VnEconomy > Tài chính 09:58 (GMT+7) - Thứ Ba, 5/4/2011

Lãi suất cao có chống được lạm phát cao?

Liên tiếp tăng, Ngân hàng Nhà nước đang sử dụng công cụ lãi suất để góp phần chống lạm phát. Nhưng vẫn có ý kiến trái chiều...

Lãi suất cao có chống được lạm phát cao?

Lãi suất huy động VND hiện chốt trần là 14%/năm; lãi suất cho vay có từ 18% đến hơn 20%/năm - Ảnh: Getty.

Liên tiếp tăng, Ngân hàng Nhà nước đang sử dụng công cụ lãi suất để góp phần chống lạm phát. Nhưng vẫn có ý kiến trái chiều về hiệu quả của nó với thực tế của nền kinh tế Việt Nam.

Tính đến lần điều chỉnh ngày 31/3 vừa qua, Ngân hàng Nhà nước đã 3 lần liên tiếp tăng các lãi suất điều hành kể từ đầu năm, với mức độ điều chỉnh mỗi loại khác nhau. Thông điệp chính sách tiền tệ thắt chặt góp phần kiềm chế lạm phát được phát đi rõ ràng, công cụ cụ thể là lãi suất.

Với hoạt động của doanh nghiệp, chi phí vay vốn đang bị đẩy lên cao, trong khi kỳ vọng hạ lãi suất vẫn chưa có tín hiệu và lạm phát vẫn đang diễn biến phức tạp.

Hồi đầu năm, một lãnh đạo của Ngân hàng Nhà nước từng nói rằng, khi lạm phát cao xuất hiện, cùng với chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ thắt chặt là một giải pháp nhằm đánh vào tổng cầu. Lựa chọn thời gian qua và hiện nay là tăng lãi suất, thay vì dự trữ bắt buộc vì tính ảnh hưởng rộng lớn của nó.

Cũng theo thông tin từ đại diện nhà điều hành, khi thực hiện giải pháp trên, có một khó khăn mang tính luận điểm xuất hiện trên thị trường, được cho là một ý thức hệ mới cần được phân tích, đánh giá một cách kỹ lưỡng. Đó là “làn gió ngược” khi cho rằng tăng lãi suất lên cao chưa hẳn đã kiềm chế được lạm phát, gắn với đặc thù của nền kinh tế Việt Nam, thậm chí có thể còn truyền dẫn thêm áp lực vào lạm phát…

Trước phản biện này, được biết Ngân hàng Nhà nước đã tham vấn ý kiến của chuyên gia Ngân hàng Thế giới (WB). Kết quả là không thấy có đúc kết nào như vậy ở các quốc gia trên thế giới.

Xoay quanh quan điểm phản biện đó, VnEconomy đã có cuộc trao đổi với TS. Quách Mạnh Hào, công tác tại Công ty Chứng khoán Thăng Long (TLS) và Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Ông Hào cũng là người có những nghiên cứu cụ thể về vấn đề này công bố trong thời gian gần đây. Và một điểm thú vị là trong nghiên cứu của mình, chính ông Hào đã trích dẫn một nghiên cứu cùng quan điểm với ông được đăng ngay trên Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế của Ngân hàng Thế giới.

Thưa ông, ở vấn đề trên, việc liên tiếp tăng lãi suất của Ngân hàng Nhà nước vừa qua nhằm mục đích kiềm chế lạm phát là có hợp lý không? Và tại sao?

Quả thực rất khó để đánh giá một chính sách kinh tế là hợp lý hay không ngay khi nó được thực hiện bởi trong thực tế điều hành chính sách chúng ta chỉ có thể chọn một trong số nhiều lựa chọn mà kết quả của nó thì chúng ta chỉ có thể biết sau một thời gian và không có cơ hội so sánh với những lựa chọn khác.

Quan điểm của tôi về lựa chọn chính sách lãi suất trong bối cảnh nguy cơ lạm phát cao đã được trình bày trong những nghiên cứu về chủ đề này vào khoảng tháng 11/2010. Trong các bài nghiên cứu, tôi đã đặt ra câu hỏi và trả lời cho 3 vấn đề quan trọng trong mối quan hệ nêu trên.

Trong bài nghiên cứu thứ nhất, tôi đưa ra câu hỏi liệu có đúng chính sách lãi suất cao chống được lạm phát cao - chính là câu hỏi bạn đang hỏi tôi? Câu trả lời của tôi là đúng theo sách nhưng chưa phù hợp thực tiễn Việt Nam.

Điều đó là vì khi mặt bằng lãi suất cao, tăng thêm lãi suất sẽ làm tăng mức độ rủi ro trong nền kinh tế, tăng chi phí đầu vào cho doanh nghiệp và dẫn tới đình đốn sản xuất, thất nghiệp. Nếu bạn để ý thì công thức cổ điển “lãi suất cao chống lạm phát cao” được hình thành từ thực nghiệm tại các nước phương Tây, nhưng mặt bằng lãi suất và lạm phát tại các quốc gia đó thường ở mức rất thấp và do vậy mặt bằng lãi suất tăng thêm một chút không dẫn tới việc các doanh nghiệp phải rời bỏ sản xuất.

Nhưng tại Việt Nam, mặt bằng lãi suất đã ở mức quá cao, nếu áp dụng công thức sách giáo khoa nêu trên thì nguy cơ lạm phát do cầu kéo trở thành lạm phát chi phí đẩy là hiện hữu. Tôi đã gọi điều này là “vòng luẩn quẩn” trong nghiên cứu của mình.

Bên cạnh đó, việc cho vay cá nhân thường chiếm tỷ trọng cao so với cho vay doanh nghiệp tại các quốc gia phương Tây trong khi tại Việt Nam thì ngược lại cũng là một yếu tố chi phối sự hiệu quả của của công thức nêu trên.

Trên thực tế, trong giới nghiên cứu thế giới cũng đã có những bài nghiên cứu về chủ đề tương tự và kết luận thường thấy là trong điều kiện mặt bằng lãi suất cao thì công thức cổ điển là không hiệu quả.

Nhìn lại thực tế Việt Nam thời gian qua có thể thấy rằng Chính phủ đã theo đuổi chính sách ổn định vĩ mô để chống lạm phát và mặt bằng lãi suất thực tế đã tăng lên, lạm phát cũng chưa có dấu hiệu giảm. Theo tôi, còn quá sớm để kết luận về tính hiệu quả của lựa chọn chính sách, nhưng dù thế nào thì tôi cũng nhấn mạnh rằng sẽ không có lựa chọn hoàn hảo.

Vậy theo ông, đâu là một chính sách lãi suất hợp lý đối với Việt Nam ở thời điểm này? Xa hơn, làm sao để hạ được lãi suất?

Câu hỏi của bạn phù hợp với các câu hỏi khác trong các bài nghiên cứu nêu trên của tôi, bao gồm mức lãi suất bao nhiêu là phù hợp và làm thế nào để giảm lãi suất.

Trong các nghiên cứu của mình, tôi có lập luận rằng lý do dẫn tới nguy cơ lạm phát và vòng luẩn quẩn chủ yếu là do năng lực của nền kinh tế thể hiện qua chỉ số ICOR và tỷ suất đầu tư trên tăng trưởng quá cao. Nói cụ thể hơn thì đã có những khu vực không hiệu quả và hiệu quả nhưng lại được đánh đồng như nhau. Do vậy, một cách lý tưởng thì dòng tín dụng phải được khơi thông tới các khu vực sử dụng vốn hiệu quả và hạn chế các khu vực làm ăn không hiệu quả. Còn nếu chúng ta cân nhắc nền kinh tế như là một tổng thể chung thì chính sách lãi suất không nên quá cao hoặc quá thấp.

Tôi cũng đã đưa ra một tính toán cho thấy mặt bằng lãi suất cho vay phù hợp nền kinh tế Việt Nam khi ổn định vĩ mô đạt được nên nằm trong khoảng 11 - 14% và hệ thống ngân hàng hoàn toàn có thể đáp ứng được yêu cầu này.

Về việc làm thế nào để giảm lãi suất thì một trong những khuyến nghị trong nghiên cứu của tôi là việc “xóa bỏ trạng thái tiền rẻ” của các ngân hàng thương mại cổ phần lớn có được do chênh lệch giữa tỷ suất trái phiếu Chính phủ cao hơn lãi suất tái chiết khấu. Những điều chỉnh trong tháng 3/2011 đã đưa mức lãi suất tái chiết khấu cao hơn tỷ suất trái phiếu chính phủ và tôi nghĩ rằng điều này là tốt mặc dù trước đó thì các biện pháp thắt chặt tiền tệ đã làm thay đổi nhiều các biến số kinh tế khác so với thời điểm tôi nghiên cứu.

Ông có thể nói rõ hơn ở điểm chính sách tiền tệ góp phần kiềm chế lạm phát tại Việt Nam?

Sự lựa chọn chính sách nào cũng có những mặt trái và thực tế thì chúng ta không nên tranh luận về việc chính sách tiền tệ như thế nào là hợp lý nữa. Chính phủ thực tế đã theo đuổi chính sách tiền tệ thắt chặt thì tôi nghĩ cần phải thực hiện điều này một cách quyết liệt nhưng có định hướng, tránh tạo cảm giác không chắc chắn cho người tiêu dùng.

Nhìn vào mối quan hệ “dùng công cụ là chính sách tiền tệ để kiềm chế lạm phát”, nếu coi lạm phát là “gà” thì chúng ta cần phải khoanh vùng xem “gà” sẽ chạy đến đâu chứ không thể để gà chạy tự do và dùng công cụ tiền tệ để đuổi theo nó.

Lấy một ví dụ khá đơn giản là giá xăng dầu. Khi chúng ta tăng giá xăng dầu thì chúng ta giải thích là vì giá thấp hơn so với các nước láng giềng. Nhưng khi tăng xong rồi chúng ta cũng vẫn nói tăng như thế là vẫn còn thấp hơn thì người dân sẽ nghĩ rằng còn tăng tiếp. Tại sao chúng ta không tăng một lần cho bằng hoặc đơn giản là nói rằng giá vẫn thấp hơn nhưng cam kết không có lần tăng giá nào nữa cho đến cuối năm.

Nếu chúng ta không định hướng người tiêu dùng về việc con gà lạm phát sẽ chạy đến đâu, thì rõ ràng điều này không khác gì để nó chạy tự do và chính sách tiền tệ sẽ liên tục phải đuổi theo nó.
  Bình luận (29)
Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết. Đang hiển thị 10/29 bình luận.
  • Lấy một ví dụ khá đơn giản là giá xăng dầu. Khi chúng ta tăng giá xăng dầu thì chúng ta giải thích là vì giá thấp hơn so với các nước láng giềng. Nhưng khi tăng xong rồi chúng ta cũng vẫn nói tăng như thế là vẫn còn thấp hơn thì người dân sẽ nghĩ rằng còn tăng tiếp.

    Tại sao chúng ta không tăng một lần cho bằng hoặc đơn giản là nói rằng giá vẫn thấp hơn nhưng cam kết không có lần tăng giá nào nữa cho đến cuối năm?

    14:59 (GMT+7) - Thứ Ba, 3/5/2011 Trả lời Thích
  • Tôi cho rằng vấn đề học thuật là phức tạp, vấn đề nắm bắt và vận dụng càng phức tạp hơn.

    Về nguyên lý thì chống lạm phát không thể "quên" nguyên lý là phải làm cho đồng tiền càng "khan hiếm" càng tốt. Vậy lạm phát theo tác giả sẽ là cái gì nếu không phải do sự dư thừa thái quá của tiền tệ? (Một nền kinh tế bị đoo la hóa cao thì có cần tính tới sự dư thừa của ngoại tệ không?)

    Đơn giản là nếu tiền quá thừa thì người ta tháo chạy khỏi nó, cong nếu nó quá khan hiếm thì người ta tìm mọi cách để được nắm giữ nó.

    Cứ theo nguyên lý đó mà các NHTW điều hành chính sách để nhằm duy trì sức mua của một đồng tiền cả về đối nội lẫn đối ngoại.

    09:14 (GMT+7) - Thứ Năm, 14/4/2011 Trả lời Thích
  • Ở Việt nam, phải làm ngược lại vì quy mô doanh nghiệp toàn vừa và nhỏ, hộ cá thể, ngoài ra Doanh nghiệp NN thì được ưu đãi, đầu tư công lớn, lại tập trung chủ yếu vào đất đai với chính sách đổi đất lấy hạ tầng. Giá lên mà lương lên chậm nên cứ hoảng hốt mà thôi.

    Bên cạnh đó, thị trường Ngân hàng - Tài chính nuôi dưỡng quá nhiều sâu, cạnh tranh lươn lẹo. Do đó, hạ thấp lãi suất xuống. Ai kinh doanh không nổi, không đủ tiềm lực xoay vòng vốn thì cho ra đi. Thế là nhanh nhất. Khi người dân dư dả tiền, chả nghĩ đến chuyện tiết kiệm, lúc ấy lạm phát mới có ý nghĩa.

    Chính sách nhà nước thực thi không triệt để. Mới thắt chặt chính sách đã vội vàng nâng tỉ giá giữa đồng VND - USD để xoa rồi.

    KẾT LUẬN là: Phải làm ngược hoàn toàn với lý thuyết mới hạn chế lạm phát được.

    17:14 (GMT+7) - Thứ Tư, 6/4/2011 Trả lời Thích
  • Nền kinh tế Việt Nam đang lạm phát theo tôi là do các nguyên nhân sau :

    - Đầu tư công kém hiệu quả dẫn đến chỉ số ICOR quá thấp làm dư tiền mà thiếu hàng hóa.

    - Lãi suất quá cao làm cho chi phí đầu vào của các doanh nghiệp tăng cao làm tăng lạm phát chi phí đẩy.

    - Nhập siêu cao làm cho tỉ giá tăng làm cho tổng cầu tăng

    Như vậy theo một số nguyên nhân trên thì áp dụng mô hình IS – LM thì chúng ta phải giảm đầu tư công (lĩnh vực này ICOR kém hiệu quả) trong một thời gian ngắn bên cạnh giữ nguyên mức cung tiền MS để đường IS dịch chuyển sang trái làm cho lãi suất hạ xuống góp phần cải thiện chi phí đẩy cho các doanh nghiệp.

    Sau một thời gian ngắn khi ổn định chúng ta sẽ xem xét tiếp đến việc giảm cung tiến MS để đường MS dịch chuyển sang trái để lãi suất tăng lên mức độ ổn định, nền kinh tế sẽ dần trở về trạng thái bền vững.

    14:17 (GMT+7) - Thứ Tư, 6/4/2011 Trả lời Thích
  • Về tổng quan, nhìn bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay, khó mà có thể có chính sách tiền tệ hợp lý được.

    Lạm phát bắt nguồn từ nhiều yếu tố không chỉ là cung cầu tiền mà chí có chính sách tiền tệ không đâu.

    Giá dầu và các nguyên liệu tăng nhanh trên toàn thế giới do nhu cầu tăng mạnh từ Trung quốc và các quốc gia mới nổi làm cho thế giới lạm phát nặng.

    Nền kinh tế Việt nam quá bé nhưng lại chịu ảnh hưởng nhiều từ bên ngoài do vẫn phải nhập các nguyên nhiên liệu trên.

    Nhưng tôi hoàn toàn đồng ý rằng chính sách lãi suất làm giảm cung tiền dẫn đến giảm lạm phát vẫn là chính sách hợp lý lúc này, mặc dù nó đang khiến các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn.

    11:52 (GMT+7) - Thứ Tư, 6/4/2011 Trả lời Thích
  • Tôi hoàn toàn đồng ý với TS Hào là muốn chống lạm phát thì phải tăng lãi suất, đó là lý thuyết rất cơ bản của kinh tế vĩ mô được biên soạn trong giáo trình mà bất cứ Trường Đại học nào cũng đang áp dụng.

    Xét trong điều kiện của Việt Nam, xin được trao đổi với Tiến sĩ và độc giả về vấn đề này như sau:

    Thứ nhất, mặt bằng lãi suất cho vay đang rất cao, nếu muốn hỗ trợ doanh nghiệp thì cần khống chế trần lãi suất cho vay chứ ai lại đi khống chế trần lãi suất huy động.

    Thứ hai, gần đây báo chí nói rất nhiều đến mặt bằng lãi suất huy động đang từ 16 đến 18,5%, điều này cũng rất dễ kiểm chứng.

    Thiết nghĩ, lạm phát cao thì lãi suất huy động cao cũng là điều dể hiểu, phần nào bù đắp thiệt hại cho người dân gửi tiết kiệm. Lãi suất thực dương thì tiết kiệm mới hấp dẫn, người dân gửi tiền vào ngân hàng nhiều thì mới góp phần chống được lạm phát.

    Mặt khác, nếu người dân không gửi tiết kiệm do lãi suất không hấp dẫn thì sẽ mua vàng, ngoại tệ, tích trữ hàng hóa... thì lại càng làm lạm phát gia tăng.

    Nếu không sớm để lãi suất vận hành theo cơ chế thị trường, theo tôi lạm phát vẫn còn tiếp diễn.

    09:43 (GMT+7) - Thứ Tư, 6/4/2011 Trả lời Thích
  • Tôi không đồng ý với nhận định của Duc Anh về việc LS của VN hiện đã quá cao và DN sẽ không dám vay tiền nữa.

    Ở đây phải thấy 1 thực trạng là DN là 1 thực thể hoạt động sống, đã gọi là sống thì luôn phải hoạt động, khỏe thì đi lại nói năng chém gió, yếu hơn chút thì ngồi lỳ, đôi lúc yếu quá nằm bẹp tuy nhiên mũi vẫn phải thở, tim vẫn phải đập và dù biết rằng bệnh ung thư thật khó chữa nhưng các con cháu cụ vẫn phải truyền máu, truyền nước...

    Như thế để giải thích một cách hình tượng cho cuộc sống của DNNVV hiện nay. Họ đã trót đi vay rồi, với các khoản vay kể cả dài hạn để đầu tư nhà máy, mua máy móc công nghệ, lúc ký vay thì LS là 7%/năm nhưng LS này chỉ được đảm bảo theo quý, sau đó LS sẽ phải điều chỉnh theo thị trường. Khi đã vay rồi không thể thích là trả ngay được vì nếu đã có khả năng ấy thì cũng chẳng vay làm gì.

    Giống như người bị ung thư đâu phải cứ cắt bỏ khối u là mọi việc sẽ dừng lại và cuộc sống bắt đầu tốt hơn mặc dù ở mức độ thấp hơn.

    TS Hào là 1 người trẻ nhưng những nghiên cứu của anh là có trách nhiệm, tôi thấy Vũ Thành Tự Anh cũng có 1 số quan điểm tương tự, đây là những nghiên cứu mang tính chân thực của những người VN thực thụ phát biểu từ bên trong, từ trách nhiệm yêu nước và tôi không nghi ngờ họ có động cơ gì.

    Chúng ta có thể dùng chuyên gia nước ngoài ở khá nhiều lĩnh vực nhưng với 1 quốc gia, việc dùng chuyên gia nước ngoài nên hạn chế ở những vấn đề tham khảo nằm ở các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và có thể nói là không mang tĩnh vĩ mô cao.

    Lắp ráp những nghiên cứu của TS Hào từ cuối 2010 với tình hình tực tế của DNNVV tôi thấy đúng hết, tại bài này TS Hào đã hơi khiêm tốn cho rằng khi làm CS vĩ mô CP chỉ được chọn 1 và sau 1 thời gian mới biết hiệu ứng, kết quả cảu nó, tôi thì nghĩ khác vì cảm nhận của tôi là từ chính các DNNVV, chính nơi hàng ngày chúng tôi đang phải vật lộn với cái chính sách hiện nay và đúng là tất cả những phỏng đoán của TS Hào đã đang hiện diện.

    Phiên cuối của quốc hội vừa rồi, bác Cao Sỹ Kiêm cũng đã nói vấn đề này trước quốc hội, nhiều DN cũng nói như là chị Loan - Hà nội, như anh Tâm - Cần thơ, anh gì đó (tôi quên mất tên) PCT hội DNT Việt nam đại biểu Bình dương...

    DNNVV hiện đang đi đến những bờ vực, khó khăn đang hiển hiện, thanh khoản không có, hàng hóa dư thừa nhưng không có sức mua, tiền lãi vẫn phải trả hàng ngày, lương thưởng tăng lên, công nhân đình công hoặc nếu không thì lãn công do không đủ sống.,vv và vv.

    Chưa có 1 động thái nào để hỗ trợ DNNVV, mới đây nhất CP giao BTC ban hành thông tư cho giãn thuế thu nhập, tôi nghĩ không cần giãn, kể cả có miễn thuế thu nhập DNNVV cũng chẳng cần, vì sao? Họ còn đang chống chọi với phá sản làm sao có thu nhập, khi đã không có thu nhập (lỗ) thì làm gì phải nộp thuế, như vậy có giãn hay thậm chí miễn cũng như không.

    Bao nhiêu thứ mà các DNNVV làm ra trong nhiều năm, bao nhiêu tích luỹ của họ để chuẩn bị đương đầu với cơn đổ bộ của WTO mà gần hơn cả là các nhà SX của nước TQ lãng giềng đã không cánh mà bay chỉ trong 10 tháng qua: năm ngoái LS không thể hạ xuống mặc dù CP đã ra sức làm đủ mọi cách, tỷ giá tăng một cách nhanh chóng và không thể dự báo, năm nay 2 thứ trên vẫn thế còn thêm CP đã kêu gọi chống LP và đưa ra chính sách nhưng thực tế thì sao? Mới qua 3 tháng các chỉ số trong "rổ rau" của người dân đã tăng đến 50%, họ đâu có biết cái rổ tính lạm phát của CP gồm những gì mà chỉ ra có 6,5%, họ chỉ biết rroor rau nhà mình bị thiệt hại và tính ra như vậy.

    Đến PCT quốc hội Nguyễn đức Kiên còn phải chua chát là "cầm 100 nghìn đi chợ như không có gì" thì mới thấy cuộc sống của người LD, vận mệnh của DNNVV đáng báo động thế nào.

    Tôi chưa bao giờ viết lên đây mặc dù rất hay đọc, nhưng hôm nay mạo muội viết vài dòng, cuối cùng trước khi dừng bút tôi muốn dùng kết quả để phản ánh chính sách như sau:

    Tôi không phải là người làm CS vĩ mô nhưng nếu 1 chính sách mà trong đó người có tiền đem gửi ngân hàng lấy lãi được lợi nhiều hơn người mang tiền đó đi đầu tư cho sản xuất thì thử hỏi ai còn muốn đầu tư SX vậy chính sách thì nói khuyến khích các DNNVV đặc biệt là DX sản xuất - chính sách đó đúng ở đâu?

    Một chính sách mà 1 người không có khả năng gì, không có trình độ gì, suốt ngày ngồi uống cà phê và la cà nghe tin đồn, mua 1 miếng đất phía tây Hà nội sau 1 năm bán đi hơn cả 1 doanh nghiệp hàng trăm người lao động với hàng trăm ngàn thứ kỹ năng, với hàng trăm cái đầu óc được đào tạo bao nhiêu năm trời dưới mái trường, với cả quá khứ làm ăn rất tốt của DN đó trong nhiều năm qua khổ sở vật vã cả năm làm đủ các hợp đồng nọ, L/C kia.,vv như thế sao gọi là chính sách đúng?

    TS. Hào cũng nói đến thực tiễn việt nam so với các nước khác, WB trả lời họ chưa có đúc kết nào như thế nhưng bây giờ thử hỏi họ đã có đúc kết nào như thế này chưa, chắc họ cũng sẽ trả lời là chưa vì những nơi họ đúc kết làm gì có những người như ở ta những người kiếm được tiền trong quá khứ bằng nhiều nguồn khác nhau trong đó có cả tham nhũng rồi đem gửi ngân hàng lấy lãi 17-18%, đem bỏ vào đất đai...

    Kính các bác!

    09:24 (GMT+7) - Thứ Tư, 6/4/2011 Trả lời Thích
  • NHNN cần tăng cường các biện pháp kiểm soát tín dụng, rà soát lai các quy định, quy chế cho vay của các TCTD.

    Cho dù là có giảm tỉ lệ tăng trưởng phi sản xuất xuống dưới 18%... nhưng chỉ cần vài thao tác biến hóa nhỏ thì việc cho vay phi sản xuất suất sẽ thành sản xuất ngay...

    Điển hình là chuyên đầu cơ đất của các DN vừa và nhỏ, DN gia đình..., chỉ cần 1 vài thao tác thì việc vay đó sẽ chuyển thành vay tài trợ vốn lưu động ngay thôi.

    Đây chỉ là 1 trong các thủ thuật của các TCTD nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh trong hiện tại..., nhưng để lại hậu quả rất khôn lường cho nền kinh tế.

    08:25 (GMT+7) - Thứ Tư, 6/4/2011 Trả lời Thích
  • Tôi đồng ý với quan điểm của ông Hào.

    Tôi cho rằng Việt Nam đang trong cái “vòng lẫn quẫn” : “nền kinh tế sản xuất hàng hóa thiếu và yếu cộng với đầu tư nhiều không hiệu quả gây ra “dư tiền” –“thiếu hàng” dẫn đến lạm phát cao.

    Chính phủ thấy lạm phát thì tăng lãi suất làm sản xuất càng yếu và thiếu (cộng thêm các loại kinh doanh đầu cơ vì đầu tư chân chính nào cho lợi bằng lãi suất ngân hàng) dẫn đến thiếu hàng thế là lạm phát lại tiếp tục” cứ thế lặp đi lại lạm phát năm này cao hơn năm trước còn tăng trưởng thì ngược lại.

    Dĩ nhiên lạm phát cũng có yếu tố bên ngoại nhưng nội tại mới là chính.

    Việt Nam đang bị “căn bệnh” trầm kha cần có liều thuốc mang tên “trị lạm phát Việt Nam” từ gốc chứ không phải là máy móc áp dụng của các nước có đặc điểm khác. Liều thuốc này phải có tác dụng trên diện rộng và sâu sắc chứ không phải chỉ trị triệu chứng.

    22:59 (GMT+7) - Thứ Ba, 5/4/2011 Trả lời Thích
  • Kinh tế hiện đại thì khó mà nói chính sách kinh tế nào hiệu quả hơn chính sách nào, chỉ có thực thi hiệu quả thì mới giúp cho chính sách kinh tế phát huy được tác dụng.

    Ở môi trường Việt Nam thì càng khó đoán hơn. Đã đến lúc các nhà làm chính sách cần xem đến chỉ số lòng tin (credibility) của người dân vào chính sách kèm chế làm phát của nhà nước.

    18:53 (GMT+7) - Thứ Ba, 5/4/2011 Trả lời Thích
Xem tiếp bình luận
Bình luận của bạn
Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu.
Gõ Telex Gõ VNI
Chọn hình đại diện cho bình luận của bạn?