VnEconomy > Tài chính 17:45 (GMT+7) - Thứ Năm, 5/5/2011

Nợ xấu ngân hàng cổ phần có thật thấp?

Hết tháng 2/2011, nợ dưới chuẩn của khối ngân hàng thương mại cổ phần khoảng 22 nghìn tỷ đồng, tương đương 1,76%/tổng dư nợ...

Nợ xấu ngân hàng cổ phần có thật thấp?

Có vẻ như dư nợ tăng thì nợ không đủ tiêu chuẩn tăng theo là điều khó tránh.

Hết tháng 2/2011, nợ dưới chuẩn của khối ngân hàng thương mại cổ phần khoảng 22 nghìn tỷ đồng, tương đương 1,76%/tổng dư nợ.

Mặc dù tỷ lệ này thấp hơn so với mức trung bình hệ thống (2,33%) nhưng với cung cách quản tiền vay ở các ngân hàng và những kẻ hở do cơ chế thì chưa thể nào vội mừng.

Khó đong đo

Số liệu từ một đơn vị nghiệp vụ của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, hết tháng 2/2011, dư nợ cho vay của khối ngân hàng cổ phần trên 1,2 triệu tỷ đồng, tương ứng trên 55% tổng dư nợ toàn hệ thống. Nếu so với tháng trước, tăng 2,16% và so với 31/12/2010, tăng 3,9%; trong đó, dư nợ VND chiếm trên 79% tổng dư nợ của khối này.

Như vậy, trung bình mỗi tháng, tổng dư nợ khối ngân hàng cổ phần tăng trên 1,9% trong khi tỷ lệ này của cả hệ thống chỉ 1,76%. Đáng chú ý, trong số 39 ngân hàng của khối thì chỉ có 10 đơn vị có dư nợ giảm, còn lại đều tăng.

Có vẻ như dư nợ tăng thì nợ không đủ tiêu chuẩn tăng theo là điều khó tránh. Đến cuối tháng 2 năm nay, nợ dưới chuẩn của khối vượt quá con số 22 nghìn tỷ đồng, tăng 0,14% so với tháng trước và tăng 0,16% so với 31/12/2010.

Theo đánh giá chung của những người chuyên theo dõi nợ xấu ở các ngân hàng thương mại thì nợ dưới chuẩn của khối ngân hàng cổ phần không cao lắm, nếu so với mức trung bình chung cả hệ thống là 2,33% và đặc biệt là trong suốt 3 tháng: 12/2010, 1 - 2/2011, tỷ lệ nợ dưới chuẩn của khối này chỉ 1,67%/tổng dư nợ bình quân của khối, tương ứng với trên 42% tổng số nợ không đủ tiêu chuẩn toàn hệ thống.

Dù vậy thì điều không vui là trong hai tháng liên tục, nợ không đủ tiêu chuẩn của khối này vẫn tăng, kể cả khi tín hiệu “thắt chặt tiền tệ” và giảm dư nợ cho vay của Ngân hàng Nhà nước đã được phát đi từ đầu năm.

Nhận xét về vấn đề nợ xấu, một lãnh đạo cấp vụ của Ngân hàng Nhà nước, vốn chuyên tiếp xúc với con số “đáng ghét” này cho biết: “Trong bối cảnh sản xuất đình trệ như hiện nay, nợ xấu không tăng mới lạ”. Theo ông, khi khả năng tiêu thụ hàng hóa chưa ổn định trở lại, đặc biệt là sự thu hẹp của thị trường xuất khẩu, hàng hóa làm ra không bán được hoặc bán chậm, đã làm cho tình hình tài chính doanh nghiệp ngày càng xấu thêm. Bởi thế, chuyện nợ đang từ nhóm 1 hay nhóm 2 bị chuyển sang nhóm 3, thậm chí nhóm 4, 5 rất khó tránh.

Thứ hai, vấn đề cơ cấu dư nợ tại các ngân hàng và đặc biệt là rủi ro đạo đức của cán bộ tín dụng cũng là yếu tố làm gia tăng nợ xấu.

Chẳng hạn, các hồ sơ vay lúc nào cũng dành cho sản xuất, dự án, phương án kinh doanh khả thi nhưng khổ  nỗi, cách vay tiền ngân hàng ở Việt Nam trên thế  giới chỉ có một. Đó là sau khi ký kết xong hợp đồng vay, khách hàng đưa ôtô đến chở cả bao tải tiền đi, còn cán bộ tín dụng thì thỉnh thoảng mới đến ngó vào dự án/phương án sản xuất. “Thật khó biết bao tải tiền kia có vào sản xuất hay chỉ loanh quanh ở khu vực phi sản xuất như bất động sản, thị trường tài chính. Đầu tư ở khu vực này thì chỉ có tiền từ túi này chảy sang túi kia và người nào ôm cuối cùng thì phải thua lỗ”, ông này nói.

Thế nên, dù thi thoảng Ngân hàng Nhà nước có công bố các con số  tín dụng khu vực phi sản xuất nhưng con số thực tế vẫn là một ẩn số. Và xa hơn, là con số nợ xấu tại các ngân hàng rất khó đong đo mức độ xác thực đến đâu, khi mà đây là vấn đề vẫn được cho là nhạy cảm từ trước đến nay.  

Còn khe hở

Một đơn vị nghiệp vụ thường xuyên được tiếp xúc với nhiều thông tin từ các ngân hàng là Trung tâm Thông tin tín dụng (CIC) nhưng với cơ chế hiện nay, cơ quan này cũng chỉ quản lý và thông tín những con số rời rạc, chắp vá và quyền năng bị hạn chế, chưa xứng tầm với chức năng “cảnh bảo rủi ro tín dụng”.

Hiện tại, CIC cũng thông tin nhiều vấn đề như nợ không đủ tiêu chuẩn của hệ thống, từng ngân hàng hay danh sách khách hàng nợ nhóm 3, 4, 5 và “khách hàng có quan hệ nhiều tổ chức tín dụng” mà chưa có thông tin khách hàng có nợ xấu với nhiều tổ chức tín dụng.

Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định: “Trường hợp một khách hàng có nhiều hơn một (01) khoản nợ với tổ chức tín dụng mà có bất kỳ khoản nợ bị chuyển sang nhóm nợ rủi ro cao hơn thì tổ chức tín dụng bắt buộc phải phân loại các khoản nợ còn lại của khách hàng đó vào các nhóm nợ rủi ro cao hơn tương ứng với mức độ rủi ro”.

Đây là nguyên tắc “một khách hàng chỉ có một nhóm nợ”, được quy định khá ngặt nghèo để giảm thiểu tổn thất ở mức thấp nhất, nhằm làm lành mạnh hoạt động tín dụng.

Có nghĩa, một khách hàng A có 3 món vay, món 1 trị giá 3 tỷ đồng ở nhóm 1, món 2 trị giá 2 tỷ đồng ở nhóm 2 (bắt đầu quá hạn nhưng dưới 90 ngày), nhưng món 3 dù chỉ 500 triệu đồng mà bị nhảy vào nợ nhóm 4 thì tất cả 3 món vay trên với tổng số tiền vay 5,5 tỷ đồng đều bị rơi vào nhóm 4. Hay nói cách khác, tất cả nhóm nợ của khách hàng trên đều bị quy đổi về nhóm nợ xấu nhất mà một trong số các món nợ bị rơi vào đó.

Vấn đề bắt đầu ở đây. Nếu khách hàng trên vay một ngân hàng thì mọi chuyện đơn giản vì quản trị rủi ro ngân hàng đó sẽ xử lý. Nhưng nếu khách hàng trên vay nhiều ngân hàng khác nhau thì nguyên tắc trên gần như không có tác dụng. Rất có thể, khách hàng sẽ giấu điều này và các ngân hàng thương mại trót “dan díu” với khách hàng này rất khó biết được khách hàng đó nợ những ai và thiếu khả năng đề phòng bất trắc.

Để giảm thiểu rủi ro, nhiều ngân hàng thương mại cho rằng, CIC là đơn vị được tiếp cận nhiều thông tin, nên cần giao cho đơn vị này “quyền quy đổi về nhóm nợ” đối với nợ xấu của một khách hàng ở nhiều tổ chức tín dụng theo như quy định tại Quyết định 493, để thông báo ngay cho những ngân hàng sắp trở thành “nạn nhân” của khách hàng nói trên. Thậm chí, nếu cần thiết, có thể thông báo cho cả hệ thống biết.
  Bình luận (4)
Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết. Đang hiển thị 4/4 bình luận.
  • Theo tôi, ý kiến của các bạn đều hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, trên thực tế các NH đã show hết tình hình nợ xấu của mình hay chưa?

    Tôi đã từng thấy tại 1 NH TMCP lớn có nhiều biện pháp để xử lý nợ xấu như: NVTD bỏ tiền túi để nộp lãi, gốc đến hạn thay cho KH và bằng mọi cách để theo KH thu hồi lại. Cho vay thì phải có trách nhiệm thu nợ KH là đương nhiên.

    Tuy nhiên, KH gặp rủi ro khách quan, với đồng lương ít ỏi nhận được hàng tháng nhưng phải nộp thay KH thì thật là ko thể chấp nhận nổi. có những người mượn tiền nhà, bạn bè… đến khi không thể che lấp được nợ xấu, để phát sinh nợ quá hạn thì họ cũng gần như không thể thu hồi lại phần tiền này.

    Không những thế, vì áp lực của lãnh đạo về việc che dấu nợ xấu mà một số NVTD không còn lòng tin vào NH và phải nghĩ việc để tránh áp lực trả nợ thay và chịu mất phần tiền đã nộp thay KH.

    Nếu một KH luôn được “bao che” về khả năng trả nợ kém của họ thì dần dần họ sẽ quen với điều đó, trách nhiệm và ý thức trả nợ của họ sẽ ko còn.

    Vô tình, chúng ta lại tạo ra những khách hàng xấu cho ngành NH. Không những thế, Ban lãnh đạo NH cũng không thể đánh giá thực được thực trạng nợ xấu trong NH mình để có phản ứng kịp thời.

    10:42 (GMT+7) - Thứ Hai, 9/5/2011 Trả lời Thích
  • Bạn Hoàng Gia Anh phân tích kỹ nhưng nói vấn đề các TCTD phân loại vào nhóm nợ cao để giảm nghĩa vụ nộp thuế là không chính xác đâu vì nhiều lẽ, nhưng lẽ cơ bản nhất là:

    Giám đốc CN các ngân hàng TMCP cũng đều là người đi làm thuê cả, mà đã làm thuê thì luôn chịu áp lực dư nợ, lợi nhuận và tình trạng nợ xấu như thế nào? Nên chả có ông giám đốc nào dại mà nâng tỷ lệ nợ xấu lên cao để mà "ốm đòn" với HĐQT.

    Vấn đề của các NHTM CP hiện nay phần lớn là: không báo cáo đúng số liệu nợ xấu để hạn chế bị thanh tra ngân hàng NN để ý.

    Còn về phía khách hàng bị nợ xấu các năm trước thì đúng là các ngân hàng và CIC chưa phối hợp tốt để trả về lại nhóm nợ tốt (nhóm 1) khi mà khách hàng đã làm xong nghĩa vụ với ngân hàng và thời gian đã qua hạn quy định đối với nợ dưới chuẩn bị khai báo theo CIC.

    11:20 (GMT+7) - Thứ Sáu, 6/5/2011 Trả lời Thích
  • @ bạn Hoang Gia Anh:

    1. "Hãy nghĩ đến tình huống ngược lại, khi các TCTD cố tính phân loại nợ của khách hàng vào nhóm nợ cao (xấu) hơn để giảm nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước?".

    Tôi thấy:

    Các TCTD không bao giờ cố tình phân loại nợ vào nhóm nợ cao (xấu) để giảm nghĩa vụ thuế cả. Vì:

    - Được một chút lợi giảm thuế nhưng bị thiệt rất nhiều. Cụ thể:

    + Cổ đông kêu gào

    + NHNN tuýt còi, và trừng phạt bằng các biện pháp quản lý ngặt nghèo

    + Các tổ chức tín dụng (hàng xóm láng giềng) không muốn quan hệ vốn với anh ta
    ...

    Vì thế, đặt giả thiết này không có tính thực tế.

    2. "Tóm lại, việc phân loại nợ, tự nó không làm giảm thiểu rủi ro tín dụng như tác giả nêu được đâu" nhưng tôi nghĩ: việc phân loại nợ chính xác sẽ là cơ sở giảm thiểu rủi ro, vì:

    + Trích lập dự phòng chính xác

    + Cẩn trọng để hạn chế cho vay dưới chuẩn, tránh cho vay tràn lan.

    + có biện pháp phòng ngừa trước khi mất kiểm soát rủi ro.

    3. Ở Việt Nam chưa có khái niệm "nợ dưới chuẩn" nhưng có khái niệm "nợ không đủ tiêu chuẩn". Giữa hai cái đó là sự khác biệt về hình thức biểu đạt ngôn từ, còn bản chất như nhau.

    09:52 (GMT+7) - Thứ Sáu, 6/5/2011 Trả lời Thích
  • Tôi xin có một số ý kiến với tác giả về bài viết như sau.

    Thứ nhất, tác giả nên sử dụng đúng khái niệm về các nhóm nợ hiện hành tại Việt Nam. Chúng ta chưa có khái niệm nợ dưới chuẩn. Ngược lại, có khái niệm nợ đủ tiêu chuẩn là nợ Nhóm 1, như vậy nếu hiểu “nôm” ra thì nợ từ nhóm 2 trở lên đều là nợ “dưới chuẩn”, trong khi các “tỷ lệ” tác giả đưa ra là Nợ xấu, hay nợ từ nhóm 3 trở lên, nghĩa là không tính nhóm 2: Nợ cần chú ý;

    Thứ hai, việc phân loại nợ trước hết là để giúp các tổ chức tín dụng quản lý nợ tốt hơn, kể cả về mặt chi phí để quản lý nợ: các biện pháp quản lý khác nhau sẽ được áp dụng cho các nhóm nợ khác nhau, thứ hai là để trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, nhắm phản ánh đúng thu nhập/chi phí của tổ chức tín dụng ở mức độ chấp nhận được đối với cả TCTD và Nhà nước (xác định số thuế Thu nhập doanh nghiệp phải nộp). Hãy nghĩ đến tình huống ngược lại, khi các TCTD cố tính phân loại nợ của khách hàng vào nhóm nợ cao (xấu) hơn để giảm nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước?

    Tất nhiên, việc phân loại nợ còn để giúp Ngan hàng Nhà nước, các cổ đông giám sát hoạt động của các TCTD;

    Tóm lại, việc phân loại nợ, tự nó không làm giảm thiểu rủi ro tín dụng như tác giả nêu được đâu.

    Thứ ba, kết quả phân loại nợ về cơ bản không được TCTD công bố cho khách hàng, nên khách hàng về nguyên tắc không biết nhóm nợ của mình tại từng tổ chức tín dụng để “thông báo” cho TCTD khác, mặc dù họ đương nhiên biết về tuổi nợ (nợ quá hạn bao nhiêu ngày).

    Ngoài ra, các TCTD chỉ có trách nhiệm cân nhắc phân loại lại nợ vào nhóm nợ cao hơn nếu biết thông tin về nhóm nợ của khách hàng tại các TCTD khác là cao hơn. Việc sử dụng thông tin từ cơ quan thông tin tín dụng (CIC) cũng không được qui định bắt buộc là cắn cứ để các TCTD “tím hiểu” thông tin về nhóm nợ của Khách hàng tại các TCTD khác.

    Việc không qui định nếu trên là đúng vì xét về tính pháp lý, thông tin của CIC chỉ để tham khảo;

    22:18 (GMT+7) - Thứ Năm, 5/5/2011 Trả lời Thích
Bình luận của bạn
Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu.
Gõ Telex Gõ VNI
Chọn hình đại diện cho bình luận của bạn?