VnEconomy > Tài chính 01:28 (GMT+7) - Thứ Bảy, 21/5/2011

Cơ chế trần lãi suất: Sắp có điều chỉnh?

Một chuyên gia cho rằng cơ chế trần lãi suất huy động VND chắc chắn sẽ điều chỉnh, quan trọng là nó sẽ điều chỉnh như thế nào?...

Cơ chế trần lãi suất: Sắp có điều chỉnh?

Các diễn giả tại hội thảo trao đổi với doanh nghiệp.

Một chuyên gia cho rằng cơ chế trần lãi suất huy động VND chắc chắn sẽ điều chỉnh. Và quan trọng là nó sẽ điều chỉnh như thế nào?

Sáng 20/5, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc Tế (VIB) tổ chức hội thảo “Kinh tế vĩ mô 2011 và cơ hội - thách thức cho doanh nghiệp SMEs” cho khoảng 300 đại diện doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) tại Hà Nội.

Mối quan tâm hàng đầu mà doanh nghiệp đặt ra tại hội thảo này là lãi suất. Bao giờ lãi suất mới giảm? Có điều chỉnh cơ chế trần lãi suất huy động VND hay không?

“Chỉ là ngày một, ngày hai”

Diễn giả của hội thảo, ông Cao Sỹ Kiêm (nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tiền tệ Quốc gia), nhận định: “Lãi suất chưa giảm được!”. Nguyên do, cơ sở của lãi suất là lạm phát, mà lạm phát năm nay đến lúc này chắc chắn là ở mức hai con số.

Ông Kiêm cũng đặt vấn đề trực tiếp với lãnh đạo VIB, khi lãi suất chưa giảm được, các ngân hàng cần tăng cường tiết giảm chi phí, tăng thu từ dịch vụ để bù cho thu từ tín dụng, bớt lãi từ tín dụng để chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp vay vốn.

Còn cơ chế trần lãi suất huy động VND, diễn giả này bình luận rằng nó là một ý đồ tốt. Khi cơ chế ra đời, nó ngăn chặn nguy cơ bùng phát một cuộc đua tăng lãi suất huy động ở tầm cao. “Nhưng rồi đến nay cả mốc 14% đó cũng không kiểm soát được, giờ là 16%, 17% rồi 18%. Lãi suất cho vay theo đó tăng cao”, ông Kiêm nói.

Cũng theo nhìn nhận của chuyên gia này, mới đây Ngân hàng Nhà nước đã tăng lãi suất nghiệp vụ thị trường mở (OMO) từ 14%/năm lên 15%/năm, “phá vỡ” cả mức trần 14%/năm lãi suất huy động VND.

Lãi suất trên OMO cũng là một lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước. Nó có thể linh hoạt theo các mục đích của nhà điều hành. Ở đây, động thái điều chỉnh vừa qua, dù không trực tiếp tác động đến hoạt động huy động vốn từ doanh nghiệp, dân cư, nhưng nó mang tính tín hiệu cho sự thay đổi - một giá trị cụ thể của công cụ điều hành bên cạnh các tác động trực tiếp của nó.

Nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cũng dẫn lại hai phương án đang được bàn luận là nâng trần lãi suất huy động VND lên đồng thời áp trần lãi suất cho vay; hoặc bỏ trần lãi suất huy động và áp trần lãi suất cho vay.

“Theo tôi, không nên áp trần lãi suất huy động mà áp trần lãi suất cho vay. Như thế ngân hàng nào huy động lãi suất cao thì bớt lãi, và ngược lại; còn doanh nghiệp sẽ được hạn chế tình trạng lãi suất cho vay quá cao. Cơ chế trần như thế cũng không quá quắt. Còn với cơ chế chỉ áp trần lãi suất huy động như hiện nay, chắc chắn sẽ điều chỉnh, chỉ là ngày một ngày hai mà thôi”, ông Kiêm nói.

Có nên bỏ hẳn trần?

Không có trong buổi hội thảo của VIB, nhưng câu hỏi này cũng là một giả thiết mà một số ý kiến đặt ra trong thời gian qua. Ông Cao Sỹ Kiêm cũng nhấn mạnh rằng: “Quan điểm của tôi không có trần lãi suất là tốt nhất, mà để thị trường điều tiết. Nhưng do những thời điểm thị trường bất lợi thì nhà điều hành có biện pháp can thiệp”.

Vậy có nên bỏ trần lãi suất? Một trả lời gián tiếp cho câu hỏi trên là: nếu một trong hai phương án đang được bàn luận hiện thực, liệu có tình trạng lại “thả gà ra đuổi”? Bởi thực tế vài năm gần đây đã có quá đủ tình huống để hoài nghi.

Đó là việc áp cơ chế trần lãi suất cho vay trước đây, cụ thể là lãi suất cho vay không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản. Cơ chế này khi triển khai có thời điểm dẫn đến nhiều loại phí phát sinh trong hoạt động tín dụng, gián tiếp đẩy lãi suất vay vốn vượt rào và gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp.

Rồi ngay như những ngày qua, việc ngân hàng huy động vốn VND vượt trên trần 14%/năm cũng không còn xa lạ ở mức độ “hiện tượng” nữa.

Vậy thì nếu nới trần lãi suất huy động lên, hay áp trần lãi suất cho vay, những thực tế tương tự có được loại trừ một cách triệt để, hay chỉ êm ả trong một thời gian đầu?

Trong khi đó, quan điểm bỏ hẳn trần lãi suất VND (cả huy động và cho vay) không phải là không có cơ sở. Trong trường hợp này, cung - cầu của thị trường sẽ tạo những điểm đến cân bằng. Trường hợp thị trường có những yếu tố bất lợi như ông Kiêm nói, Ngân hàng Nhà nước đóng vai trò can thiệp bằng các công cụ kỹ thuật của mình.

Không trần lãi suất, cần vốn, ngân hàng nâng lãi suất để huy động. Lãi suất cho vay theo đó sẽ tăng lên để đảm bảo có lãi. Lãi suất tăng đến một điểm nào đó quá sức người vay, nhu cầu sẽ giảm. Ngân hàng thiếu khách vay sẽ phải cân đối lại nguồn vốn và lãi suất.
 
Ở thời điểm này, lãi suất cao đang “đánh vào tổng cầu” như quan điểm của Ngân hàng Nhà nước; cầu giảm - tín dụng thu hẹp và đúng như chủ trương đề ra.

Trở lại với hội thảo nói trên, một diễn giả khác là ông Trần Đình Thiên (Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam) cũng đưa ra quan điểm cần quyết liệt ở vấn đề lãi suất chống lạm phát. Lúc này có thể “đau” nhưng sẽ tốt cho dài hạn.

Theo chuyên gia này, trần lãi suất hiện nay là đóng đinh lại! Liệu khi lạm phát lên như vậy thì lãi suất có lên tiếp không? Nhưng nếu lạm phát xuống thì chưa chắc đã xuống ngay.

“Nếu nới lỏng ngay thì cung tiền lên, lạm phát nó lại trở lại ngay, chính các doanh nghiệp sẽ phải trả giá ngay. Tôi cho rằng trong vấn đề lãi suất là phải quyết liệt. Nếu lạm phát giảm thì cũng phải chờ một độ trễ chứ không nên giảm lãi suất ngay.

Lạm phát bất thường thì phải dùng biện pháp không bình thường. Phải mạnh tay níu nó xuống. Doanh nghiệp chịu lãi suất cao thì xiêu vẹo, nhưng chưa phá sản ngay. Nếu mạnh tay thì lạm phát trong ngắn hạn sẽ chuyển biến rất nhanh, và khi đó sẽ từng bước để có cơ chế lãi suất hỗ trợ doanh nghiệp”, ông Thiên phân tích.

Dẫn chứng mà Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam đưa ra là những năm gần đây cứ đầu năm chống lạm phát, cuối năm “thành công” khi lạm phát hạ, lại nới lỏng ngay rồi đầu năm tới nó lại đến gõ cửa. Phía sau đó là sự tổn thương niềm tin của doanh nghiệp, người dân; hay cụ thể hơn là lạm phát quãng 2008 đến nay dồn tới khoảng 50%, tức giá trị đồng tiền bị mất đi phân nửa…
  Bình luận (9)
Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết. Đang hiển thị 9/9 bình luận.
  • @Than:

    Chuẩn không cần chỉnh. Chỉnh thì không còn chuẩn.

    14:34 (GMT+7) - Thứ Hai, 23/5/2011 Trả lời Thích
  • Cơ chế nào cũng phải dựa vào "kiềng 3 chân":

    - Chính sách khả thi, tạo được sự đồng thuận từ trên xuống dưới.

    - Cơ chế kiểm soát đồng bộ, không nên coi việc lãi suất chỉ là trách nhiệm của NHTƯ.

    - Chấp hành nghiêm túc của các ngân hàng thương mại.

    Thực tiễn cho thấy, chúng ta đang thiếu cả... 3 thứ nói trên. Nên việc điều hành nền kinh tế giật cục, thiếu hiệu lực, kém hiệu quả vẫn là câu chuyện dài... nhiều tập.

    Thôi thì cố đợi vậy!

    09:51 (GMT+7) - Thứ Hai, 23/5/2011 Trả lời Thích
  • Lãi suất cao để chống lạm phát là đúng nhưng… lãi suất nào cao? Xin thưa rằng, chính là lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước đấy ạ.

    Lãi suất cơ bản cao thì lãi huy động và lãi cho vay đều cao. Khống chế trần cho vay thì ngân hàng thương mại sẽ buộc phải xem xét chặt chẽ cho vay vào đâu thì thu được lãi cao nhất chớ không phải là nâng trần cho vay lên vô tội vạ rồi thoải mái cho vay, ai vay được thì vay.

    Người vay lãi suất thấp quay vòng nhiều lần mới bằng người vay lãi cao trả 1 lần thì ngân hàng tội gì không nâng lãi suất cho vay. Khống chế trần cho vay thì lãi suất huy động chính là cái để các ngân hàng cạnh tranh nhau (lãi huy động làm sao vượt quá trần cho vay được).

    Ngân hàng không thẩm định rủi ro kỹ lưỡng, cho vay sai đối tượng hoặc đối tượng sử dụng vốn vay sai mục đích dẫn đến nợ xấu thì ngân hàng lãnh đủ, đơn giản thế thôi. Tăng trưởng tín dụng tự nhiên sẽ bị chính các ngân hàng siết để bảo vệ lợi ích bản thân, Ngân hàng Nhà nước chả cần phải can thiệp.

    Lãi suất cơ bản của VN hiện nay là 9% đã thuộc hàng cao nhất TG rồi. Khống chế trần cho vay tức là buộc các ngân hàng phải có trách nhiệm với hoạt động tín dụng, thả nổi trần cho vay thì có khác gì cho phép các ngân hàng tự do đầu cơ tiền tệ, đặc biệt là các “ông lớn” của Nhà nước.

    16:42 (GMT+7) - Thứ Bảy, 21/5/2011 Trả lời Thích
  • Chúng ta cứ loay hoay mãi câu chuyện về cung tiền, đầu tư công, lạm phát để rồi bàn về việc trần lãi suất huy động hay cho vay?

    Lãi suất trần cho vay thì NHTM tính thêm phí, lãi suất trần huy động thì khách hàng được nhận thêm thưởng. Có cung thì có cầu và ngược lại. Giá cả hình thành qua cung – cầu. Lãi suất là giá cả của cung – cầu về tín dụng, thì nó sẽ do thị trường quyết định. Thế thì tại sao nhà điều hành lại lo sợ vấn đề lãi suất?

    Đúng ra là phải lo quản lý vấn đề cung – cầu. Nếu cung nhiều mà cầu không đáp ứng thì lãi suất sẽ giảm và ngược lại. Nhưng vì sao không quản lý được cung – cầu tín dụng? Vì những số liệu báo cáo đều không đúng thì sao quản lý được? Hồ sơ cho vay dùng để sản xuất, nhưng thực tế là cho vay mua nhà đất, mua chứng khoáng,… cho vay đầu tư nhà máy 10 đồng thì chỉ có 5 đồng làm nhà máy, còn 5 đồng làm việc khác,… mà kiểm tra không phát hiện, chế tài không đủ nghiêm.

    Và cứ thế chúng ta mãi mãi loay hoay. Tất cả là do việc tuân thủ pháp luật không nghiêm, chế tài không mạnh và ý thức chưa tốt.

    15:12 (GMT+7) - Thứ Bảy, 21/5/2011 Trả lời Thích
  • Theo tôi nên khống chế trần cho vay không vượt quá 18%. Cần đưa ra biện pháp mạnh tay để xử lý nếu ngân hàng nào cho vay vượt trần, nếu làm được điều này thì tự nhiên lãi suất huy động sẽ giảm xuống mà.

    14:35 (GMT+7) - Thứ Bảy, 21/5/2011 Trả lời Thích
  • Quy định trần lãi suất huy động thời gian qua, thực tế NHNN không kiểm soát được việc chấp hành của các ngân hàng thương mại, ngoài ra còn bộc lộ nhiều nhược điểm.

    Những bất cập khi khống chế trần lãi suất huy động:

    1. Việc khống chế trần lãi suất huy động của NHTM hiện nay khiến các doanh nghiệp đang phải vay vốn với lãi suất hơn 20%/năm, vay vốn quá đắt không thể bảo đảm hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi. Khi NHNN chỉ chặn “đầu vào”, không quản lý “đầu ra” thì chênh lệch lãi suất huy động và cho vay tại các NH có thể lên tới hơn 9%.

    2. Chi phí vay vốn của doanh nghiệp bị đẩy lên đã gây khó khăn cho doanh nghiệp, do chi phí trả lãi vốn vay là yếu tố cấu thành đầu vào của doanh nghiệp, buộc doanh nghiệp phải tăng giá bán hàng hóa và dịch vụ, là một trong yếu tố góp phần đẩy CPI tăng và làm lạm phát thêm trầm trọng.

    3. Khó phát hiện vi phạm quy định về trần lãi suất: Hiện nay việc phát hiện các vi phạm về trần lãi suất huy động chủ yếu do lực lượng thanh tra của NHNN thực hiện, thực tế trong thời gian qua gần như chưa phát hiện và xử được vụ vi phạm nào.

    4. Việc huy động vốn của các NHTM với lãi suất bao nhiêu còn phụ thuộc vào mạng lưới và uy tín thương hiệu của từng ngân hàng, chúng ta khống chế mặt bằng 14% nếu lãi suất mặt bằng chung dưới 14% thì các ngân nhỏ có thể đưa lên tối đa 14% thì vẫn huy động được. Nếu mặt bằng chung đều là 14% thì các ngân hàng nhỏ sẽ lâm vào thế bất lợi vì không thể cạnh tranh được với các ngân hàng lớn. Vì vậy sẽ gián tiếp đẩy các ngân hàng nhỏ bằng cách này, cách khác phá rào, ảnh hưởng đến thị trường vốn.

    5. Tính minh bạch trong hoạt động ngân hàng bị xói mòn, đe dọa sự bền vững của hệ thống:

    - Thành quả về tính trung thực của đội ngũ nhân viên ngân hàng sau nhiều năm giáo dục, rèn luyện có nguy cơ bị hủy hoại (lãnh đạo chỉ đạo nhân viên thực hiện gian dối để đối phó với quy định của NHNN).

    - Các khoản mục chi phí của các ngân hàng không được phản ảnh chính xác (nhiều khoản chi phí thuộc về huy động vốn được hạch toán vào các khoản chi phí khác).

    - Có hiện tượng hạch toán ngoài sổ sách đối với các khoản chi phí trả lãi huy tiền gửi (phần trên 14%), vi phạm các chuẩn mực kế toán Việt nam, làm sai lệch các báo cáo tài chính, các cơ quan quản lý nhà nước sẽ khó kiểm soát, sẽ ẩn chứa rủi ro không lường trước được trong nền kinh tế.

    Luật Ngân hàng Nhà nước quy định khi thị trường tiền tệ diễn biến bất thường, NHNN có quyền can thiệp để đưa thị trường trở lại ổn định bằng các biện pháp hành chính. NHNN quy định trần lãi suất huy động hoặc quy định trần lãi suất cho vay là dùng biện pháp hành chính mà luật cho phép để ổn định thị trường.

    Trong tình hình hiện nay, NHNN nên có sự thay đổi từ quy định trần lãi suất huy động sang quy định trần lãi suất cho vay thì sẽ hiệu quả hơn.

    NHNN chỉ cần quy định lãi suất cho vay tối đa. Khi đưa ra “trần” lãi suất cho vay, các NHTM sẽ tự điều chỉnh lãi suất huy động để cân đối hợp lý chi phí “đầu vào” với lãi suất đầu ra “giá bán vốn”. Kèm theo đó NHNN cần ban hành các chế tài nghiêm minh để đảm bảo quy định này có hiệu lực trên thực tế.

    Thực hiện trần lãi suất cho vay sẽ là một giải pháp có hiệu quả tốt hơn vì những lý do sau:

    1. Đem lại lợi ích cho người vay, tránh tình trạng người vay bị phải vay vốn với lãi suất quá cao như hiện nay.

    2. Góp phần làm giảm áp lực lạm phát (lãi tiền vay cấu thành trong giá bán hàng hóa, dịch vụ. Nó là chi phí đẩy đối với nền kinh tế), do vậy nếu giảm được chi phí trả lãi tiền vay là điều kiện giúp giảm giá hàng hóa dịch vụ góp phần giảm áp lực lạm phát.

    3. Các NHTM nếu vi phạm dễ bị phát hiện do người vay sẽ tố cáo vì lợi ích của người vay bị xâm hại. Nếu NHNN có cơ chế tốt để bảo vệ người vay thì khả năng người vay tố cáo ngân hàng vi phạm trần lãi suất cho vay là có thể xảy ra.

    4. Ngăn chặn các NHTM huy động lãi suất quá cao, vì không thể huy động với lãi suất bằng hoặc cao hơn trần lãi suất cho vay do NHNN công bố.

    5. Bản chất của các NHTM là tìm kiếm lợi nhuận và tối đa hóa lợi nhuận. Vì vậy họ sẽ phải tìm cách giảm chi phí tối đa, để có lợi nhuận. Đặc biệt là chi phí vốn (lãi suất huy động) chiếm tỷ trọng lớn nhất trong chi phí hoạt động vì vậy họ sẽ giảm lãi suất huy động và các chi phí quản lý khác đến mức tối đa, điều này sẽ đem lại lợi cho nền kinh tế.

    6. Sự cạnh tranh trong cho vay giữa ngân hàng thông qua lãi suất cho vay (cạnh tranh giá bán) sẽ có lợi cho doanh nghiệp và nền kinh tế.

    Phương pháp tính trần lãi suất cho vay nên dựa trên cơ sở chỉ số CPI của nền kinh tế:

    Trần lãi suất cho vay = (CPI + 1,5% năm) + 3,0% năm.

    CPI: Được tính trong 12 tháng (VD CPI tháng 4/2011 được so sánh với CPI tháng 4/2010).

    (CPI + 1,5% năm): Chính là lãi suất huy động đầu vào của NH, đảm bảo lãi suất thực dương cho người gửi tiền trong bối cảnh lạm phát hiện nay.

    3,0% năm: Bù đắp chi phí hợp lý và có lợi nhuận cho ngân hàng (các Ngân hàng hoạt động ở vùng nông thôn có chi phí lớn hơn sẽ được cộng cao hơn).

    Căn cứ vào tình hình lạm phát thực tế, NHNN sẽ công bố trần lãi suất cho vay theo từng tháng.

    Nếu làm tốt biện pháp này sẽ góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, đóng góp cho việc kìm chế lạm pháp, dập tắt cuộc đua tranh ngấm ngầm về lãi suất huy động của các ngân hàng hiện nay, doanh nghiệp người vay vốn không phải vay vốn với lãi suất quá cao sẽ tiết giảm được chi phí sản xuất kinh doanh có điều kiện để giảm giá bàn hàng hóa dịch vụ.

    14:26 (GMT+7) - Thứ Bảy, 21/5/2011 Trả lời Thích
  • Chỉ mới cách nay 1 tháng, rất nhiều lãnh đạo tuyên bố rất tự tin là lạm phát năm 2011 tối đa 10%/năm do CP có chính sách đồng bộ "quyết liệt". Thực tế ngay sau đó tháng 4 lạm phát 3,5%, nếu cả 4 tháng là 9,64%, như vậy rõ ràng tuyên bố của các vị cũng là các tuyên bố ẩu mà thôi.

    12:46 (GMT+7) - Thứ Bảy, 21/5/2011 Trả lời Thích
  • Tán thành ý kiến của 2 bác Kiêm và bác Thiên. Không thể nới lỏng cung tiền tệ được. Theo tôi, Quốc hội và Chính phủ nên xem xét lại toàn bộ kế hoạch tăng trưởng kinh tế cũng như lạm phát trong năm nay để có dự báo chính xác hơn cũng như có những chính sách nhất quán đồng bộ giữa các cơ quan chuyên trách. Tại sao vấn đề tiền tệ và lạm phát lại cứ đổ lên đầu mỗi NHNN? Trách nhiệm của Bộ Tài chính là ở đâu? Rồi tình trạng báo cáo số liệu cho đẹp mà thực tế chẳng làm được bao nhiêu?

    Nhân đây, việc Bộ Tài chính giải thích cho việc điều chỉnh mức mua xe công mới (đều tăng lên) trong khi đất nước chúng ta còn đang vật lộn với lạm phát thì lời giải thích đó có ổn thỏa không? Người dân vẫn đang cố gắng tận dụng thì sao Bộ Tài chính lại nói là toàn bộ xe công là xe từ năm 1995 nên phải điều chỉnh giá? Xe 1995 không đi được hay sao hả các vị? Trong khi thu nhập của người dân - người đóng thuế cho ngân sách đang không đủ bù đắp chi phí hàng ngày?

    10:21 (GMT+7) - Thứ Bảy, 21/5/2011 Trả lời Thích
  • Chọn trần lãi suất cho vay dễ quản lý hơn trần lãi suất huy động. Nếu áp dụng trần lãi suất huy động thì ngân hàng dễ vượt trần hơn, vì người gửi tiền không ai dại gì nói cho cơ quan quản lý biết ngân hàng đó huy động vượt trần. Còn nếu áp dụng trần lãi suất cho vay thì người đi vay sẵn sàng "giúp đỡ" cơ quan quản lý biết ngân hàng nào cho vay vượt trần.

    09:39 (GMT+7) - Thứ Bảy, 21/5/2011 Trả lời Thích
Bình luận của bạn
Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu.
Gõ Telex Gõ VNI
Chọn hình đại diện cho bình luận của bạn?