VnEconomy > Thời sự 20:45 (GMT+7) - Thứ Sáu, 23/9/2011

Ổn định vĩ mô: Kiến nghị nhiều, thực hiện chưa bao nhiêu

Các kiến nghị ổn định vĩ mô tập trung vào nhiều vấn đề của tái cấu trúc nền kinh tế...

Ổn định vĩ mô: Kiến nghị nhiều, thực hiện chưa bao nhiêu

Hội thảo “Kinh tế Việt Nam năm 2011, triển vọng 2012 và các giải pháp thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2015” diễn ra rất sôi nổi - Ảnh: CTV

Vô cùng khó khăn và sẽ còn khó khăn hơn, rất xấu, rất nghiêm trọng… là những nhận định liên tục được lặp lại với sự đồng thuận cao của các chuyên gia, nhà khoa học về nhiều vấn đề  của nền kinh tế Việt Nam.

Sôi nổi từ 8 giờ đến hơn 17 giờ ngày 23/9, hội thảo “Kinh tế Việt Nam năm 2011, triển vọng  2012 và các giải pháp thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2015” do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội phối hợp với Viện Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức tại Tp.HCM được nhận xét là rất thành công.

Một số chuyên gia lý giải, hội thảo hay là do nền kinh tế đang quá ngổn ngang, quá khó khăn. Và căn bệnh đình lạm (lạm phát và đình trệ) đã trở thành mối nguy lớn nếu không tạo được bước ngoặt cho nền kinh tế.

Lạm phát vẫn "vô địch"

Ghi nhận điểm sáng trong điều hành kinh tế năm nay với nghị quyết 11 của Chính phủ song các chuyên gia kinh tế đều quan ngại sâu sắc về tình hình kinh tế của thế giới cũng như trong nước.

Những vấn đề nóng của nền kinh tế vẫn còn nguyên, trong khi dư địa của mô hình tăng trưởng không còn nhiều và là vấn đề rất cần được mổ xẻ đến tận cùng…Chủ tịch Viện khoa học xã hội Việt Nam Nguyễn Xuân Thắng phát biểu đề dẫn.

Viện trưởng Viện Kinh tế Trần Đình Thiên cũng đúc kết tình thế của 2011 là “very hot” với lạm phát vô địch, và rất khó chống.

Mượn hình ảnh “lạm phát khứ hồi” của chuyên gia Vũ Thành Tự Anh, Viện trưởng Thiên đặt câu hỏi, không biết nó (lạm phát) còn mấy vé, dù đã tiêu 4, 5 vé rồi, và ta có thu hồi được cái vé đó không. Nếu vẫn như hiện nay thì ta không chống dược lạm phát, ông Thiên khẳng định đầy quan ngại.

Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển cho rằng, nguyên nhân khởi phát của lạm phát chính là đầu tư cao, hiệu quả thấp, lấy doanh nghiệp nhà nước làm đòn bẩy.

Nhất trí với nhiều ý kiến phát biểu trước về những bất ổn vĩ mô nghiêm trọng, Phó viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Võ Trí Thành đưa ra cảnh báo, đã xuất hiện tình trạng các nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu nghi ngờ sự nhẫn nại và quyết tâm chống lạm phát của Việt Nam khi có dấu hiệu nới lỏng tiền tệ.

Kiến nghị nhiều, thực hiện chưa bao nhiêu

Bên cạnh sự thống nhất cao về nhận định và dự báo tình hình kinh tế, các ý kiến tại hội thảo cũng rất chụm trong đề xuất, kiến nghị các giải pháp.

Vấn đề lớn nhất, quan trọng nhất và đã đến lúc “không có đường lùi”, theo nhiều chuyên gia là phải dồn sức tái cấu trúc nền kinh tế.

Trước ý kiến "phê" rằng việc tái cấu trúc nền kinh tế "chưa động đậy", nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển nhìn nhận "nhà khoa học cũng chưa chỉ ra cho Chính phủ là tái cấu trúc bắt đầu từ đâu".

"Hội thảo quá nhiều, hành động quá ít, bản thân Chính phủ cũng lúng túng", ông Tuyển nói.

Tại hội thảo, nhiều chuyên gia đã  kiến nghị với thái độ mạnh mẽ về sự cấp thiết phải tái cấu trúc khu vực nhà nước, trong đó có doanh nghiệp nhà nước.

Cải cách doanh nghiệp nhà nước là đại vấn đề, phải cấm không cho doanh nghiệp nhà nước kinh doanh đa ngành nữa mà chỉ làm chức năng nhà nước giao. “Nhà nước không kinh doanh kiếm lợi, không có nhà nước nào kinh doanh kiếm lợi mà được lợi cả”, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và chính trị  thế giới Võ Đại Lược phát biểu.

Giảm mạnh thu, chi ngân sách, khoan sức dân cũng nằm trong kiến nghị của nhiều chuyên gia với đề nghị về sự gương mẫu trong tiết kiệm của chính các cơ quan nhà nước. Nhiều ý kiến đề nghị Quốc hội phải thể hiện thái độ kiên quyết để giảm bội chi xuống dưới 4%, thậm chí là dưới 3% GDP.

Cũng liên quan đến giải pháp, theo TS Trần Du Lịch, Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, vấn đề quan trọng nhất hiện nay là cơ chế phân bổ nguồn lực. Vì nguồn lực là hữu hạn, song theo cơ chế phân bổ hiện nay còn dẫn đến tình trạng người có khả năng tạo ra hiệu quả cao thì không có nguồn lực và ngược lại. Đây là vấn đề cần được ưu tiên giải quyết, kể cả khu vực tư nhân, chứ không riêng khu vực nhà nước.

Nhìn lại kiến nghị từ các hội thảo trước, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học xã hội Việt Nam Đỗ Hoài Nam đặt câu hỏi vì sao kiến nghị nhiều mà chưa thực hiện được nhiều? Ông Nam cũng đề nghị các kiến nghị của hội thảo lần này cần đậm nét hơn “nặng” hơn về phần quan điểm. Bởi đổi mới tư duy gắn liền với quan điểm chỉ đạo.

Thêm một lần tham góp vào phút cuối của diễn đàn, ông Trương Đình Tuyển hướng về bàn chủ tọa hội thảo đề nghị Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu “hãy quên chức cũ là Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và có đủ bản lĩnh để có thể chủ trì thẩm định tốt nhất về tình hình kinh tế của đất nước”.
  Bình luận (2)
Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết. Đang hiển thị 2/2 bình luận.
  • Muốn có giải pháp thì khó gì. Phải đi dần từng bước một chớ không thể cái gì cũng làm ngay được trong thời gian ngắn. Đối với DNNN thì cần bỏ đi 2 chữ “độc quyền” tự khắc thị trường sẽ lành mạnh trở lại.

    Như vậy, DNNN có tồn tại hay không trong môi trường cạnh tranh toàn diện không còn là mối bận tâm của Nhà nước nữa. Anh làm ăn không ra gì thì giải thể hoặc sát nhập hoặc cổ phần hóa, thế nào thì tùy.

    Đặng Tiểu Bình có câu nói nổi tiếng “mèo đen hay mèo trắng miễn bắt được chuột là được”, ý nói, DNNN hay doanh nghiệp tư nhân gì miễn là đóng thuế đầy đủ là xong, không thiên vị ai cả. Chính vì Nhà nước TQ thả cho các DNNN vào cơ chế thị trường tự do cạnh tranh nên kinh tế TQ mới phát triển nóng như thế.

    Nên nhớ rằng, để phát triển doanh nghiệp có quy mô nhỏ thành quy mô lớn là cả vấn đề không chỉ vốn liếng mà còn cả thời gian và trình độ nhận thức của từng nhân viên cho đến lãnh đạo doanh nghiệp. Khi thả ra như thế, doanh nghiệp lớn sẽ tự tìm kiếm thị trường lớn tương xứng với quy mô của nó. Thị trường đó có thể là bên trong có thể là bên ngoài lãnh thổ quốc gia, có thể là cả 2. Còn với kiểu “độc quyền” mang hơi hám của bao cấp như hiện nay thì nói xin lỗi các bác, DNNN có thể lớn về quy mô do Nhà nước tập trung vốn liếng cho nó chớ không “lớn” được về mặt nhận thức và sẽ không bao giờ trưởng thành dù anh có mang danh là “tập đoàn” gì gì đi nữa.

    Cổ phần hóa các DNNN độc quyền là biện pháp tiên quyết và thị trường hóa các thị trường xưa nay vẫn do DNNN độc quyền là biện pháp song hành. Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Mỹ (nhỏ là đối với Mỹ chớ với VN thì không nhỏ) đều cổ phần hóa để người lao động tự làm chủ doanh nghiệp. Nước Mỹ thực tế vẫn còn cái gọi là “tư bản chủ nghĩa” chỉ trong hệ thống tài chính của nó mà thôi. Ngay cả to như công ty phần mềm Microsoft còn cổ phần hóa từ hồi cả chục năm về trước (mỗi nhân viên đều là triệu phú theo sự phát triển của doanh nghiệp).

    Người công nhân làm chủ nhà máy là làm chủ như thế đấy khi lợi ích của họ, nhất là vấn đề tiền lương, gắn liền với sự phát triển của doanh nghiệp. Chớ không phải ban lãnh đạo thì giàu nứt, công nhân thì lương không đủ sống còn doanh nghiệp thì èo uột, lúc nào cũng kêu lỗ. Doanh nghiệp được cổ phần hóa thì không ai được phép sở hữu cổ phần khống chế để ban lãnh đạo được bầu 1 cách công khai dân chủ, như thế mới chọn được người tài mà lèo lái doanh nghiệp. Chớ còn cổ phần hóa DNNN mà ban lãnh đạo cũ nắm cổ phần khống chế thì dù đã “tư nhân hóa” vẫn “bình mới rượu cũ” mà thôi.

    Điểm yếu cơ bản của việc cổ phần hóa doanh nghiệp ở VN là như thế, như thế chỉ có lợi cho 1 nhóm nhỏ “phi lao động”. Khi đã lành mạnh hóa được doanh nghiệp (lãnh đạo có thể lên có thể xuống) thì việc phát triển quy mô ở tầm vóc “đa quốc gia” hay “xuyên quốc gia” gì gì đi nữa là việc trong tầm tay vì VN không thiếu nhân tài. Người lao động không thể kêu ca lương thấp vì chính họ được tham gia góp ý kiến vào các vấn đề lớn của doanh nghiệp cũng như thực hiện các vấn đề ấy khi nó được tập thể nhân viên thông qua.

    Minh bạch trong nội bộ doanh nghiệp thì tất yếu sẽ dẫn đến minh bạch thông tin với bên ngoài xã hội. Vấn đề công nghệ cũng không phải là chướng ngại khó vượt qua vì nhân tài thừa biết mình phải làm gì để phát triển công nghệ cũng như nâng cao nhận thức của tập thể nhân viên tương xứng với trình độ công nghệ ấy.

    Doanh nghiệp là tế bào của nền kinh tế. Doanh nghiệp khỏe thì nền kinh tế yếu thế nào được. Mỹ bị khủng hoảng là khủng hoảng về mặt tài chính tác động đến các doanh nghiệp vẫn giữ lối quản trị “tư bản” (ông chủ quyết định tất cả) chớ không mấy ảnh hưởng đến các doanh nghiệp cổ phần hóa như trên cho nên các doanh nghiệp này vẫn đều đều ăn nên làm ra bất chấp tình hình tài chính của Mỹ không mấy sáng sủa.

    Tôi đề nghị đổi mới lại tư duy cổ phần hóa DNNN theo hướng nêu trên đồng thời rà soát lại các doanh nghiệp đã cổ phần hóa, nếu vẫn giữ tình trạng “bình mới rượu cũ” thì nên cổ phần hóa lại chớ không phải là cho qua cho xong chuyện vì ảnh hưởng rất lớn đến đa số người lao động, suy rộng ra, ảnh hưởng đến sự ổn định của nền kinh tế quốc gia (trình độ quản trị yếu kém làm lãnh đạo nhờ có nhiều tiền nắm cổ phần khống chế thì doanh nghiệp khá thế nào được).

    19:18 (GMT+7) - Thứ Bảy, 24/9/2011 Trả lời Thích
  • Từ cuối năm ngoái đến nay chúng ta chống lạm phát bằng biện pháp thắt chặt tiền tệ, nhưng kết quả không được như mong muốn.

    Chúng ta cần nhận thức sự đặc thù trong việc cho vay của các ngân hàng thương mại Việt Nam khác với các nước phát triển: Ở VN dư nợ cho vay của các NHTM chủ yếu là cho vay đối với DN SXKD, cho cá nhân vay tiêu dùng chiếm tỷ trọng thấp. Ở các nước phát triển thì ngược lại, tỷ trọng cho vay tiêu dùng đối với cá nhân chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ, do vậy khi lạm phát xảy ra thì sử dụng biện pháp tăng lãi suất sẽ có tác dụng tốt (làm hạn chế cầu tiêu dùng ngay).

    Ở VN việc chống lạm phát bằng thắt chặt tiền tệ đã không có tác dụng nhiều (vay tiêu dùng ở VN chiếm tỷ trọng khoảng 10% tổng dư nợ ở các ngân hàng), đồng thời thắt chặt tiền tệ đã làm cho các DN SXKD gặp rất nhiều khó khăn (vì họ hoạt động chủ yếu vào vốn vay ngân hàng chiếm 70 – 80% tổng dư nợ ở các ngân hàng), đẩy chi phí sản xuất lên cao, có thể phải thu hẹp SX hoặc dừng SX tạo áp lực tăng giá hàng hóa dịch vụ được cung ứng ra thị trường. Chúng ta cần thay đổi các biện pháp chống lạm phát hiện nay đang sử dụng mới mong đạt được kết quả.

    Một nguyên nhân khác tác động đến lạm phát đó là cơ chế tạo nguồn vốn bù đắp thiếu hụt ngân sách hiện nay của nước ta.
    Chi ngân sách lớn hơn thu ngân sách gọi là bội chi ngân sách. Việc bội chi ngân sách là phổ biến ở các quốc gia bao gồm các nước đang phát triển và các nước phát triển, đặc biệt các nước đang phát triển áp lực bội chi ngân sách rất lớn do phải chi tiêu công cho đầu tư nhiều vào cơ sở hạ tầng…

    Bội chi ngân sách chủ yếu được dùng vào mục đích chi tiêu công, sẽ được bù đắp bằng các khoản vay của chính phủ ở trong nước và vay nước ngoài dưới các hình thức vay nợ khác nhau nhưng phổ biến nhất là hình thức phát hành trái phiếu. Ở Việt nam các khoản nợ công theo báo cáo của bộ Tài chính thì vẫn ở mức an toàn, hiện tại đang dưới 50% GDP. Mức độ nợ công ở ngưỡng an toàn ở từng quốc gia là khác nhau, nó phụ thụ vào khả năng chịu đựng của từng nền kinh tế.

    Chi tiêu công có khả năng ảnh hưởng đến lạm phát. Ở Việt Nam nợ công chưa lớn nhưng đã tác động rất lớn tới lạm phát.

    Theo Tôi thì có nhiều lý do như: Hiệu quả của chi tiêu công, việc này chúng ta đã phân tích nhiều do vậy tôi sẽ không phân tích thêm. Một vấn đề ảnh hưởng tới lạm phát do chi tiêu công đó là nguồn vốn để chi tiêu công, theo Tôi đây là một trong những lý do sinh ra lạm phát ở Việt Nam đã tác động không nhỏ tới lạm phát.

    Trong thực tế trái phiếu phát hành ra được các ngân hàng thương mại mua là chủ yếu. Các ngân hàng thương mại sau khi mua trái phiếu chính phủ thường thì họ không giữ ở trong két sắt của mình, họ mang lên Ngân hàng nhà nước (NHNN) đặt để tham gia thị trường mở và tại đây họ được rút một lượng tiền tương ứng ra từ NHNN. Qua cơ chế này một lượng tiền đã được bơm ra từ NHNN và làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế.

    Nếu phân tích theo dòng tiền và loại bỏ yếu tố trung gian là các ngân hàng thương mại, sẽ thấy dòng tiền được bơm ra từ NHNN thông qua cơ chế thị trường mở và đích cuối cùng lại là bù đắp thiếu hụt chi tiêu ngân sách. Như vậy đã làm tăng tổng cầu của toàn xã hội và là áp lực tạo ra lạm phát.

    NHNN cần xem lại cơ chế thị trường mở, hạn chế việc cho các ngân hàng thương mại mang đặt trái phiếu chính phủ để rút tiền ra từ NHNN.

    21:06 (GMT+7) - Thứ Sáu, 23/9/2011 Trả lời Thích
Bình luận của bạn
Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu.
Gõ Telex Gõ VNI
Chọn hình đại diện cho bình luận của bạn?