Tiêu thụ hàng Việt: Vẫn mạnh ai nấy làm?

HỒNG THOAN

13/08/2010 09:00 (GMT+7)

picture Hàng hóa đến tay người tiêu dùng chủ yếu vẫn qua hệ thống chợ (khoảng 40%) và hệ thống các cửa hàng bán lẻ độc lập (khoảng 44%) - Ảnh: Việt Tuấn.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Hiện nay, sản phẩm của nhiều doanh nghiệp Việt Nam sản xuất ra đang dư thừa nhưng việc tiêu thụ lại rất khó khăn do mối liên kết giữa doanh nghiệp sản xuất với nhà phân phối chưa thực sự chặt chẽ mà chủ yếu là theo hướng tự phát.

Đây là nhận định được đưa ra tại hội thảo "Kết nối nhà sản xuất và nhà phân phối vì người tiêu dùng Việt Nam", do Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp (BSA) kết hợp với Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công Thương) tổ chức ngày 12/8.

Ông Trương Quang Hoài Nam, Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước cho rằng, Bộ Công Thương trước đây quá chú trọng đến đẩy mạnh xuất khẩu nên chỉ có Chương trình xúc tiến xuất khẩu, cho tới năm 2009 mới có Chương trình xúc tiến thương mại thị trường trong nước một cách rõ ràng và cụ thể. Nhờ đó mà hiệu quả của hàng Việt tại thị trường nội địa có thể định lượng, đo đếm được bằng số lượng các doanh nghiệp tham gia, số lượng các mặt hàng phục vụ người tiêu dùng trên cả nước, đặc biệt là các khu vực thị trường nông thôn.

Tuy nhiên, cần phát triển chương trình xúc tiến thương mại thị trường trong nước thành một chương trình dài hạn, nếu các cơ quan nhà nước chỉ tạo cú hích rồi để tự phát triển thì chắc chắn sẽ bị đứt đoạn.

Trên thực tế, hàng hóa đến tay người tiêu dùng chủ yếu vẫn qua hệ thống chợ (khoảng 40%) và hệ thống các cửa hàng bán lẻ độc lập (khoảng 44%), lượng hàng hóa phân phối thông qua các kênh hiện đại như siêu thị, cửa hàng tiện lợi chỉ chiếm khoảng 10%, còn lại 6% là do nhà sản xuất trực tiếp bán thẳng.

Người tiêu dùng Việt Nam đang chuyển đổi dần thói quen mua sắm từ các chợ sang các siêu thị, các cửa hàng lớn và các trung tâm mua sắm. Trước xu hướng các kênh bán lẻ truyền thống sẽ bị thu hẹp dần, nhường chỗ cho các kênh mua sắm hiện đại, nhiều doanh nghiệp sản xuất, thương mại của Việt Nam đã sớm quan tâm đến việc đầu tư, xây dựng và phát triển mạng lưới phân phối hàng hóa. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, các doanh nghiệp của Việt Nam mới chỉ tập trung phát triển hệ thống phân phối hiện đại tại khu vực thành thị, hệ thống bán hàng của doanh nghiệp tại khu vực nông thôn chưa được bao kín và hoạt động kém hiệu quả.

Từ kinh nghiệm thực tiễn, bà Mai Khuê Anh, Giám đốc điều hành khối sản phẩm dịch vụ cao cấp, Tổng công ty Thương mại Hà Nội (Hapro) chỉ rõ, điều đáng chú ý là sự liên kết giữa các nhà sản xuất và các doanh nghiệp thương mại của Việt Nam để tạo thành một kênh phân phối thống nhất hợp lý cung cấp hàng hóa cho thị trường nông thôn còn rất hạn chế, chủ yếu là mạnh ai nấy làm. Các doanh nghiệp sản xuất, thương mại lớn chưa đóng vai trò là nơi phát nguồn, là người bán buôn trực tiếp cho thị trường nông thôn. Việc sử dụng các chủ thể kinh doanh tại chỗ làm đại lý bán hàng còn nhiều bất cập, các chủ hộ kinh doanh còn trực tiếp lên các thành phố để lấy hàng.

Ông Vũ Vinh Phú, Chủ tịch Hiệp hội Siêu thị Hà Nội cảnh báo rằng, nếu thiếu những cái bắt tay, hợp tác giữa các nhà sản xuất và nhà phân phối Việt Nam để cùng phát triển thì các tập đoàn phân phối, bán lẻ nước ngoài đang mở rộng mạng lưới phân phối ở Việt Nam sẽ nhanh chóng thế vào vị trí này để chiếm lĩnh toàn bộ thị trường. Hiện nay, sản phẩm của nhiều doanh nghiệp Việt Nam sản xuất ra đang dư thừa nhưng việc tiêu thụ lại rất khó khăn do mối liên kết giữa doanh nghiệp sản xuất với nhà phân phối chưa thực sự chặt chẽ mà chủ yếu là theo hướng tự phát.

Chia sẻ kinh nghiệm hợp tác thành công, đại diện của Hapro cho biết, hồi đầu năm 2009, trong cơ cấu hàng hóa kinh doanh tại hệ thống bán lẻ của Hapro Mart hàng Việt chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 60 - 70%. Sau một năm hưởng ứng cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” với định hướng ưu tiên những hàng hóa nội địa có chất lượng, có thương hiệu thay thế hàng ngoại nhập, Hapro Mart đã tăng cường liên kết với các nhà sản xuất trong nước, nâng tỷ lệ hàng Việt trong hệ thống bán lẻ Hapro Mart lên khoảng 75 – 80%, đặc biệt đối với nhóm các mặt hàng thiết yếu đạt tới 95% là hàng nội. Theo đó, doanh thu cũng tăng thêm khoảng 20 – 30% so với năm trước đó.

Ông Trương Quang Hoài Nam cho rằng, một điều quan trọng là các bộ, ngành liên quan phải hình thành nên một hệ thống thông tin thị trường cung cấp cho doanh nghiệp, kết nối thông tin cho tất cả những doanh nghiệp với người bán lẻ. Ví dụ như đối với hàng nông sản thì phải nắm được thông tin vùng nào, xã nào, bán mặt hàng nào, ai là người bán để hỗ trợ ngay cho doanh nghiệp khi cần thiết.

Bà Vũ Kim Hạnh, Giám đốc Trung tâm BSA cũng chỉ ra những điều mà WTO bật “đèn xanh”, không cấm như cung cấp thông tin thị trường, cung cấp các dịch vụ huấn luyện, đào tạo, tổ chức các chương trình bán hàng chung cho doanh nghiệp... vẫn chưa được Việt Nam làm thật mạnh và hiệu quả. Trong khi đó, nhiều nhà phân phối của Việt Nam đang định hướng sẽ tập trung phát triển hoạt động phân phối hàng hóa, đặc biệt là hàng Việt Nam có chất lượng, có thương hiệu, tại khu vực thị trường nông thôn, làm bước đệm để hình thành và phát triển hệ thống văn minh, hiện đại, phục vụ thường xuyên, rộng khắp tại nông thôn.

Cùng nằm trong giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng Việt, bà Vũ Kim Hạnh cho rằng, chỉ thông qua liên kết, hợp tác các doanh nghiệp Việt Nam mới có cơ hội đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm hàng hóa tại thị trường trong nước, đồng thời góp phần xây dựng thương hiệu mạnh để có thể đưa sản phẩm vươn ra thị trường nước ngoài. Để thực hiện được điều này, trước hết, các doanh nghiệp sản xuất và phân phối cần ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác, sau đó cùng phối hợp triển khai các chương trình hành động cụ thể để chiếm lĩnh lại thị trường nội địa.

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Lương Thu Hà

    00:07 (GMT+7) - Thứ Bảy, 7/5/2011

    Cho đến giờ đã gần 3 năm kể từ khi cuộc vận động người Việt dùng hàng được triển khai, tôi vẫn chưa thấy có gì thay đổi nhiều trong cách phân phối hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam.

    Không lẽ cuộc vận động này chỉ hướng về phía người tiêu dùng, để người tiêu dùng chạy đến các doanh nghiệp chứ không phải là các doanh nghiệp cũng cần chủ động hơn trong khâu phân phối sản phẩm?

  • Lê Minh Châu

    09:56 (GMT+7) - Thứ Sáu, 13/8/2010

    Ngoài các doanh nghiệp cung cấp vật tư nông nghiệp, cây, con giống, không nhiều doanh nghiệp chú trọng đầu tư vào sản phẩm, dịch vụ cho khu vực thị trường nông thôn. Thực tế là nhu cầu của khu vực này cũng tương đối thấp, sức mua và giá trị gia tăng… không cao hơn so với khu vực thành thị. Như vậy, bản thân các nhà sản xuất và cung ứng dịch vụ đã không chú ý nhiều đến khu vực này mà tập trung nhiều hơn vào các sản phẩm phục vụ các đối tượng ở khu vực thành thị.

    Các chương trình xúc tiến thương mại của nhà nước cho khu vực nông thôn cũng không thể kéo dài và dàn trải, phải nói là ít hiệu quả về lâu dài nếu tự thân các doanh nghiệp không phát triển thị phần của mình theo hướng này.

    Tình trạng hàng Việt tiêu thụ chậm, dư thừa nhiều không chỉ do thiếu mối liên kết chặt chẽ với các nhà phân phối. Nguyên nhân là do chất lượng và gia thành chưa hợp lý lại tập trung nhiều ở các đô thị lớn là khu vực phải cạnh tranh khốc liệt với hàng ngoại cũng như chưa bắt kịp với nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng tại khu vực này.

    Thực tế cho thấy là một số sản phẩm Việt đã thành công trong việc xây dựng được uy tín bằng việc nâng cao chất lượng, mẫu mà sản phẩm. Doanh số của các doanh nghiệp này vẫn tăng trưởng rất tốt không chỉ vì các đợt khuyến mại mà do lòng tin của khách hàng ngày càng tăng lên.

    Đẩy mạnh tiêu thụ hàng Việt, trước hết phải là trách nhiệm của các doanh nghiệp. Phát triển thị trường vào khu vực nào là tùy thuộc vào định hướng chiến lược phát triển và kinh doanh của từng doanh nghiệp. Không thể trông chờ vào sự hỗ trợ nhất thời của các chiến dịch xúc tiến thương mại từ phía nhà nước. Nhà nước nên hỗ trợ các doanh nghiệp bằng các chính sách ưu đãi về thuế và sử dụng công cụ này một cách có hiệu quả từ việc đầu tư sản xuất các sản phẩm phục vụ khu vực nông nghiệp, nông thôn cho đến ưu tiên phát triển hệ thống tiêu thụ tại khu vực này. So với các chiến dịch vận động rầm rộ, các hoạt động xúc tiến tốn không ít tiền từ ngân sách thì cách làm này xem ra vẫn căn cơ và hiệu quả hơn.

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Thị trường

Huỳnh Văn Hà

21:37 (GMT+7) - Thứ Sáu, 25/5/2012

Tôi rất khâm phục FPT trong mảng công nghệ thông tin nhưng đối với mảng điện tử gia dụng tôi thấy FPT sẽ gặp rất...

Trong bài: FPT bắt đầu kinh doanh hàng điện tử gia dụng (1 ý kiến)

nguyenchinh

21:16 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

PhẢI thông cảm cho bộ tài chính vì khi tăng nhiêù là chúng ta đã kìm hãm quá lâu, còn khi có cơ hôị giảm...

Trong bài: Giá xăng dầu trong nước “lùi” một bước nhỏ (6 ý kiến)

Bùi Mạnh Hà

21:00 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

Giá xăng tăng một phát tới 2000đ/lít nhưng giảm 2 lần mới có 1100đ/lít. Bộ tài chính điều hành giá xăng dầu khó hiểu quá......

Trong bài: Giá xăng dầu trong nước “lùi” một bước nhỏ (6 ý kiến)

luuly

19:54 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

Giảm chẳng để làm gì. Giá xăng thế giới bây giờ còn thấp hơn lúc chưa tăng 3000....

Trong bài: Giá xăng dầu trong nước “lùi” một bước nhỏ (6 ý kiến)

Vandong

18:38 (GMT+7) - Thứ Tư, 23/5/2012

Thất vọng!!! Việc giảm không theo tỷ lệ theo giá xăng của thế giới vô hình chung chỉ có lợi duy nhất cho các đầu mối...

Trong bài: Giá xăng dầu trong nước “lùi” một bước nhỏ (6 ý kiến)