VnEconomy > Tài chính 09:45 (GMT+7) - Thứ Hai, 28/3/2011

Báo động lãi suất tiền gửi không kỳ hạn

Từ chỗ chỉ 2% - 3%/năm, thì nay, các ngân hàng dâng lãi suất không kỳ hạn tới 9% - 11%/năm để giành vốn của nhau...

Báo động lãi suất tiền gửi không kỳ hạn

Có vẻ như huy động tiền gửi không kỳ hạn đang trở thành “xu hướng”.

Từ chỗ chỉ 2% - 3%/năm, thì nay, các ngân hàng dâng lãi suất không kỳ hạn tới 9% - 11%/năm để giành vốn của nhau.

Nhiều ý kiến cho rằng, Ngân hàng Nhà nước nên khống chế trần lãi suất loại tiền gửi này ở mức 2%/năm.

Kẹt cả hai đầu

“Chưa bao giờ cán bộ nguồn vốn lại khổ sở như lúc này. Cứ mở mắt là phải xem vốn khả dụng như thế nào. Khách hàng thì rút tiền, Ngân hàng Nhà nước thì thắt chặt, không hiểu làm ăn ra sao”, Giám đốc Ban Thông tin quản lý và Hỗ trợ ALCO của một ngân hàng lớn than thở.

Theo vị này, mấy hôm nay nhiều ngân hàng đồng loạt giở các “chiêu” mà phổ biến nhất là dâng lãi suất tới 9% - 11%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn để hút vốn. Vì thế, mặc dù ngân hàng này đang áp dụng lãi suất tiền gửi không kỳ hạn là 2,4%/năm - 3%/năm buộc phải nâng lên 8%/năm nhưng khách hàng vẫn “ỉ eo” đòi tiền về gửi ở ngân hàng khác. “Cứ đà này, lãi suất huy động tiền gửi không kỳ hạn sẽ lên tới 14%/năm, bằng với trần lãi suất huy động của Ngân hàng Nhà nước đưa ra!”, vị này nói.

Trước đây, ngân hàng trên vẫn thường xuyên hỗ trợ thanh khoản cho Agribank và các ngân hàng bạn, thì nay phải xoay xở nguồn vốn hết sức chật vật. Đến nỗi, lãnh đạo ngân hàng phải chỉ đạo tất cả các phòng ban, chi nhánh và toàn bộ cán bộ nhân viên tìm mọi cách đưa các quan hệ cá nhân về mở tài khoản tại ngân hàng mình để “được đồng nào hay đồng ấy”.

Khảo sát ở một số ngân hàng khác, tình trạng trên cũng tương tự. Lãnh đạo chi nhánh một số ngân hàng cho biết, đi kèm với khó khăn huy động vốn là nơm nớp nỗi lo “phạm quy”, tức vi phạm hệ số Q (tỷ lệ dư nợ/huy động vốn). Làm tín dụng, vốn dĩ ai cũng thích cho vay hơn là huy động. Khi bị khoán hệ số Q thấp thì buộc phải cho vay ít đi, cùng đó là nai lưng đi nhặt từng đồng. Bởi vậy, khi hội sở các ngân hàng giao khoán chỉ số Q thấp thì bị các chi nhánh kêu ca, than phiền.

Khó khăn huy động vốn đã vậy, các ngân hàng còn bị  một áp lực khác từ hệ số dự trữ thanh toán ở mức 15%/tổng tài sản nợ (cách đây vài năm, hệ số này chỉ từ 6% đến 7%). Tỷ lệ này càng cao thì đòi hỏi một lượng vốn bị “nhốt” càng lớn và vốn kinh doanh của ngân hàng càng ít đi.

Xập xí, xập ngầu

Trong khi nỗi khổ từ lãi suất đối với tiền gửi không kỳ hạn khiến nhiều ngân hàng mất vốn chưa được giải quyết thì một loại sản phẩm khác là “tiền gửi có kỳ hạn” nhưng được “rút gốc linh hoạt” và “được hưởng lãi suất theo thời gian thực gửi” hay “tiết kiệm lãi suất thả nổi” bung ra như nấm, đang làm thị trường méo mó và phức tạp thêm.

Theo một lãnh đạo cấp vụ của Ngân hàng Nhà nước, loại tiền gửi trên xét ở một chừng mực nhất định, chúng không khác gì tiền gửi không kỳ hạn hoặc tiền gửi thanh toán. Người này phân tích: Trong hoạt động của ngân hàng có 3 loại tiền gửi: thanh toán, không kỳ hạn và có kỳ hạn. Đối với tiền gửi thanh toán, xét về nguyên lý là chỉ dùng để thanh toán. Còn tiền gửi không kỳ hạn thì xuất phát từ thực tế không phải lúc nào dòng tiền này chảy vào ngân hàng bao nhiêu thì ra hết bấy nhiêu mà luôn đọng lại khoảng 25% - 30%. Vì thế, tiếp thu kiến nghị từ nhiều ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước đã cho phép họ được sử dụng 25% tổng lượng tiền gửi không kỳ hạn để kinh doanh.

Tuy nhiên, với sự xuất hiện của dòng sản phẩm  “tiền gửi kỳ hạn cho phép rút trước hạn nhưng vẫn được hưởng lãi suất theo thời gian thực nhận” như nói trên đã biến một bộ phận không nhỏ “tiền gửi kỳ hạn” thành “tiền gửi không kỳ hạn”. Ví dụ, khách hàng ký hợp đồng gửi 100 tỷ đồng thời hạn 3 tháng, lãi suất 14%/năm nhưng một tháng sau, hoặc vài tuần sau, khách hàng rút cả 100 tỷ đồng nhưng vẫn được hưởng lãi suất 14%/năm theo thời gian thực gửi. Và khi rút bất thình lình như thế, số tiền 100 tỷ đồng nói trên từ chỗ “có kỳ hạn” đã biến thành “không kỳ hạn”.

Có  vẻ như huy động tiền gửi không kỳ hạn  đang trở thành “xu hướng”, và dẫn đến hệ quả là trước đây, cơ cấu nguồn vốn không kỳ hạn ở các ngân hàng chỉ khoảng 10%/tổng nguồn huy động thì bây giờ, tỷ lệ này gấp  vài lần, thậm chí có ngân hàng lên tới 39% - 40%.

Họa đã hiện hình?

Một đặc điểm của nguồn vốn không kỳ hạn là đem lại giá trị “làm mềm” cơ cấu nguồn vốn của các ngân hàng do yếu tố linh hoạt của chúng đứng bên cạnh sự cứng nhắc của các loại tiền gửi có kỳ hạn. Tuy nhiên, nếu chúng chiếm tỷ trọng quá lớn thì tính lỏng nguồn vốn càng cao. Kinh doanh trong tình trạng dòng vốn chập chờn, lúc có, lúc không, lúc nhiều, lúc ít một cách bất chợt như vậy không những làm cho ngân hàng rất khó lên kế hoạch tài chính, thường xuyên phải sống chung với “ăn đong” mà còn đe dọa thanh khoản của họ bất cứ lúc nào.

Có lẽ xuất phát từ thực tế này, Ngân hàng Nhà nước đã quy định tỷ lệ dự trữ thanh toán tới 15%/tổng tài sản nợ. Khi dự trữ thanh toán cao như vậy thì nguồn vốn kinh doanh của các ngân hàng càng bị phân tán, không thể tập trung nhiều cho kinh doanh và đầu tư.

Thứ hai, không ít ngân hàng lợi dụng việc triển khai “sản phẩm tiền gửi có kỳ hạn cho rút trước hạn” như nói trên để lách luật nhằm giảm số tiền bị “nhốt” theo tỷ lệ dự trữ bắt buộc của Ngân hàng Nhà nước. Hiện tại, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với VND kỳ hạn dưới 12 tháng là 3% và trên 12 tháng là 1%/ tổng số dư huy động. Do đó, có những ngân hàng ký hợp đồng với khách hàng hợp đồng tiền gửi kỳ hạn 366 ngày và giảm được 2%/tổng số dư huy động đối với những hợp đồng “ma” kiểu này.

Thứ ba, một điều không mong muốn khác là các con số báo cáo tài chính trên sổ sách của ngân hàng thương mại đối với Ngân hàng Nhà nước bị sai lệch rất lớn do “có kỳ hạn”, biến thành “không kỳ hạn” và khi đó, nhà điều hành rất khó đưa ra các quyết định đối với thị trường một cách sát thực tế.

Khi nhận thấy bất cập của sản phẩm biến tướng nói trên, trong Thông tư 04/2011/TT-NHNN ngày 10/3/2011, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu: “tổ chức tín dụng áp dụng lãi suất tối đa bằng mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn thấp nhất của tổ chức tín dụng theo từng đồng tiền trong trường hợp tổ chức, cá nhân rút tiền gửi trước hạn; mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn này là thấp nhất tại thời điểm tổ chức, cá nhân rút tiền gửi trước hạn”.

Tuy nhiên, trong trường hợp này, các ngân hàng đã “tương kế, tựu kế”, ở chỗ: lúc Ngân hàng Nhà nước ban hành thông tư này, lãi suất tiền gửi không kỳ hạn khoảng 3%/năm nhưng sau khi Ngân hàng Nhà nước khống chế lãi suất “tiền gửi có kỳ hạn rút trước hạn” bằng “lãi suất tiền gửi không kỳ hạn thấp nhất” thì lập tức, ngân hàng dâng ngay lãi suất không kỳ hạn để … “một công đôi việc”!

Bởi vậy, nhiều ý kiến từ một số ngân hàng thương mại cho rằng, thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước nên khống chế ngay trần lãi suất tiền gửi không kỳ hạn ở mức 2%/năm.

Thứ hai, mặc dù trong bối cảnh lạm phát như hiện nay, đẩy tiền ra thị trường là quyết định rất khó khăn của Ngân hàng Nhà nước nhưng đề phòng mất thanh khoản cục bộ ở một số ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước nên sẵn sàng tái cấp vốn trong một khoảng thời gian vài tháng ở mức cao hơn bình thường.

Thứ ba, thanh tra Ngân hàng Nhà nước phải kiểm soát chặt chẽ sử dụng nguồn tái cấp vốn, không để tổ chức tín dụng đưa nguồn vốn này đẩy vào tín dụng bên cạnh kiểm soát tăng trưởng dư nợ tín dụng dưới mức 20% theo đúng Nghị quyết 11 của Chính phủ và Chỉ thị 01 của Ngân hàng Nhà nước.
  Bình luận (10)
Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết. Đang hiển thị 10/10 bình luận.
  • Hoàn toàn đồng ý với ý kiến của bác Phúc Nguyễn!

    09:19 (GMT+7) - Thứ Tư, 30/3/2011 Trả lời Thích
  • Tôi nghĩ nếu NHNN đóng vai trò người cho vay cuối cùng thật tốt, thì cái nút về "lách luật huy động tiết kiệm" sẽ được giải quyết.

    Còn không, các NH phải lách, phải chui rào, phải nhảy vào những lĩnh vực kinh doanh mạo hiểu để kiếm lợi nhuận, dẫn đến càng ngày càng rủi ro.

    Vì thế, tôi cho rằng, ở thời điểm này là thời điểm tốt nhất để tiến hành thanh kiểm tra hoạt động của các NH. Các bạn đừng nghĩ NH nhỏ mới có vấn đề, vì thực tế, quy mô của họ chỉ như muối bỏ bể, không có tác động nhiều. Các NH lớn, trong top 10 NH hàng đầu mới là vấn đề.

    17:19 (GMT+7) - Thứ Ba, 29/3/2011 Trả lời Thích
  • Tôi hoàn toàn đồng ý với những trăn trở của người viết bài này về một “hiện tượng” có thể gọi là bất thường theo hướng không mấy tốt đẹp trên thị trường tiền tệ từ trước đến nay.

    Từ việc làm này (đẩy lãi suất tiền gởi không kỳ hạn-TGKKH-lên cao một cách bất thường) của một số các NHTM có thể dẫn đến những hệ lụy rất lớn cho bản thân ngân hàng và nền kinh tế.

    Đó là rủi ro lãi suất: vì rõ ràng tiền gởi không kỳ hạn là không thể, và không phải là nguồn vốn để tăng dư nợ của NHTM một cách bền vững. Theo qui đinh, các NHTM hiện nay có thể cân đối một tỷ lệ nhất định ( khoảng 25-30%) nguồn vốn ngắn hạn (trong đó có TGKKH) để cho vay Trung, dài hạn.

    Tuy nhiên, điều này là rất nguy hiểm vì có sự không phù hợp về mặt kỳ hạn giữa nguồn và sử dụng nguồn- Nguyên nhân của rủi ro lãi suất. Cụ thể là, thời hạn vay vốn không thể là ngày một, ngày hai như thời hạn thực của tiền gửi KHH, trong khi ngân hàng chưa sử dụng nguồn vốn này vào đâu thì có thể phải trả lãi vì khách hàng rút vốn bất ngờ.

    Và điều này cũng là nguyên nhân của rủi ro thanh khoản. Khi nguồn vốn của một Ngân hàng với cơ cấu chủ yếu là TGKKH, thì một sự biến động nào đó về tiền tệ thì tiền ở đâu mà trả cho người gởi, trong khi vốn đã cho vay hết rồi.

    Về mặt lợi ích của ngân hàng thì điều này cũng rất không tốt. Vì với TG KKH, ngân hàng cho vay không được bao nhiêu, chủ yếu hưởng phí từ các dịch vụ kèm theo loại tiền gửi này. Nhưng hiện nay, lãi suất trả cho loại tiền gửi này khá cao, trong khi đầu ra của các ngân hàng bị hạn chế thì rõ ràng phần thiệt hại dễ thuộc về bên nhận vốn.

    Một điều nữa, cũng rất đáng lưu tâm, như một Tiến sĩ có uy tín trong lĩnh vực Tài chính tiền tệ của nước ta hiện nay đã phát biểu là đây là một tiền lệ chưa có trong lịch sử tài chính tiền tệ nói chung và nó “Dễ tạo ra một tiền xấu là khách hàng đi mặc cả lãi suất với ngân hàng và các Ngân hàng nhỏ thì lại đi dẫn mũi lãi suất các ngân hàng lớn”.

    Tất cả các hậu quả trên là nền kinh tế sẽ không hưởng lợi gì từ những dòng vốn huy động bất thường này, hay nói rõ hơn là thị trường tiền tệ không hỗ trợ tích cực cho nền kinh tế.

    Có rất nhiều nguyên nhân của hiện tượng này, có những nguyên nhân khách quan mà chúng ta buộc phải chấp nhận do chính sách tiền tệ gây ra vì mục tiêu của toàn nền kinh tế, như các biện pháp để thắt chặt tiền tệ…Tuy nhiên, có những nguyên nhân chủ quan như sự chạy theo lợi nhuận, dành dật thị trường của một số ngân hàng nên đã đưa ra những chính sách về nguồn vốn, thị trường một cách liều lĩnh gây xáo trộn trên thị trường tài chính, tiền tệ…

    Và một nguyên nhân có thể gọi là cốt lõi của các chính sách liều lĩnh trên là chúng ta chưa có sự đào thải trong lĩnh vực ngân hàng, nên tạo ra những kỳ vọng ảo về hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực này nên có rất nhiều những ngân hàng chất lượng kém, chưa đóng góp gì nhiều cho nền kinh tế mà đã chớm để lại những nổi lo.

    15:45 (GMT+7) - Thứ Ba, 29/3/2011 Trả lời Thích
  • Dear anh Đặng Xuân Tấn,

    SP DV ngân hàng có đặc thù riêng. Không giống như bán hàng cafe mà khách hàng sẵn sàng chịu chút thiệt thòi về tài chính để được hưởng dịch vụ tốt hơn.

    Anh đúng về lý thuyết là phục vụ càng tốt thì khách càng hài lòng. Nhưng nếu anh đặt lại bài toán kinh doanh của chúng tôi là phục vụ khách hàng ở mức độ tối đa (về phòng ốc, giờ giao dịch, khuyến mại) - và luôn là tiêu chí của chúng tôi thì anh mới ngộ ra rằng hóa ra câu chuyện "tiền về túi tôi tháng tới là bao nhiêu" của đại đa số khách hàng vẫn là quan trọng.

    Không một nhân viên giao dịch nào có thể nói "vì địa điểm chúng cháu đẹp hơn, chúng cháu xinh hơn mà bác phải gửi ngân hàng cháu thay vì ngân hàng bên kia đường lãi suất cao hơn". Hơn nữa, một khách hàng gửi tiền có chăng cũng chỉ 30 phút đến giao dịch và trước khi đến thì họ đã tra cứu lãi suất trên mạng cả rồi.

    Vấn đề đặt ra ở đây là đã là kinh tế thị trường thì sản phẩm phải đa dạng, nếu tất cả cùng 1 sản phẩm cuối kỳ, cùng một mức lãi suất thì tại sao anh không nghĩ là sát nhập 30 ngân hàng làm một luôn cho dễ quản lý?

    Thủ tiêu cạnh tranh có phải đúng như quy luật vận động không. Xin anh thứ lỗi nếu anh chưa học triết học Mác - Lê về quy luật vận động và phát triển - nghe hơi cao siêu một tí nhưng hãy nhìn ngành viễn thông mà xem: không có Viettel cạnh tranh, đời nào anh được dùng Mobifone với giá và ưu đãi như bây giờ?

    Về dài hạn, vẫn phải mở ra cho thị trường phát triển lành mạnh thôi!

    10:53 (GMT+7) - Thứ Ba, 29/3/2011 Trả lời Thích
  • Theo mình nghĩ tiền gửi không kỳ hạn tăng lên là hợp lý thôi.

    Bởi vì người dân, đặc biệt những người già chắt chiu từng đồng một hàng chục năm trời. Nay gửi vào ngân hàng nhiều khi họ có việc cần đến tiền phải rút ra ngay đang là lãi suất bình thường (ví dụ: 14%) nay rút ra phải chấp nhận lãi suất không kỳ hạn rất thấp (ví dụ: 3%) là hoàn toàn không hợp lý.

    Cho nên việc tăng lãi suất không kỳ hạn mình nghĩ là một việc rất tốt và có lợi cho người dân, những khách hàng gửi tiết kiệm trung thành của các ngân hàng.

    09:35 (GMT+7) - Thứ Ba, 29/3/2011 Trả lời Thích
  • Đồng ý với quan niệm khống chế mức trần lãi suất huy động tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi thanh toán để tạo sự ổn định trên thị trường. Thực tế sự cạnh tranh này đã tiềm tàng nhiều mối nguy hiểm, các ngân hàng hụt thanh khoản do nguồn vốn... "chập chờn".

    Cần thiết phải nâng cao chất lượng dịch vụ để thu hút khách hàng chứ không phải là cuộc cạnh tranh về giá như thế này.

    08:59 (GMT+7) - Thứ Ba, 29/3/2011 Trả lời Thích
  • Thị trường ngân hàng đang được quản lý theo kiểu bóp bong bóng, cứ đè chỗ này thì xì chổ khác. Tại sao vậy?

    Phải chăng do thiếu cơ sở lý luận khoa học trong phương pháp quản lý điều hành thị trường, tạo ra sự thiếu nhất quán trong hành động?

    07:42 (GMT+7) - Thứ Ba, 29/3/2011 Trả lời Thích
  • NHNN cần khống chế trần lãi suất tiền gửi không kỳ hạn, hiện nay một số ngân hàng nhỏ khả năng thanh khoản thấp đã bất chấp mọi rủi ro, tìm mọi cách giành giật khách hàng về mình bất chấp hậu quả, móp méo thị trường tiền tệ, gây tâm lí hoang mang, lo lắng trong dân cư.

    22:17 (GMT+7) - Thứ Hai, 28/3/2011 Trả lời Thích
  • Nên có đánh giá xếp hạng tín dụng các ngân hàng. Nếu Việt Nam chưa làm được thì tạm thời lấy đánh giá xếp hạng tín dụng của các tổ chức quốc rế.

    Chính phủ, NHNN không nên cứu các ngân hàng ốm yếu như năm 2008, nên để cho thị trường tự đào thải ra khỏi cuộc chơi. Có như vậy ngành tài chính Việt Nam mới bền vững được.

    22:03 (GMT+7) - Thứ Hai, 28/3/2011 Trả lời Thích
  • Cạnh tranh về giá, mà không cạnh tranh chất lượng sản phẩm chất lượng dịch vụ, tức là khi cuộc chiến đi đến ngõ cụt. Ủng hộ NHNN không chế trần lãi suất không kỳ hạn, bắt buộc NHTM phải suy nghĩ đến cạnh tranh chất lượng chứ không chỉ cạnh tranh giá.

    Ngân hàng yếu phải sát nhập, giải thể cũng công bằng giống như doanh nghiệp. Không nên nghĩ rằng áp trần là "phi thị trường". Đây chính là biện pháp "chống phá giá" trong kinh tế thị trường.

    10:20 (GMT+7) - Thứ Hai, 28/3/2011 Trả lời Thích
Bình luận của bạn
Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu.
Gõ Telex Gõ VNI
Chọn hình đại diện cho bình luận của bạn?