VnEconomy > Tài chính 23:12 (GMT+7) - Thứ Hai, 27/9/2010

Sửa đổi Thông tư 13: Một từ nhỏ, giá trị lớn?

Về hình thức, văn bản sửa đổi và bổ sung Thông tư 13 không nhiều thay đổi. Nhưng chỉ một từ trong đó có thể mang lại giá trị lớn...

Sửa đổi Thông tư 13: Một từ nhỏ, giá trị lớn?

Có thể kỳ vọng những điều chỉnh mới của Ngân hàng Nhà nước là một hướng hỗ trợ đối với các tổ chức tín dụng về nguồn vốn để cùng với các giải pháp hỗ trợ khác hướng tới định hướng hạ dần lãi suất.

Về hình thức, văn bản sửa đổi và bổ sung Thông tư 13 chỉ vẻn vẹn 3 trang A4, không nhiều thay đổi. Nhưng chỉ cần một từ trong đó có thể mang lại giá trị lớn.

Cuối cùng, kết quả sửa đổi và bổ sung Thông tư 13 đã được Ngân hàng Nhà nước “chốt” lại và công bố vào cuối chiều 27/9. Đó là Thông tư 19.

Về cơ bản, việc sửa đổi, bổ sung chỉ tập trung ở ba “vùng” nội dung. Nếu nhìn lại những kiến nghị dài 9 trang từ ý kiến của các thành viên thị trường, qua đầu mối Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) tập hợp trước đó, có thể là những tiếng thở dài chưa thỏa mãn.

Dễ hiểu khi suốt thời gian qua, một nội dung được nhiều ý kiến tập trung nhấn mạnh và phân tích đã không được đáp ứng. Đó là việc xét lại hệ số rủi ro (250%) đối với các khoản cho vay đầu tư, kinh doanh bất động sản và chứng khoán, nhưng không có một từ nào trong Thông tư 19 đề cập đến. Hay kiến nghị đưa tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức kinh tế vào vốn huy động để cho vay cũng chỉ được xét ở mức 25%. Rồi kiến nghị có thể giãn lộ trình thực hiện nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu từ 8% lên 9% cũng không được chấp thuận…

Thế nhưng, trong ba “vùng” nội dung đó, những quy định sửa đổi, bổ sung trong Thông tư 19 đã mang lại giá trị lớn cho các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng. Giá trị này, trước hết, được nhìn nhận ở góc độ tiếp cận văn bản pháp luật, hiểu theo nghĩa các ngân hàng, tổ chức tín dụng được phép làm “những gì pháp luật không cấm”.

Hay nói cách khác, đó là một giá trị ngoại suy mà không thể hiện trực tiếp ở các câu chữ, hay quy định cụ thể, chi tiết theo những điều chỉnh, bổ sung mới cho Thông tư 13.

Nội dung đầu tiên của Thông tư 19 đề cập đến việc sửa đổi quy định trong Khoản 2 Điều 1. So với Thông tư 13, ở đây cũng vẫn là 5 “gạch đầu dòng” các tỷ lệ bảo đảm an toàn quy định tại Thông tư. Thế nhưng đã có một chi tiết khác biệt.

Cụ thể, Điểm đ, của Khoản 2 Điều 1 đã có điều chỉnh là: “Tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động” thay cho “Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động” trong quy định của Thông tư 13. Mấu chốt giá trị nằm ở đây.

Một cách hiểu ngoại suy khi tiếp cận Thông tư 19, chỉ một điều chỉnh “nhỏ” ở trên, giữa “từ”“so với” đã thay đổi bản chất của quy định và ràng buộc đối với nguồn vốn mà các tổ chức tín dụng được phép dùng để cho vay. Tức là, quy định về tỷ lệ cấp tín dụng là đối với nguồn vốn “từ nguồn vốn huy động”. Ở đây có thể hiểu là nó độc lập với nguồn vốn tự có của các nhà băng.

Nói một cách hình ảnh, thay vì quy định an toàn khi tham gia giao thông, anh phải trang bị bảo hiểm cho tất cả các bộ phận trên cơ thể; nhưng theo điều chỉnh mới, anh chỉ phải đội mũ bảo hiểm để bảo vệ bộ phận quan trọng nhất và nhiều rủi ro nhất; các bộ phận khác có thể “thoải mái” hơn.

Dĩ nhiên, cách hiểu ngoại suy trên đối với quy định đó trong Thông tư 19 có thể cần sự giải thích cụ thể hơn từ Ngân hàng Nhà nước. Nhưng, một suy tính thông thường, khi chỉ quy định “từ nguồn vốn huy động”, mặc nhiên nguồn vốn tự có được loại trừ. Các ngân hàng theo đó có điều kiện thuận lợi hơn nhiều khi sử dụng nguồn vốn tự có và nguồn vốn này không chịu ràng buộc bởi tỷ lệ cấp tín dụng theo quy định các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong Thông tư.

Đi cùng với điều chỉnh trên, Mục 5 của Thông tư 13 cũng được thay đổi theo. Cụ thể, “Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động” (Thông tư 13) được thay bằng “Tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động” (Thông tư 19). Rõ ràng, đã có thay đổi lớn. Và theo đó, tỷ lệ giới hạn 80% đối với ngân hàng và 85% đối với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng về mặt con số vẫn giữ nguyên như Thông tư 13, nhưng về bản chất đã thay đổi, nó không bao hàm nguồn vốn tự có.

Tất nhiên, trong hoạt động, tỷ lệ đó cao hay thấp đi cùng với hiệu quả sử dụng vốn của các nhà băng, cũng như đi cùng với các mức độ rủi ro. Nhưng điều chỉnh trên của Ngân hàng Nhà nước có thể xem là một hướng cởi mở hơn trước đó.

Ngoài điều chỉnh trên, Thông tư 19 cũng đã tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng có thể sử dụng thêm nguồn vốn từ tiền gửi của Kho bạc Nhà nước, từ tiền vay của các tổ chức tín dụng khác có kỳ hạn từ 3 tháng trở lên, 25% tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức kinh tế để cho vay. Trong đó, 25% tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế, không trọn vẹn 100% như kiến nghị từ các thành viên, nhưng có còn hơn không.

Xét rộng hơn, có thể kỳ vọng những điều chỉnh trên của Ngân hàng Nhà nước là một hướng hỗ trợ đối với các tổ chức tín dụng về nguồn vốn, và liên quan dĩ nhiên là giảm thiểu chi phí, để cùng với các giải pháp hỗ trợ khác hướng tới định hướng hạ dần lãi suất trong thời gian tới.
  Bình luận (15)
Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết. Đang hiển thị 10/15 bình luận.
  • Một xử lý tinh tế, đạt tình, ổn lý. Cũng như các bạn, tôi ủng hộ hướng sửa đổi này của NHNN. Nó thể hiện tầm điều hành chính sách tốt.

    21:30 (GMT+7) - Thứ Tư, 29/9/2010 Trả lời Thích
  • NHNN "phát hành" TT13 là đúng, tuy chỉ có thời điểm áp dụng hơi ngắn từ khi ban hành đến ngày áp dụng nên gây phản ứng tự vệ chính đáng cho thị trường.

    Nay NHNN chỉnh sửa TT13 theo "cơ chế thị trường" là hợp lòng dân và rất đáng ghi nhận.

    19:57 (GMT+7) - Thứ Ba, 28/9/2010 Trả lời Thích
  • Đã lâu rồi mới thấy NHNN có những thông điệp hợp lý, lắng nghe các phản hồi của nền KT trong việc ra những quyết sách của mình.

    Nói cách khác TT19 đã hướng tới sự phát triển bền vững, dài hơi chứ không phải đi chữa cháy cho những mục tiêu trước mắt hay chính trị.

    Hoàn toàn ửng hộ NHNN. Vấn đề còn lại là các "đội lái" sẽ còn bài gì để diễn nữa đây!

    15:43 (GMT+7) - Thứ Ba, 28/9/2010 Trả lời Thích
  • NHNN đã kiên định giữ lại những quan điểm cần phải có. Chúng ta cần biết cái gì cũng có giới hạn, hãy làm quen với môi trường chuyên nghiệp. Tôi thấy NHNN đã làm đúng trong thời điểm nhạy cảm này.

    14:01 (GMT+7) - Thứ Ba, 28/9/2010 Trả lời Thích
  • Tôi đồng tình với cách làm của NHNN. Với 1 thay đổi như vậy cũng đã tạo thuận lợi cho các NHTM và tổ chức tín dụng rồi. Hơn nữa có như thế thì chúng ta mới có một nền kinh tế ổn định.

    12:38 (GMT+7) - Thứ Ba, 28/9/2010 Trả lời Thích
  • Các ngân hàng cũng như các doanh nghiệp sản xuất ôtô vậy, không quan tâm rủi ro môi trường, nếu môi trường nguy hại thì cả xã hội lãnh đủ.

    Việc làm của ngân hàng nhà nước như uỷ ban môi trường, tạo điều kiện cho các ngân hàng hoạt động, nhưng đồng thời cũng phải ngăn chặn việc huỷ hoại môi trường của các ngân hàng.

    11:28 (GMT+7) - Thứ Ba, 28/9/2010 Trả lời Thích
  • Tôi hoàn toàn đồng tình với ý kiến của anh Nguyễn Đình Bình, hãy vì lợi ích chung và dài hạn, vì sự phát triển bền vững của hệ thống tài chính thay cho mục tiêu của một nhóm lợi ích.

    11:14 (GMT+7) - Thứ Ba, 28/9/2010 Trả lời Thích
  • Tác giả viết bài này chưa hiểu gì về hoạt động ngân hàng, vẫn chỉ đơn giản là những suy nghĩ, đòi hỏi ngắn hạn.

    Về câu chữ, việc phân tích từ "so" so với từ "từ" trong TT 13 và 19 tác giả đã đi quá xa mà chưa hiểu căn cứ vào đâu? Chỉ đơn giản tỷ lệ này căn cứ vào nguồn vốn huy động (không phải là từ nguồn vốn tự có) để cấp tín dụng.

    11:10 (GMT+7) - Thứ Ba, 28/9/2010 Trả lời Thích
  • Tôi hoàn toàn đồng ý với bác Bình, chỉ e sau khi gia nhập WTO, thị trường vốn không tích tụ tư bản đủ lớn để VN có các tập đoàn tư nhân hùng mạnh, chỉ sau vài năm, các tập đoàn nước ngoài sẽ lấn át các tập đoàn kinh tế nhà nước. Tích tụ tư bản không đủ cũng là rủi ro lớn cho nền kinh tế về lâu dài.

    10:42 (GMT+7) - Thứ Ba, 28/9/2010 Trả lời Thích
  • Việc bác bỏ các kiến nghị như: "đưa 100% tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức kinh tế vào vốn huy động để cho vay", "giãn lộ trình thực hiện nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu từ 8% lên 9%",... theo tôi là hoàn toàn hợp lý.

    Xem lại lịch sử phát triển của hệ thống tài chính các nước phương Tây để thấy rõ hơn nguyên nhân NHNN cho ra đời TT 13 và mới đây là TT 19.

    Với nền kinh tế VN hiện nay rất cần vốn để phát triển và đảm bảo các chỉ số tăng trưởng vĩ mô hàng năm mà Chính phủ theo đuổi. Nhưng vấn đề quan trọng là tăng trưởng như thế nào để đảm bảo tính an toàn và bền vững dài hạn.

    Mấy năm gần đây, có những thời điểm chúng ta bùng nổ tín dụng rồi sau đó lại siết chặt đột ngột, và đã gây ra tổn thất không nhỏ cho các TCTD và khách hàng của họ. Do vậy có thể thấy sự ra đời của TT 13 và mới đây là TT 19 là rất phù hợp với bối cảnh hiện nay, phù hợp với tiến trình hội nhập WTO.

    Điều quan trọng nhất là các TCTD sử dụng nguồn vốn huy động của mình như thế nào để đảm bảo tính hiệu quả cao và an toàn trong hoạt động.

    10:01 (GMT+7) - Thứ Ba, 28/9/2010 Trả lời Thích
Xem tiếp bình luận
Bình luận của bạn
Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu.
Gõ Telex Gõ VNI
Chọn hình đại diện cho bình luận của bạn?