Tín dụng ngoại tệ có phải là “tội đồ”?

MINH ĐỨC

01/08/2011 15:08 (GMT+7)

picture Áp lực đáng lo ngại nhất trong rổ tín dụng vẫn là nhu cầu dùng để thanh toán hàng nhập khẩu mà không có nguồn thu ngoại tệ đối ứng.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Tín dụng ngoại tệ có phải là “tội đồ” gây áp lực tăng tỷ giá khiến nhà điều hành tính chuyện “hãm phanh”?

Thông tin Ngân hàng Nhà nước đang tính chuyện “hãm phanh” tín dụng ngoại tệ có vào cuối tuần qua có thể khiến cả ngân hàng và doanh nghiệp băn khoăn.

Cung ảo và áp lực cầu đáo hạn?

Năm 2010, tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ vọt lên tới 37,76%. Thực ra, do trước đó tăng trưởng loại này rất thấp, thậm chí có trạng thái âm trong nửa đầu năm 2009, nên con số tuyệt đối tăng lên chưa hẳn là quá lớn. Nhưng, diễn biến nửa đầu năm 2011 tiếp tục cho thấy sự bùng nổ thực sự; tính đến 10/6, tăng trưởng tín dụng ngoại tệ đã lên tới 22,21% so với đầu năm.

Diễn biến trên khiến các dòng chảy thông tin những ngày gần đây dồn dập những lo ngại, dù không mới. Đó là việc doanh nghiệp đổ xô vay ngoại tệ, bán lại để lấy VND tranh thủ chênh lệch lãi suất lớn, tạo nên cung ảo và dồn áp lực cầu ngoại tệ khi các khoản vay đáo hạn vào cuối năm, gây bất lợi cho tỷ giá USD/VND…

Lo ngại này được dẫn chứng bằng thực tế leo thang của tỷ giá USD/VND trong những tháng cuối năm 2010, sau khi tín dụng ngoại tệ đã tăng trưởng đột biến.

Về dẫn chứng đó, hiện chưa có các dữ liệu tổng hợp, phân tích một cách chuyên biệt công bố để tạo cơ sở khẳng định hay phủ nhận. Còn tham khảo ý kiến của một số cán bộ tín dụng ngân hàng, khó để có một “cuộc hẹn lớn” đáo hạn tín dụng ngoại tệ vào cuối năm như vậy và dồn lại để cùng lúc tạo áp lực cầu lên tỷ giá.

Lý do, hoạt động giải ngân và trả nợ, hay tăng trưởng tín dụng, là trải khá đều trong năm, chủ yếu là các khoản vay ngắn hạn gối đầu nhau; bản thân các doanh nghiệp cũng chủ động vay ngắn hạn để dự phòng các cú sốc tỷ giá.

Lo ngại về áp lực trên cũng cần xét đến ở quy trình chuyển đổi của các dòng vốn, từ tín dụng sang thương mại và ngược lại.

Vay ngoại tệ thời gian qua chủ yếu là các doanh nghiệp xuất khẩu, họ có nguồn thu ngoại tệ trong tương lai. Vay ngoại tệ đổi ra VND đưa vào sản xuất kinh doanh lúc này, khi đáo hạn họ có nguồn ngoại tệ thu từ xuất khẩu về đã cân đối để trả nợ. Vòng quay này thời gian qua vẫn được gọi là một cách “tạm ứng tương lai”. Áp lực cầu ngoại tệ thương mại khi các hợp đồng đáo hạn ở đây là hạn chế, ngoại trừ hạn mức vay vượt quá nguồn thu - điều này được tổ chức tín dụng giám sát theo cơ chế quy định.

Ngay cả với nhu cầu vay ngoại tệ để đổi lấy VND đưa vào sản xuất kinh doanh không có nguồn thu ngoại tệ đối ứng trong tương lai, áp lực cầu khi đáo hạn cũng không hẳn quá lo ngại. Họ vay ngoại tệ, bán lại cho ngân hàng, khi cần ngoại tệ trả nợ, ngân hàng “trả lại” chính nguồn họ đã bán trước đó. Ở đây là sự cân đối khá cân bằng, ngoại trừ biến động của tỷ giá ảnh hưởng đến chi phí của doanh nghiệp.

Vòng quay quy đổi của các nhu cầu tín dụng nói trên sẽ phản ánh ở trạng thái ngoại tệ của các ngân hàng thương mại, mà sau đó là trạng thái dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước. Cơ quan này là người mua bán sau cùng của vòng quay (nhưng sẵn sàng can thiệp bất cứ lúc nào cần). Trạng thái ngoại tệ tăng - giảm theo vòng quay của sự quy đổi đó. Sự tăng - giảm là bình thường, thật khó để đòi hỏi dự trữ ngoại tệ luôn tăng khi nhập siêu triền miên, hay cán cân tổng thể luôn thâm hụt lớn.

Áp lực đáng lo ngại nhất trong rổ tín dụng vẫn là nhu cầu dùng để thanh toán hàng nhập khẩu mà không có nguồn thu ngoại tệ đối ứng. Đi cùng với đó là cầu ngoại tệ thương mại cho nhập khẩu, và phía sau đó là tình trạng nhập siêu. Thời gian qua năm nào cũng cần tới 12 - 18 tỷ USD để bù đắp, trong khi vẫn còn tình trạng nguồn ngoại tệ bị găm giữ trong dân cư và doanh nghiệp. Đây mới chính là những “tội đồ” của tỷ giá, hơn là “đổ cho” cả rổ tín dụng ngoại tệ.

Chặn hay nắn dòng vốn rẻ?

Thực ra không phải đến lúc này Ngân hàng Nhà nước mới tính đến chuyện siết lại tín dụng ngoại tệ.

Ngay từ tháng 6/2010, cơ quan này đã vào cuộc khi tăng trưởng cho vay loại này bắt đầu bùng nổ. Một văn bản tăng cường quản lý liên quan đã được gửi tới các tổ chức tín dụng tại thời điểm đó, bên cạnh việc phối hợp với Bộ Công Thương hạn chế cấp tín dụng ngoại tệ cho nhập khẩu.

Đầu năm 2011, định hướng trên tiếp tục được cụ thể ở cơ chế cho vay bằng ngoại tệ mới được ban hành; trong đó, điều kiện căn bản là đối tượng vay phải có và cam kết, chứng minh có nguồn ngoại tệ đối ứng để trả nợ. Việc lách quy định để vay dẫn đến tạo cung ảo, tạo áp lực cầu khi đáo hạn lại là vấn đề của quản lý và giám sát.

Còn với các nhu cầu vay ngoại tệ đúng theo quy định hiện hành (có nguồn đối ứng để trả nợ), họ đang có một dòng vốn rẻ.

Tại hội thảo của Ngân hàng Quốc Tế (VIB) hồi đầu năm, lãnh đạo chuyên trách của ngân hàng này cho biết họ vẫn tư vấn cho các doanh nghiệp xuất khẩu nên vay ngoại tệ, bởi chênh lệch lãi suất giữa vay VND với USD quá lớn và có thể “khấu hao” rủi ro biến động tỷ giá trong ngắn hạn…

Như những phân tích thời gian qua, tín dụng ngoại tệ lãi suất thấp đang tạo dòng vốn rẻ hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cạnh tranh về giá trên thị trường thế giới, rộng hơn là góp phần hạn chế nhập siêu.

Và khi các nhà xuất khẩu tập trung vay ngoại tệ sẽ giảm tải cho nhu cầu vay vốn VND, tạo thêm một yếu tố hỗ trợ cho khả năng giảm lãi suất VND…

Nhưng nay, thông điệp “hãm phanh” tín dụng ngoại tệ tiếp tục được phát đi, có thể dòng vốn rẻ đó sẽ bị thu hẹp. Đối tượng “siết” có lẽ sẽ là dòng tín dụng đáp ứng các nhu cầu nhập khẩu, đặc biệt là những trường hợp không có nguồn thu ngoại tệ đối ứng từ sản xuất kinh doanh mà phải mua từ các ngân hàng khi trả nợ. Nhóm này vốn đã có chủ trương “siết” chặt từ giữa năm 2010.

Hiện chưa rõ Ngân hàng Nhà nước sẽ điều chỉnh như thế nào, bằng các công cụ nào, hay bằng các mệnh lệnh hành chính, đánh đồng các đối tượng hay sẽ có sự phân định cụ thể…

Còn trên thực tế những năm gần đây, rào cản lớn nhất mà thị trường tạo ra đối với tín dụng ngoại tệ là những cú sốc tỷ giá và khoảng cách của chênh lệch lãi suất.

Hiện tại, cùng với mức chênh lệch lãi suất vay VND với USD đang rất lớn, tỷ giá bình quân liên ngân hàng đứng yên cả tháng qua, thì nhu cầu vay ngoại tệ sẽ vẫn còn lớn.

Chủ đề liên quan:

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Trần Minh Triết

    10:06 (GMT+7) - Thứ Ba, 2/8/2011

    Bài viết của Minh Đức quá hay, sát với thực tế.

    Thật ra, vấn đề nhập siêu đang làm áp lực lên tỷ giá, vì vậy, tín dụng ngoại tệ dành cho các doanh nghiệp nhập khẩu thì cần phải siết chặt, cụ thể đối với các mặt hàng trong nước không sản xuất được.

  • Phan Bảo Lâm

    16:54 (GMT+7) - Thứ Hai, 1/8/2011

    Siết tín dụng ngoại tệ là việc làm đúng đắn, tuy nhiên, cần có sự linh hoạt.

    Với xuất khẩu, trước mắt cần hạn chế hoạt động “xuất thô nhập tinh” bất kể doanh nghiệp đó có nguồn thu ngoại tệ ổn định thế nào. Nếu doanh nghiệp vay ngoại tệ để tái cơ cấu công nghệ nhằm mục tiêu “xuất tinh nhập thô” thì không cần hạn chế mà cần kiểm soát mục đích sử dụng vốn.

    Với nhập khẩu, phải siết tín dụng nhập hàng xa xỉ, kiểm soát tín dụng với hàng nhập tiêu dùng và hàng thiết yếu, không hạn chế nhập thô các nguyên liệu trong nước không có, hạn chế tối đa nhập tinh mà trong nước có nguyên liệu thô nhằm thúc đẩy tái cơ cấu công nghệ toàn diện. Khi quá trình tái cơ cấu công nghệ hoàn tất, tức là không cần dùng biện pháp hành chính để siết, thì GTGT chung của quốc gia sẽ được nâng lên mặt bằng mới. Từ đây sẽ có biện pháp siết khác để tiếp tục nâng cao mặt bằng GTGT chung.

    Tuy nhiên, đó là chuyện của tương lai. Nhà nước cần có chính sách đồng bộ về vấn đề này để phối hợp với NHNN. Đó là thuế, đánh thuế cao “xuất thô” và “nhập tinh”, ngược lại, giảm thuế tương ứng với “xuất tinh” và “nhập thô” sao cho mức tăng và giảm thuế cân bằng chớ không phải là để thu ngân sách. Với chính sách thuế như thế, lợi nhuận sẽ chảy từ túi anh dùng công nghệ lạc hậu sang túi anh dùng công nghệ tiên tiến, thúc đẩy anh dùng công nghệ lạc hậu buộc phải tái cơ cấu công nghệ. Càng nhiều anh tái cơ cấu công nghệ thì số ít còn lại càng bị đè nặng bởi thuế, nếu không “tái” nhanh “tái” gấp có thể dẫn đến nguy cơ phá sản. Những anh “tái” đầu tiên sẽ được hưởng lợi từ chính sách này vì siêu lợi nhuận do chênh lệch thuế, vì phần lớn các anh khác chưa kịp “tái”.

    Khi Nhà nước không còn đặt nặng tư duy phải xuất khẩu mang lại ngần này ngoại tệ nữa mà phải nâng cao GTGT ngần này thì kinh tế VN mới khá được. GTGT được nâng lên, nói xin lỗi các bác Nhà nước, nguồn thu ngoại tệ xuất khẩu sẽ tăng theo cấp số nhân mà chả cần các bác phải “báo cáo thành tích” đâu ạ, lúc ấy có khi các bác lại cho đó là chuyện đương nhiên không cần bàn cãi.

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Tài chính

NVK

10:19 (GMT+7) - Thứ Bảy, 26/5/2012

Giải toả vốn chết ở BĐS? Tại sao? Khi mà mục đích của kinh doanh là kiếm lời? Mà muốn kiếm lời thì phải dựa...

Trong bài: Các ngân hàng đang gặp những khó khăn gì? (4 ý kiến)

pvd

09:50 (GMT+7) - Thứ Bảy, 26/5/2012

Một là: “Các loại vàng miếng bao gồm SJC và các nhãn hiệu khác đã được cấp phép sản xuất trước đây thuộc quyền sở hữu...

Trong bài: Cho 6 tháng để chuyển đổi mua bán vàng miếng (2 ý kiến)

Shani

08:42 (GMT+7) - Thứ Bảy, 26/5/2012

Chẳng hiểu sao, các khoản vay cá nhân của tôi đến giờ vẫn đang chịu lãi suất 22,3%/năm. Khiếp quá... Các DN muốn vay lại...

Trong bài: Đồng loạt giảm các lãi suất điều hành (2 ý kiến)

vinh

04:39 (GMT+7) - Thứ Bảy, 26/5/2012

Theo tôi chính phủ nên quy định sắp tới sẽ buộc nhà đầu tư cá nhân hay tổ chức khi mua bán vàng phải mua...

Trong bài: Cho 6 tháng để chuyển đổi mua bán vàng miếng (2 ý kiến)

Nguyễn Đức Thắng

22:14 (GMT+7) - Thứ Sáu, 25/5/2012

Nguyên nhân gốc rễ của việc rối loạn lãi suất những năm qua chủ yếu là do chính hệ thống ngân hàng gây ra. Điều...

Trong bài: Thống đốc Nguyễn Văn Bình: Xem xét lại lãi suất cơ bản (6 ý kiến)