VnEconomy > Thời sự 00:44 (GMT+7) - Thứ Hai, 6/9/2010

10 nghịch lý của kinh tế Việt Nam

Xét theo ý nghĩa phát triển (rộng hơn, thực chất hơn so với tăng trưởng), thì kinh tế Việt Nam còn đứng trước nhiều nghịch lý...

10 nghịch lý của kinh tế Việt Nam

Việt Nam tăng trưởng liên tục trong 30 năm với tốc độ tăng 6,73%/năm, nhưng vẫn chưa được coi là phát triển bền vững, bởi chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp, về mặt xã hội còn nhiều vấn đề bức xúc, việc bảo vệ và cải thiện môi trường còn nhiều hạn chế.

Kinh tế Việt Nam không bị cuốn vào vòng xoáy của cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế thế giới, tăng trưởng đã thoát đáy vượt dốc đi lên và đang dần phục hồi.

Tuy nhiên xét theo ý nghĩa phát triển (rộng hơn, thực chất hơn so với tăng trưởng), thì kinh tế Việt Nam còn đứng trước nhiều nghịch lý, trong đó có 10 nghịch lý được xét trên các góc độ khác nhau.

Một là, tăng trưởng cao hơn nhưng vẫn tụt hậu, thậm chí còn tụt hậu xa hơn.

Năm 2010 (tạm tính tăng 6,5%), GDP của Việt Nam so với năm 1985 cao gấp gần 5,2 lần (bình quân thời kỳ 1986 - 2010 tăng 6,8%/năm); so với năm 1990 cao gấp trên 2 lần (bình quân thời kỳ 1991- 2010 tăng 7,4%/năm). Đó là những tốc độ tăng khá cao.

GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái bình quân năm 2008 của Việt Nam đạt 1.052 USD (năm 2010 ước tính sẽ đạt khoảng 1.138 USD), thấp xa so với các con số tương ứng của nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á (Singapore 37.597,3 USD, Brunei 35.623 USD, Malaysia 8.209,4 USD, Thái Lan 4.042,8 USD, Indonesia 2.246,5 USD, Philippines 1.847,4 USD).

GDP bình quân đầu người của Việt Nam mới bằng 42,8%, con số tương ứng của khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 7/11 nước; bằng 26% con số tương ứng của châu Á và đứng thứ 36/50 nước và vùng lãnh thổ có số liệu so sánh; bằng 11,7% con số tương ứng của thế giới và đứng thứ 138/182 nước và vùng lãnh thổ có số liệu so sánh.

Nếu họ “đứng yên” thì cũng phải nhiều năm sau Việt Nam mới bằng mức hiện nay của họ. Nhưng đó chỉ là giả thiết, thực tế họ vẫn tiến, thậm chí có nước, có năm còn tiến nhanh hơn.

Từ các con số trên, có thể rút ra hai nhận xét đáng lưu ý. Một, thứ bậc về GDP bình quân đầu người của Việt Nam vẫn nằm ở nửa dưới trong các nước ở khu vực Đông Nam Á, ở châu Á và trên thế giới. Hai, do giá trị của 1% tăng lên của GDP bình quân đầu người của Việt Nam còn thấp như trên, nên tốc độ tăng chỉ tiêu này của Việt Nam phải cao gấp đôi tốc độ tăng của khu vực Đông Nam Á, cao gấp trên 4 lần tốc độ tăng của châu Á và cao gấp 9 lần tốc độ tăng trung bình của thế giới thì mới không bị tụt hậu xa hơn (chênh lệch tuyệt đối giảm).

Hai là, tăng trưởng liên tục trong thời gian dài, nhưng vẫn chưa được coi là phát triển bền vững.

Tăng trưởng kinh tế sau khi bị giảm trong năm 1979 và năm 1980, thì từ năm 1981 đã tăng trưởng liên tục, tính đến năm 2010 này là 30 năm, vượt kỷ lục cũ của Hàn Quốc (23 năm tính đến năm 1996) và hiện chỉ thấp hơn kỷ lục 32 năm hiện do Trung Quốc đang nắm giữ.

Tăng trưởng liên tục trong 30 năm với tốc độ tăng 6,73%/năm, nhưng vẫn chưa được coi là phát triển bền vững, bởi chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp, về mặt xã hội còn nhiều vấn đề bức xúc, việc bảo vệ và cải thiện môi trường còn nhiều hạn chế.

Tăng trưởng kinh tế chủ yếu do sự đóng góp của yếu tố tăng vốn (chiếm khoảng 52 - 53%); do sự đóng góp của yếu tố tăng số lượng lao động (chiếm khoảng 19 - 20%); còn yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp (gồm hiệu quả sử dụng vốn, năng suất lao động trên cơ sở khoa học - công nghệ) mới chiếm 28 - 29%, thấp xa so với con số 35 - 40% của một số nước trong khu vực.

Kinh nghiệm trong lịch sử và kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, mục tiêu cuối cùng đạt được không phải chỉ bằng tốc độ tăng trưởng cao trong ngày hôm nay, mà phải bằng độ bền của tốc độ tăng trưởng trong dài hạn. Đã đến lúc, nếu không nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát triển bền vững, thì ngay cả việc tăng trưởng với tốc độ cũ cũng khó mà đạt được.

Ba là, mở cửa hội nhập để đẩy mạnh xuất khẩu, nhưng nhập siêu liên tục với quy mô lớn.

Nhập siêu của Việt Nam có năm điểm đáng lưu ý. Một, nhập siêu gần như liên tục, trong thời gian dài. Trong 25 năm đổi mới, chỉ có một năm xuất siêu nhẹ (41 triệu USD) và cách đây cũng đã khá lâu (năm 1992), còn có tới 24 năm nhập siêu. Hai, mức nhập siêu khá lớn (năm 2008 lên đến trên 18 tỷ USD và 4 năm nay, nếu tính bằng tỷ USD đã ở mức hai chữ số); tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu, so với GDP vượt mức an toàn (trên 20%).

Ba, mở cửa, hội nhập là để tìm thị trường tiêu thụ, nhưng gần như càng mở cửa, hội nhập thì càng nhập siêu. Đặc biệt nhập siêu lại bùng lên khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Bốn, nhập siêu thường kèm theo là giá giảm, người tiêu dùng được hưởng lợi, nhưng trong khi sản xuất trong nước thì bị cạnh tranh, giảm thị phần, còn người tiêu dùng vẫn phải mua giá cao. Điểm thứ năm, nhập siêu không phải từ thị trường có hàng kỹ thuật cao, có công nghệ nguồn, mà lại từ các thị trường không phải có kỹ thuật cao, có công nghệ nguồn - đặc biệt là từ thị trường Trung Quốc.

Bốn là, chuyển sang kinh tế thị trường đã nhiều năm, nhưng thể chế chuyển chậm.

“Bàn tay hữu hình” còn quá dài, trong khi “bàn tay vô hình” còn quá ngắn. Doanh nghiệp nhà nước giảm về số lượng, nhưng phình to về quy mô, chiếm tỷ trọng lớn về vốn, chiếm tỷ trọng nhỏ về lao động; doanh nghiệp tư nhân ra đời nhiều, giải quyết được nhiều công ăn việc làm, nhưng quy mô nhỏ, chậm lớn. Cải cách hành chính chậm, thủ tục hành chính còn nặng nề. Chi phí bất hợp lý, thậm chí bất hợp pháp còn nhiều. Cạnh tranh chưa bình đẳng, “ra sân chơi chung, nhưng đã chấm trước người thắng kẻ thua”. Kinh tế thị trường nhưng độc quyền còn lớn.

Năm là, chuyển sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã trên 15 năm, nhưng tính gia công còn nặng. Do gia công nặng, nên vừa làm cho giá trị tăng thêm thấp, vừa phụ thuộc vào nước ngoài, làm tăng nhập siêu, dễ bị ảnh hưởng khi thị trường nước ngoài gặp bất ổn.

Sáu là, “tam nông” rất quan trọng, nhưng chưa được quan tâm tương xứng.

Việt Nam xuất phát từ nông nghiệp đi lên; tỷ lệ dân số nông thôn từ trên 90% trước Cách mạng đã giảm xuống nhưng hiện vẫn còn chiếm 70%; tam nông đã đóng góp tích cực trong việc giúp cho đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội tiềm ẩn từ cuối những năm 70, bùng phát trong thập kỷ 80, kéo dài tới đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước; giúp ổn định ở trong nước để ứng phó với cuộc khủng hoảng khu vực những năm 1997 - 1998, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới 2008- 2009,... nhưng tỷ trọng vốn đầu tư cho nông, lâm - thủy sản trong tổng vốn đầu tư phát triển xã hội giảm và hiện ở mức thấp (năm 2000 chiếm 13,8%, năm 2005 còn 7,5%, năm 2009 còn 6,3%).

Diện tích đất nông nghiệp, đặc biệt đất trồng lúa giảm. Chênh lệch giữa thành thị và nông thôn còn lớn cả về thu nhập, chi tiêu, nhà ở, điện nước, vệ sinh, đồ dùng lâu bền... còn lớn. Tỷ lệ nghèo ở nông thôn cao gấp đôi ở thành thị, số người nghèo ở nông thôn chiếm trên dưới 90% tổng số hộ nghèo của cả nước...

Bảy là, với mục tiêu tăng trưởng cao, Việt Nam đã kích cầu đầu tư lớn (có tỷ lệ đầu tư so với GDP đứng hàng đầu thế giới), nhưng lãi suất vay vốn ở Việt Nam cũng thuộc loại cao so với các nước và vùng lãnh thổ. Thu nhập và sức mua có khả năng thanh toán của dân cư còn thấp do thu nhập của lao động thấp; nhưng khi kích cầu đầu tư và tiêu dùng thì có một phần không nhỏ hàng hóa, vật tư của nước ngoài nhập siêu vào chiếm lĩnh thị phần.

Tám là, tỷ lệ tiết kiệm, tỷ lệ động viên tài chính cao, nhưng tỷ lệ bội chi ngân sách lớn và tăng.

Tỷ lệ tích lũy so với GDP của Việt Nam đã tăng khá nhanh (từ 27,1% năm 1995 lên 29,6% năm 2000, lên 35,6% năm 2005, lên 43,1% năm 2007, vài năm có giảm xuống nhưng năm 2009 vẫn ở mức 38,1%, thuộc loại cao trên thế giới.

Tỷ lệ tổng thu ngân sách so với GDP của Việt Nam tăng và thuộc loại cao (nếu năm 2000 mới đạt 20,5% thì năm 2005 đã đạt 27,2%, năm 2008 là 28,1%), nhưng tỷ lệ bội chi so với GDP tăng lên (từ 4,1% năm 2000 lên 5,2% năm 2008, lên 6,9% năm 2009 và năm 2010 có thể giảm xuống nhưng vẫn ở mức cao trên 6%). Đây là một trong những yếu tố làm bất ổn vĩ mô, yếu tố tiềm ẩn của lạm phát.

Chín là, khoa học - công nghệ là động lực của tăng trưởng, là yếu tố để nâng cao chất lượng tăng trưởng, nhưng tác động đối với nền kinh tế còn thấp.

Tỷ trọng hoạt động khoa học- công nghệ trong GDP nhiều năm nay chỉ chiếm 0,62-0,63%, tác động đối với tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế nhỏ. Tình hình này do nhiều nguyên nhân. Có nguyên nhân do đầu tư chưa đủ độ (năm 2009 đã tăng lên nhưng cũng chỉ chiếm 0,73% tổng vốn đầu tư toàn xã hội). Có nguyên nhân do cơ chế vận hành hoạt động này chậm được chuyển đổi, khi có cơ chế thì thực hiện còn lúng túng. Có nguyên nhân do hoạt động khoa học- công nghệ và hoạt động sản xuất kinh doanh chưa có sự kết hợp chặt chẽ. Thị trường khoa học công nghệ chậm hình thành và chậm phát triển.

Mười là, giáo dục được coi như quốc sách hàng đầu, nhưng còn nhiều hạn chế, bất cập.

Nếu khoa học - công nghệ là động lực của phát triển, thì giáo dục - đào tạo là chìa khóa của khoa học - công nghệ. Giáo dục - đào tạo sớm được xác định là quốc sách hàng đầu, với tỷ trọng chi cho giáo dục - đào tạo trong tổng chi ngân sách tăng. Ngành giáo dục - đào tạo liên tục cải cách, nhưng hiệu quả thấp...
  Bình luận (36)
Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết. Đang hiển thị 10/36 bình luận.
  • Bạn Sputnich thân mến, tôi chỉ là người bình thường đọc báo nhiều chớ chả phải chuyên gia gì đâu. Bạn nói ý kiến của tôi không mới thì tất nhiên rồi, vì tôi chỉ đưa ra cái mà người ta đã làm rồi chớ tự tôi có sáng tạo ra được đâu.

    Tôi lấy ví dụ về Hàn quốc là để nhấn mạnh cái hàm lượng giá trị gia tăng của VN trong hàng hóa và dịch vụ. Tốc độ tăng trưởng cao mà hàm lượng GTGT cao thì giá trị của sự tăng trưởng ấy là cấp số nhân so với hàm lượng GTGT thấp.

    Có bạn bảo rằng VN cần tham gia vào chuỗi sản xuất toàn cầu. Thì cũng thế. Hàm lượng GTGT quyết định ta đứng ở đâu trong cái chuỗi ấy. Ví dụ, ta may gia công mũ giày, mọi nguyên liệu, máy móc thiết bị để may đều phải nhập khẩu. Như vậy, cái mũ giày chưa phải là 1 sản phẩm hoàn chỉnh mà GTGT của ta chỉ là... công may.

    Thế chắc bạn đã hiểu là ta đứng ở đâu trong chuỗi rồi chứ. Chỉ là sản phẩm gia công thôi mà ta còn không đạt được 100% "made in VN" thì nói gì đến cái lớn hơn. Bao giờ mà da ta dùng để may mũ giày do chính ta lột từ con vật ta nuôi, thuộc da sống thành da công nghiệp đạt chuẩn xuất khẩu, kim, chỉ do ta tự sản xuất, máy may do ta tự chế tạo, thì cái mũ giày ấy mới đạt 100% "made in VN".

    Mới chỉ là cái mũ giày thôi, còn gót giày và đế giày nữa mới là 1 chiếc giày hoàn chỉnh, chưa kể kiểu dáng thiết kế. Đến lúc ấy thì vị trí của ta mới bằng vị trí của Hàn quốc... 15 năm trước hoặc bằng Trung quốc hiện nay.

    Nói như thế là để chứng minh ta tụt hậu đến mức nào, dù tốc độ tăng trưởng của ta có cao đến đâu.

    04:14 (GMT+7) - Thứ Tư, 15/9/2010 Trả lời Thích
  • Ý tưởng phản biện của bạn Phan Bảo Lâm rất hay nhưng cũng không mới. Đúng là tỷ trọng nhập khẩu đầu vào sản xuất càng nhiều thì tăng trưởng GDP càng ít ý nghĩa. Tuy nhiên yếu tố này phần nhiều đã phản ánh vào cán cân xuất nhập khẩu (nhập khẩu tăng).

    Tuy nhiên câu chuyện Hàn Quốc chỉ cần tăng trưởng với chỉ số tương tự VN hơn 20 năm đã trở thành một nước NICs có đáng để suy ngẫm và trả lời không? Những chỉ số nào kết hợp cùng để giải thích điều này?

    15:44 (GMT+7) - Thứ Ba, 14/9/2010 Trả lời Thích
  • Mục đích cuối cùng của phát triển kinh tế là nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của con người, phát triển các hệ thống an sinh xã hội, đảm bảo tính công bằng xã hội...

    Do đó, việc đem chỉ số GDP hay tốc độ tăng trưởng GDP ra so sánh là vô nghĩa (in term of development economics). VD: Mỹ là nước có GDP đứng đầu thế giới, nhưng hiện vẫn được xem là under-developed chứ không phải là developed country)

    Việc VN lựa chọn con đường phát triển kinh tế theo hướng nào (ưu tiên phát triển số lượng trước hay ưu tiên phát triển chất lượng trước) thì đó cũng chỉ là vấn đề đánh đổi giữa các lựa chọn thôi. Tuy nhiên, nguyên nhân dẫn đến thực trạng như hiện nay là vấn đề về năng lực chuyên môn, năng lực quản lý, tính minh bạch, tham nhũng... Những điều này thì chắc ai cũng thấy.

    16:01 (GMT+7) - Thứ Tư, 8/9/2010 Trả lời Thích
  • Bài viết đã tạo nhiều tranh luận, chứng tỏ nó mang tính thời sự và phù hợp với hiện trạng của kinh tế Việt nam, đang rất được nhiều người quan tâm.

    Chúc tác giả đủ sức khỏe có nhiều bài viết hay, để giúp ích cho sự phát triển bền vững của nước nhà.

    01:39 (GMT+7) - Thứ Tư, 8/9/2010 Trả lời Thích
  • 1 số bạn ngộ nhận về chỉ tiêu tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng.

    Chỉ tiêu tăng trưởng thuần túy chỉ nói đến số lượng, năng suất không phản ánh chất lượng thực tế của tăng trưởng. Chất lượng tăng trưởng phụ thuộc vào hàm lượng giá trị gia tăng của VN trong mỗi sản phẩm bán ra thị trường, dù là thị trường nội địa hay thị trường xuất khẩu cũng không có phân biệt gì. Khi ta đã tham gia toàn diện vào WTO thì 2 thị trường trên là 1.

    Ví dụ ta sản xuất 1 chiếc xe hơi mà đến 90% linh kiện thiết bị là nhập ngoại. Chiếc xe hơi ấy vẫn tính vào chỉ tiêu tăng trưởng nhưng 90% giá trị của nó lại chạy tọt ra nước ngoài. Vậy, chất lượng tăng trưởng thực của ta là... 10% của cái xe hơi tính vào chỉ tiêu tăng trưởng.

    Như vậy, dù ta có tăng trưởng đứng đầu TG 15-20% đi nữa ta vẫn không theo kịp thậm chí còn bị bỏ xa.

    Cái chỉ tiêu tăng trưởng 7-8%/năm trong hơn 20 năm qua là chỉ số ảo. Không tin thì so sánh với Hàn quốc xem. Họ bắt đầu tăng tốc phát triển kinh tế từ năm 1978, sau khi xóa bỏ chế độ độc tài, thiết lập chế độ dân chủ. Tốc độ tăng trưởng của họ cũng như chúng ta, xuất phát điểm tính trên bình quân GDP người của họ thậm chí còn kém ta 1 chút.

    Vậy mà chỉ sau 20 năm, họ được công nhận là NIC với bình quân GDP vượt 10 ngàn USD. 10 năm sau nữa thì họ đã là nước phát triển. Còn ta, với tốc độ ấy, thời gian ấy ta chỉ... vượt qua chuẩn nghèo. Đấy, ảo là ở chỗ ấy đấy.

    Mọi nước đều nỗ lực tăng hàm lượng GTGT vào sản phẩm còn ta thì tăng hàm lượng "yếu tố ngoại nhập" vào sản phẩm, theo bạn thì chỉ số tăng trưởng của ta trong những năm qua bao nhiêu % mới là thực chất?

    01:01 (GMT+7) - Thứ Tư, 8/9/2010 Trả lời Thích
  • Giải thích kĩ vậy rồi mà vẫn còn nhiều người hiểu sai như vậy mình mới thấy comment mình thật có ý nghĩa.... :D.

    Nhiều bạn cho rằng : "dù tăng trưởng thấp nhưng với xuất phát điểm GDP cao ngất ngưởng thì phần tăng tuyệt đối sẽ rất cao, cao hơn nhiều nước tăng trưởng cao nhưng có xuất phát điểm GDP thấp" --> Cái này đúng, nhưng với những năm đầu thì như thế, càng vì sau gia tốc tăng tuyệt đối càng giảm và đến một lúc nó sẽ không còn tăng nữa mà giảm. Đơn giản vì các bạn nên nhớ rằng khi tăng trưởng cao, phần bồi đắp cao sẽ khiến cho cơ số gốc ngày một tăng cao. Các bạn chạy Excel mà xem...

    Còn bạn Hieu nói rằng 7% - 2% = 5% chẳng có ý nghĩa gì cả, thực ra đấy là mình nói đơn giản, còn phức tạp hơn thì lấy hiệu tăng trưởng, vì tăng trưởng là logarit, thưởng của 2 logarit sẽ chính là hiệu của 7 và 2, vậy thôi. Đừng nghĩ đơn giản là mình trừ đi bởi vì nó vô nghĩa

    22:54 (GMT+7) - Thứ Ba, 7/9/2010 Trả lời Thích
  • Đang nói về kinh tế nhưng cho phép mình nói về toán một chút xíu thôi, nếu không ai đó đọc phần bình luận của bạn Tuanbass lại tưởng VN chỉ cần duy trì tốc độ tăng trưởng cao hơn các nước khác thôi là một ngày nào đó sẽ vượt qua họ. Nhận thức sai sẽ dẫn đến hành động sai.

    Bạn Tuấn đã sai ở chỗ chỉ tính toán dựa trên các số phần trăm (số tương đối). Trong trường hợp cụ thể này hai số 7% và 2% bạn đưa ra có mẫu số khác nhau một trời một vực. Vì vậy lấy 7% - 2% = 5% chẳng có ý nghĩa gì cả. Bạn tiếp tục tính toán trên các con số tương đối này rồi kết luận nền kinh tế nhỏ sẽ bắt kịp và vượt qua nền kinh tế lớn về số tuyệt đối, điều này hoàn toàn phi logic.

    Cứ lấy số tuyệt đối mà tính bạn à. Bạn sẽ thấy dù tăng trưởng thấp nhưng với xuất phát điểm GDP cao ngất ngưởng thì phần tăng tuyệt đối sẽ rất cao, cao hơn nhiều nước tăng trưởng cao nhưng có xuất phát điểm GDP thấp.

    Hơn nữa, tác giả bài viết đề cập đến GDP trên đầu người chứ không phải GDP của quốc gia. Nhưng mình nghĩ cũng không khác nhau lắm trong cách tính toán. Thậm chí cũng nên lưu ý rằng tốc độ tăng dân số của Việt Nam cao hơn các nước phát triển nhiều, tạo áp lực lên việc tăng GDP trên đầu người.

    Đôi dòng để mọi người hiểu rõ vấn đề hơn và tránh hiểu lầm ý kiến chính xác của tác giả. Ngoài ra không có ý gì khác.

    18:50 (GMT+7) - Thứ Ba, 7/9/2010 Trả lời Thích
  • Thực ra việc tăng trưởng GDP cao hơn thì đến một lúc nào đó cũng vẫn sẽ vượt qua các nước phát triển khác.

    Chẳng hạn giả sử VN tăng trưởng bình quân 6.7% năm, Mỹ tăng trưởng bình quân 2% năm thì đến khoảng năm 2085-2090, GDP của Việt Nam sẽ vượt Mỹ (các bạn đưa lên excel tính thử mà xem).

    Tuy nhiên, việc tăng trưởng với tốc độ cao như vậy trong từng đấy năm là không tưởng, nhất là khi tăng trưởng của VN chủ yếu dựa vào tăng vốn và lao động trong khi năng suất lao động ko được cải thiện nhiều.

    17:02 (GMT+7) - Thứ Ba, 7/9/2010 Trả lời Thích
  • Tuanbass hoặc hiểu nhầm ý tác giả (vì phần "tụt hậu" tác giả muốn so sánh GDP trên đầu người) hoặc Tuanbass không giỏi số học.

    Hãy thử so sánh VN và Mỹ có tăng trưởng GDP tương ứng là 7% và 2%. Hiện GDP/người của Mỹ là 40.000 USD, còn VN cứ cho là 1.200 USD thì mỗi năm ở Mỹ phần tăng thêm là 800 USD còn VN chỉ 84 USD. Càng chạy càng tụt như Rùa đuổi theo Asin vậy!

    Có điều tác giả gọi đây là "nghịch lý" thì tôi không đồng tình vì "nó" tất nhiên và dễ hiểu.

    15:48 (GMT+7) - Thứ Ba, 7/9/2010 Trả lời Thích
  • Có bạn đòi hỏi giải pháp, tôi xin mạn phép đưa ra giải pháp.

    Đó là luật pháp.

    Luật pháp tuy chỉ là đơn ngành nhưng tác động của nó đến các ngành và lĩnh vực khác là tác động trực tiếp. Thử tìm xem có cái gì trong xã hội con người không nằm trong khuôn khổ luật pháp?

    Luật pháp được thể hiện trên văn bản pháp lý và do cơ quan Nhà nước kiểm soát việc thực thi luật, mọi người mọi ngành tuân thủ và giám sát kiểm tra lẫn nhau. Luật pháp nghiêm khắc, chặt chẽ, khoa học thì mọi thứ sẽ được đặt đúng chỗ của nó. Sai lầm, khuyết điểm, thiếu tâm huyết, thiếu tầm nhìn, tiêu cực,... hết thảy đều được phát hiện và bổ cứu, sửa chữa kịp thời ngay từ khi phát sinh.

    Luật pháp lỏng lẻo, không khoa học, quá thiên về 1 mặt nào đó như chính trị, nhân đạo, cảm tính,... tất yếu dẫn đến tùy tiện, ai muốn làm gì thì làm, mọi thứ đều lộn xộn, sự việc phát sinh không được giải quyết ngay, càng để lâu càng lan rộng, dẫn đến mất kiểm soát.

    Cả 10 điểm nóng trên đều quan trọng, vậy ta nên bắt đầu từ điểm nào? Các điểm nóng này đều có liên quan với nhau, tương hỗ nhau, không thể tập trung vào điểm này mà bỏ rơi điểm kia. Tuy nhiên, cả 10 điểm trên đều có liên quan trực tiếp đến luật pháp.

    Như vậy, chỉ cần hoàn thiện luật pháp, 10 điểm trên tự động hoàn thiện chính nó. Nói thì dễ, làm mới khó. Luật pháp liên quan đến quyền lợi của cá nhân và tổ chức, nếu không có sự đồng thuận thì dù điều khoản luật ấy là tiến bộ nhất, hợp lý nhất (nhưng bất hợp lý với 1 nhóm nhỏ người có quyền lực) cũng không được thông qua.

    Bất kỳ nước tiên tiến nào, nếu xét tận cùng quá khứ xã hội và kinh tế của nó cũng bắt đầu từ luật pháp. Bạn tìm thử tôi xem có nước nào giàu mà luật pháp yếu kém không, hoặc ngược lại, luật pháp chặt chẽ mà nước đó lại nghèo không. Nền kinh tế của ta dựa vào vốn đầu tư FDI, vốn vay ODA, xuất khẩu, gia công,... tất cả những cái đó không phải phụ thuộc thì là gì? Mà đã phụ thuộc thì ta buộc phải chơi theo luật của người ta, đúng không? Có muốn chơi theo luật của mình cũng không được.

    Nhìn Trung quốc mà học hỏi. Họ cũng phát triển như ta, nhưng họ luôn áp luật của họ lên đầu các nhà đầu tư nước ngoài, chịu thì chơi, không chịu thì biến. Karl Marx nói "nếu lợi nhuận đạt đến 300% thì dù có treo cổ nhà tư bản vẫn không ngăn được họ". Trung quốc đã thành công khi áp dụng câu nói này. Họ đưa mồi nhử là lợi nhuận ra để buộc nhà tư bản phải chơi theo luật của họ.

    Ta có thể yếu kém về mọi mặt nhưng về luật pháp, ta phải chủ động. Thực tế, ta còn kém về mặt này và tất nhiên, mọi lĩnh vực khác đều tương tự. Cái vòng luẩn quẩn này sẽ chỉ chấm dứt khi Nhà nước có cái nhìn nghiêm túc về xây dựng luật pháp cũng như các thiết chế xã hội dân sự.

    Luật pháp tiến bộ là luật pháp mở, luôn tiếp nhận mọi sự phát sinh để điều chỉnh bổ sung đồng thời loại bỏ những điều khoản không còn hợp thời.

    15:47 (GMT+7) - Thứ Ba, 7/9/2010 Trả lời Thích
Xem tiếp bình luận
Bình luận của bạn
Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu.
Gõ Telex Gõ VNI
Chọn hình đại diện cho bình luận của bạn?