi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước mới đây, bên cạnh những phản hồi và đề xuất về những nội dung của Thông tư số 13.

Cụ thể, VNBA cho rằng Ngân hàng Nhà nước cần xem xét lại và điều chỉnh một số quy định đặt ra trong Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng, ban hành đã cách đây 5 năm.

Điều 9 của Quyết định 493 (về tỷ lệ dự phòng chung) có quy định:

“1. Tổ chức tín dụng thực hiện trích lập và duy trì dự phòng chung bằng 0,75% tổng giá trị các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 quy định tại Điều 6 hoặc Điều 7 Quy định này.

2. Trong thời hạn tối đa năm (05) năm kể từ ngày Quy định này có hiệu lực thi hành, tổ chức tín dụng phải thực hiện trích lập đầy đủ số tiền dự phòng chung theo quy định tại Khoản 1, Điều này”.

Với những quy định trên, Hiệp hội Ngân hàng cho rằng, trong điều kiện hoạt động của các ngân hàng thương mại hiện nay, tỷ lệ trích lập dự phòng chung 0,75% trên là quá cao. Vì hiện nay, chênh lệch lãi suất huy động và lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại rất thấp, khoảng 2%, thậm chí có ngân hàng thương mại mức chênh lệch này còn 1,5% - 1,8%.

“Việc các ngân hàng thương mại còn phải trích lập dự phòng chung theo quy định là 0,75% trên dư nợ cho vay từ nhóm 1 đến nhóm 4 sẽ rất khó cho các ngân hàng đảm bảo hiệu quả kinh doanh và thực hiện chủ trương của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về việc giảm lãi suất cho vay”, VNBA lập luận.

Và kiến nghị mà đầu mối này đưa ra trong văn bản gửi Thống đốc là “đề nghị Ngân hàng Nhà nước cho giảm tỷ lệ dự phòng chung từ 0,75% quy định tại Quyết định 493 xuống còn 0,5%, đồng thời cho phép kéo dài thời gian các tổ chức tín dụng phải thực hiện trích lập dự phòng chung đến thời gian phù hợp hơn để các ngân hàng có điều kiện giảm lãi suất cho vay”.

Cũng trong Quyết định 493, Điều 19, Khoản 2 quy định: “Các ngân hàng thương mại nhà nước đánh giá tình hình trích lập dự phòng cụ thể và khả năng trích lập dự phòng chung báo cáo Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính xem xét quyết định trên cơ sở từng trường hợp cụ thể nhưng tối đa không quá năm (05) năm, các ngân hàng thương mại nhà nước phải trích lập đầy đủ dự phòng theo Quy định này”.

VNBA cho biết, căn cứ theo quy định trên, đến hết năm nay (năm 2010), các ngân hàng thương mại nhà nước phải thực hiện trích lập dự phòng đầy đủ theo Điều 6 và Điều 7 của Quyết định 493.

“Theo một số ngân hàng thương mại, nếu áp dụng phân loại nợ mới theo Điều 7 của Quyết định 493 thì tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng sẽ tăng lên rất lớn, do đó số tiền phải trích lập dự phòng rủi ro cao hơn.

Trong điều kiện kinh tế bình thường, việc phân loại nợ theo Điều 7 là cần thiết để quản trị tín dụng, phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, trong điều kiện các ngân hàng thương mại hiện nay đang phải cùng một lúc chuẩn bị kế hoạch tăng vốn, thực hiện các tiêu chí an toàn vốn theo Thông tư 13 mà phải thực hiện phân loại nợ theo Điều 7 sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng”, văn bản của VNBA viết.

Với những lập luận trên, đầu mối đại diện cho các ngân hàng thương mại đưa ra đề nghị Ngân hàng Nhà nước xem xét cho kéo dài thời gian thực hiện cách phân loại nợ mới theo Điều 7 Quyết định 493 thêm một thời gian nữa.

* Theo “Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng” (ban hành theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN), việc phân loại nợ của các tổ chức tín dụng thực hiện theo các nhóm từ 1 đến 5, theo các mức độ từ “Nợ đủ tiêu chuẩn”, “Nợ cần chú ý”, “Nợ dưới tiêu chuẩn”, “Nợ nghi ngờ” và “Nợ có khả năng mất vốn”; các nhóm này ứng với các tiêu chí về thời gian quá hạn của khoản nợ và mức độ yêu cầu tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể.

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Nghiatq

    15:24 (GMT+7) - Thứ Năm, 12/8/2010

    Thứ 1: Trích lập dự phòng được quy định cách đây 5 năm (QĐ 493/2005), một thời gian rất dài để chuẩn bị, có thể, SBV cũng “lo” ảnh hưởng đến kết quả lợi nhuận (kế toán) của các NHTM nên mới cho thời gian là 5 năm (mỗi năm tăng lên một ít)!

    Vấn đề như TT13 thì có thể xem xét cho hợp lý, còn quy định về trích lập dự phòng đã có cách đây 5 năm và được đánh giá như một bước tiến hết sức quan trong trong quản trị ngân hàng. Nếu cứ khó khăn là …xin thì có lẽ sẽ là tiền lệ xấu!

    Thứ 2: Có một điều chúng ta không xác định được, nhưng rất quan trong đó là, nếu trích lập dự phòng cao thì có làm chất lượng khoản nợ tăng lên hay giảm xuống? (Theo tôi thì …tăng lên do tâm lý!)

    Một mặt khác, sự gia tăng của của Loan loss reserve hoặc allowance for loan losses do việc trích lập dự phòng (theo QD 493 của NHNN năm 2005), khi dư nợ tăng lên, khoản này củng tăng lên (cả dự phòng chung – từ nhóm 1 đến nhom 4 và dự phòng cụ thể theo cách phân loại nhóm nợ). Bên cạnh đó, khoản giảm trừ dự phòng do thu hồi được nợ xấu sẽ được trừ ra khỏi phần Loan loss reserve làm cho Loan Loss Provision giảm xuống, do đó, lợi nhuận tăng lên.

    Do đó, khi tính thêm thuế, nếu quản lý nợ xấu tốt (không bị write off), thì tất nhiên cho dù có trích lập dự phòng có cao hơn thì dòng tiền ra (cash flow out) là không đổi, trong khi đó, dòng tiền ra của thuế (cash flow out of tax income) lại giảm (lợi thuế), do đó, cổ đông sẽ được lợi.

    Thứ 3: Trong 5 năm qua, việc trích lập dự phòng ít, dẫn đến các NHTM đã mất một khoản “lợi thuế chậm nộp” trong năm năm qua (tùy vào việc trích lập hàng năm).

    Các NHTM nên cân nhắc kỹ việc này.

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Tài chính

Thiên An Bình

14:19 (GMT+7) - Thứ Sáu, 3/2/2012

Nếu bán vàng hỗ trợ thanh khoản chỉ như muối bỏ biển và thực chất là giảm dự trữ bắt buộc chung cả hệ thống....

Trong bài: Lo thanh khoản yếu, ngân hàng xin xuất vàng (3 ý kiến)

Hải Triều

10:15 (GMT+7) - Thứ Sáu, 3/2/2012

Đồng ý với bạn Braveman! Theo tôi, đây là hậu quả của việc điều hành nền kinh tế theo mệnh lệnh áp đặt, bất chấp...

Trong bài: Lo thanh khoản yếu, ngân hàng xin xuất vàng (3 ý kiến)

Braveman

09:09 (GMT+7) - Thứ Sáu, 3/2/2012

Bán vàng tài khoản thì có nghĩa các ngân hàng phải mua vàng trong nước để cân bằng --> giá vàng trong nước sẽ tăng...

Trong bài: Lo thanh khoản yếu, ngân hàng xin xuất vàng (3 ý kiến)

114111

07:18 (GMT+7) - Thứ Sáu, 3/2/2012

Nếu xử thật nghiêm việc niêm yết, giao dịch hàng hoá thương mại bằng đồng đô la và giao dịch đô la chợ đen. Và nếu...

Trong bài: VND sẽ không phá giá quá mạnh trong năm nay? (1 ý kiến)

Đặng Xuân Tấn

16:19 (GMT+7) - Thứ Năm, 2/2/2012

Nên đọc bài phản biện của Tiến sĩ Lê Hông Giang (TS Lê Hồng Giang: Dòng vốn chảy vào vượt nhiều lần giá trị 500...

Trong bài: “Sẽ tổ chức hệ thống đại lý huy động vàng” (8 ý kiến)