VnEconomy > Tài chính 00:31 (GMT+7) - Thứ Ba, 1/3/2011

Lãi suất cơ bản: Tăng cũng không ngại?

Khả năng tăng lãi suất cơ bản đang được giới đầu tư tính toán. Nếu tăng, quyết định của Ngân hàng Nhà nước chủ yếu là thủ tục...

Lãi suất cơ bản: Tăng cũng không ngại?

Diễn biến lãi suất cơ bản từ cuối năm 2005 đến nay (đơn vị: %).

Sau khi điều chỉnh lãi suất tái cấp vốn, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở, bước tiếp theo có thể Ngân hàng Nhà nước sẽ tăng lãi suất cơ bản. Trên một số diễn đàn, một số ý kiến dè chừng đây là một “tin xấu” đối với thị trường chứng khoán.

Nhưng lúc này, vai trò của lãi suất cơ bản đã trở nên mờ nhạt trong rổ công cụ điều hành của Ngân hàng Nhà nước. Giá trị của nó lúc này, nhiều khả năng sẽ tăng, chủ yếu tập trung ở tính tín hiệu - chính sách tiền tệ đang thắt chặt để kiềm chế lạm phát.

Lãi suất cơ bản là một công cụ để Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt trong từng thời kỳ; được đặt trong mối quan hệ với lãi suất trên thị trường liên ngân hàng, trên thị trường mở, lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại và trạng thái cung - cầu vốn trên thị trường.

Trước đây, lãi suất cơ bản là một cơ sở quan trọng để các ngân hàng thương mại ấn định lãi suất cho vay. Cơ sở này gắn với quy định tại Bộ luật Dân sự (lãi suất cho vay không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản). Tuy nhiên, vai trò đó đã bị vô hiệu hóa khi từ tháng 4/2010, Ngân hàng Nhà nước mở lại cơ chế lãi suất thỏa thuận và áp dụng cho đến nay.

Trong quá khứ, lãi suất cơ bản từng đạt đỉnh 14%/năm vào tháng 6/2008; lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại theo đó tối đa là 21%/năm. Lãi suất này nhanh chóng giảm xuống còn 8%/năm vào cuối năm 2009 và đứng yên gần 12 tháng liên tiếp cho đến ngày 5/11/2010, khi Ngân hàng Nhà nước quyết định tăng lên 9% và áp dụng cho đến nay.

Thông thường, lãi suất cơ bản được công bố vào thời điểm cuối tháng để áp dụng cho tháng tiếp theo. Thời điểm này, nhiều dự tính đang hướng đến khả năng lãi suất cơ bản áp dụng cho tháng 3/2011 có thể sẽ tăng lên 11%/năm. Tuy nhiên, điều chỉnh này chủ yếu nặng về thủ tục và tính tín hiệu.

Với cơ chế lãi suất thỏa thuận, lãi suất cơ bản không còn điều chỉnh lãi suất cho vay trên thị trường. Mặc dù Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 có quy định “Ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản và các loại lãi suất khác để điều hành chính sách tiền tệ, chống cho vay nặng lãi”, nhưng cũng có cơ chế cho phép “trong trường hợp thị trường tiền tệ có diễn biến bất thường, Ngân hàng Nhà nước quy định cơ chế điều hành lãi suất áp dụng trong quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau và với khách hàng, các quan hệ tín dụng khác”.

Ở vai trò tham khảo, khoảng ba tháng qua, mức 9%/năm của lãi suất cơ bản cũng trở nên mờ nhạt, khi lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại cao nhất đã 14%/năm, lãi suất cho vay có từ 18% - 20%/năm.

Nếu tăng lên 11%/năm, có thể xem đó là sự điều chỉnh để phù hợp với bối cảnh hiện tại, khi lãi suất tái cấp vốn đã lên 11%/năm, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở đã lên 12%/năm và thông điệp kiềm chế lạm phát đang được phát đi mạnh mẽ. Trong khi đó, sức tác động trực tiếp của việc điều chỉnh này (nếu có) có lẽ chủ yếu là về tâm lý thị trường.

Nhưng đi cùng với đó, một công cụ lãi suất khác có thể cũng sẽ được điều chỉnh: lãi suất tái chiết khấu, hiện ở mức 7%/năm. Nếu lãi suất này tăng, ảnh hưởng sẽ trực tiếp hơn đối với chi phí ngân hàng thương mại trong trường hợp cần vay vốn Ngân hàng Nhà nước.

Ngoài ra, mối quan tâm gần đây của giới đầu tư cũng đề cập đến việc sử dụng dự trữ bắt buộc để thắt chặt tín dụng. Đây vẫn là một khả năng mở. Nhưng ngày 21/2 vừa qua, trả lời báo giới, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu đã đưa ra một số định hướng đáng chú ý.

Cụ thể, Thống đốc cho rằng, để giảm tổng cầu kiềm chế lạm phát, Ngân hàng Nhà nước có hai công cụ chính là dự trữ bắt buộc và lãi suất. Tăng dự trữ bắt buộc là làm giảm thanh khoản của các ngân hàng thương mại xuống để giảm cho vay. Thứ hai, là tăng lãi suất sẽ hút tiền vào hệ thống, đồng thời sàng lọc các dự án cho vay hiệu quả.

“Năm 2007, nguồn ngoại tệ từ đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) vào rất lớn, thanh khoản các ngân hàng thừa, nên tăng dự trữ bắt buộc từ 5% lên 10% là thành công. Nhưng năm 2008 chỉ tăng lên 1% - 2% thôi là thanh khoản hệ thống đã có vấn đề, bởi FII vào thấp trong khi nội lực của hệ thống ngân hàng chưa mạnh, vì thế phải sử dụng công cụ lãi suất. Năm nay cũng vậy, để giảm tổng cầu Ngân hàng Nhà nước sẽ dùng lãi suất để tác động”, Thống đốc nói.
  Bình luận (6)
Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết. Đang hiển thị 6/6 bình luận.
  • - Lãi suất cơ bản chính xác là chỉ số cho các Ngân hàng thương mại (NHTM) dựa vào để xác định lãi suất của hoạt động huy động vốn và cấp tín dụng.

    - Do đó, việc tăng lãi suất cơ bản phải được thực hiện một cách thận trọng. Vì nếu lãi suất cơ bản tăng quá cao, sẽ dẫn đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay tăng cao theo. Điều này, gây ảnh hưởng không tốt cho cả NHTM và các cá nhân, tổ chức hoạt động kinh doanh và phi kinh doanh.

    + Đối với NHTM, sẽ cản trở hoạt động cho vay, gây khó khăn thậm chí là mất đi tính thanh khoản, giảm tính điều hòa và trong sạch của bảng cân đối tài sản, làm mất an toàn cho các NHTM…

    + Đối với cá nhân, tổ chức, sẽ cản trở việc tiếp cận vốn của các đối tượng này. Ngoài ra, lãi suất tăng cao làm cho chi phí vay mượn cũng tăng, dẫn đến các doanh nghiệp hạn chế sản xuất vì lợi nhuận khó bù đắp.

    - Trong giai đoạn hiện nay, cùng với chính sách thu hẹp tiền tệ và tài khóa thắt chặt, NHNN lấy công cụ lãi suất để điều tiết, thì việc lãi suất cơ bản tăng là điều hiển nhiên phải xảy ra. Vì thế, các NHTM cần bám sát hơn mức lãi suất này để đưa ra các biểu lãi suất cho vay phù hợp và biểu lãi suất huy động vốn ổn thỏa.

    Bên cạnh đó, NHNN cũng nên tìm hiểu rõ thực tế hơn, để có những quyết định sáng suốt xem có nên hay không trong việc tăng mức lãi suất cơ bản thêm nữa, hay cần áp dụng những biện pháp hoặc kết hợp một số biện pháp khác để ổn định nền kinh tế.

    Hơn thế, NHNN cũng cần phải thực hiện thanh tra, giám sát các ngân hàng quốc doanh và cần có biện pháp tích cực để tác động đến mức lãi suất liên ngân hàng.

    20:46 (GMT+7) - Thứ Bảy, 30/7/2011 Trả lời Thích
  • Tên bài báo thật là hay.

    23:06 (GMT+7) - Thứ Ba, 1/3/2011 Trả lời Thích
  • Tăng lãi suất cơ bản là lợi bất cập hại, nhất là trong tình trạng hiện nay chênh lệch giữa các mặt bằng lãi suất khá cao. Lãi suất cơ bản là mốc chuẩn để ngân hàng tính toán điều chỉnh lãi suất huy động và cho vay.

    Từ các mặt bằng này, ngân hàng mới triển khai lãi suất thỏa thuận theo từng nhóm đối tượng. Nói lãi suất thỏa thuận chả liên quan gì đến lãi suất cơ bản chả khác gì thừa nhận có sự bất bình đẳng về cung tiền.

    12:49 (GMT+7) - Thứ Ba, 1/3/2011 Trả lời Thích
  • Lãi suất cơ bản (LSCB) được NHNN sử dụng để kéo lãi suất thị trường lên (LSTT) hoặc với mục đích bình ổn thị trường thị trường tín dụng (TTTD).

    Nếu LSCB không cao mà LSTT cứ tăng, tăng mãi như năm 2010. thì rõ ràng không thể không lo.

    Năm nay CP không chỉ dùng LSCB để bình ổn TTTD.

    Ngoài công cụ LSCB, CP sử dụng đồng bộ một loạt biện pháp CS mới để hạn chế “tăng trưởng nóng” của nền KT.

    Khi các biện pháp CS mới được đưa ra, thậm chí LSTT có thể tăng là phản ứng nhất thời và không đáng lo. Đến hồi các biện pháp này phát huy hiệu quả LSTT tín dụng tự khắc giảm.

    Để đánh giá “tâm lý và sức khỏe” của TTTD nên nhìn vào LSTT. Để đoán mục đích bình ổn TT của các nhà điều hành nên nhìn vào LSCB (thấp hay cao hơn LSTT).

    Lúc này LSCB vẫn cao và vẫn tăng - không đáng lo, là bình thường. Nhưng tăng mãi là có vấn đề, cần xem lại.

    11:26 (GMT+7) - Thứ Ba, 1/3/2011 Trả lời Thích
  • Lo ngại của Thống đốc là có cơ sở và xác đáng.

    Tuy không có đổ vỡ gì trong cuộc “đại” khủng khoảng tài chính toàn cầu vữa qua, nhưng hệ thống ngân hàng Việt nam vẫn còn rất yếu (chất lượng tăng trưởng thấp và rủi ro cao).

    Nếu “đánh thuế cao” qua tăng mạnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì sợ các ngân hàng không chịu nổi (chênh lệch lãi xuất sẽ còn quá ít). Nhưng năm 2010 các ngân hàng vẫn có lợi nhuận khá ấn tượng.

    Như vậy trong điều kiện chống lạm phát khẩn cấp như hiện nay thì vẫn nên tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc một cách “hợp lý” để đủ giảm tăng trưởng tín dụng xuống dưới 20% và không phải tăng lãi xuất lên quá cao, làm mất “nguồn thu” từ các doanh nghiệp là khách hàng tín dụng của ngân hàng.

    Số tín dụng còn lại thì nên tập trung cho các địa chỉ “có hiệu quả” như Phó thủ tướng Sinh Hùng yêu cầu, chứ đừng phục vụ cho “các nhóm lợi ích”.

    10:08 (GMT+7) - Thứ Ba, 1/3/2011 Trả lời Thích
  • Bỏ thì thương, vương thì tội. Đó là tâm lý chung hay sao? Lãi suất cơ bản nếu chỉ còn là thủ tục thì giữ lại để làm gì? Nếu cứ điều hành nền kinh tế thị trường theo nghĩa đó thì không thể vươn ra thế giới cho bằng bạn bằng bè được!

    08:36 (GMT+7) - Thứ Ba, 1/3/2011 Trả lời Thích
Bình luận của bạn
Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu.
Gõ Telex Gõ VNI
Chọn hình đại diện cho bình luận của bạn?