Món “nợ đồng lần” giữa các ngân hàng

NGUYỄN HOÀI

30/11/2011 07:53 (GMT+7)

picture Các ngân hàng, kể cả ngân hàng thương mại nhà nước, đang thắt chặt cho vay lẫn nhau và điều kiện đưa ra khi cho vay là phải có tài sản đảm bảo.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Sau thông tin 4 ngân hàng thương mại ở Tp.HCM dây dưa trả món nợ vay trị giá 1.475 tỷ đồng trên thị trường liên ngân hàng cho một ngân hàng ở Hà Nội, giải thích với VnEconomy, một số lãnh đạo ngân hàng ở Tp.HCM nói rằng: họ vay ngân hàng này, nhưng ngân hàng khác lại nợ họ không chịu trả, nên kẹt!

Hiện, một số chủ nợ và con nợ đang thương thảo giãn nợ và kiến nghị Ngân hàng Nhà nước nên tổ chức một “hội nghị giữa con nợ và chủ nợ”, tìm hướng giải quyết.

Kẹt vì… “nợ đồng lần”!

Tổng giám đốc ngân hàng S. có khoản nợ gần 400 tỷ đồng của ngân hàng nói trên nói: “Không riêng gì ngân hàng tôi lâm vào khó khăn này mà tình trạng “nợ đồng lần” đang diễn ra ở nhiều ngân hàng khác. Chủ trương của Ngân hàng Nhà nước là ưu tiên giải quyết các khoản nợ cho thị trường dân cư và tổ chức (thị trường 1), còn các khoản nợ trên thị trường liên ngân hàng giữa các tổ chức tín dụng với nhau (thị trường 2) đành phải gia hạn và đương nhiên, phải chấp nhận lãi phạt của chủ nợ”.

Trao đổi thêm với tổng giám đốc ngân hàng ĐT, hiện đang có khoản nợ 130 tỷ đồng, ông này cho biết: “Vay tới vay lui trên thị trường liên ngân hàng là hoạt động bình thường. Lý do chưa trả được nợ là vì ngân hàng khác vay tôi nhưng khựng lại chưa trả nên ngân hàng tôi bị kẹt! Tình trạng cân đối giữa nguồn và sử dụng nguồn của ngân hàng tôi vẫn tốt. Chỉ vài tuần tới, sẽ thanh toán khoản nợ 130 tỷ nói trên cho ngân hàng bạn”.

Qua tìm hiểu, tình trạng nợ nần lẫn nhau không chỉ diễn ra ở khối cổ phần mà lan sang cả một vài ngân hàng thương mại nhà nước. Đại diện của VietinBank tiết lộ, ngân hàng này đang có một số khoản nợ quá hạn đã lâu ở một số ngân hàng thương mại cổ phần nhưng vẫn chưa được thanh toán.

Một chủ nợ khác cho biết, lấy lý do Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo cho các đơn vị yếu thanh khoản “ưu tiên giải quyết các khoản nợ cho thị trường 1” như nói trên, các con nợ đã khất lần. Ông nói: “Chúng tôi đến đòi, họ nói là Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo như thế, và mặc dù là có tiền nhưng không chịu trả!”.

Vậy, tại sao Ngân hàng Nhà nước lại phân biệt trật tự ưu tiên trả  nợ cho thị trường 1 mà không phải cho cả thị trường 2? Tổng giám đốc một ngân hàng nói: “Chúng tôi có biết tình trạng khó khăn thanh khoản hiện nay ở một số ngân hàng. Việc Ngân hàng Nhà nước chủ trương ưu tiên như trên là bởi cơ cấu tiền gửi thị trường dân cư chiếm tỷ trọng rất lớn; còn tiền vay trên thị trường liên ngân hàng chỉ chiếm tỷ trọng thấp hơn”.

Tuy nhiên, tổng giám đốc một ngân hàng lại không đồng tình với chủ trương này. Ông cho rằng: “Đã khó khăn thanh khoản thì thị trường nào cũng đáng lo ngại như nhau. Bởi lẽ, ngân hàng A cho ngân hàng B vay tiền thì A cũng huy động ở thị trường 1. Nếu B không trả đúng hạn thì A sẽ không có tiền trả cho dân cư và lúc đó cũng gặp khó khăn thanh khoản. Trong kinh doanh ngân hàng làm gì có chuyện đồng nào mua mắm, đồng nào mua muối!”.

Từ thực tế này, động thái đầu tiên ở các ngân hàng, kể cả ngân hàng thương mại nhà nước là thắt chặt cho vay lẫn nhau và điều kiện đưa ra khi cho vay là phải có tài sản đảm bảo; đồng thời, kêu khó với Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, câu trả lời từ Ngân hàng Nhà nước là “có tài sản đảm bảo thì cho vay còn nếu không thì thôi!”.

Mối lo thất tín

Trao đổi với VnEconomy, tổng giám đốc một ngân hàng cho rằng: cách thức sử dụng tài sản đảm bảo trên thị trường 2 như ở thị trường 1, để tránh chây ỳ nợ là không phù hợp vì những lý do sau.

Thứ nhất, lấy ví dụ với một ngân hàng có vốn điều lệ 3.000 tỷ đồng. Theo quy định hiện nay, giá trị tài sản cố định của ngân hàng không được phép quá 50% vốn điều lệ, có nghĩa, tài sản cố định ở ngân hàng trên chỉ tương đương 1.500 tỷ đồng. Trong cơ cấu 1.500 tỷ đồng nói trên, một tỷ trọng không nhỏ là phương tiện làm việc như máy móc thiết bị, hệ thống công nghệ thông tin; phần mềm lõi ngân hàng nhưng phải đáp ứng điều kiện “có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên; có giá trị 10 triệu đồng trở lên” như quy định tại Quyết định số 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 và Thông tư 203/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính về “Quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định”.

Như thế, phần giá trị còn lại trong 1.500 tỷ đồng nói trên là chứng nhận quyền sử dụng đất tại hội sở, chi nhánh mới có thể đem thế chấp. Chưa kể, quá trình xử lý một hồ sơ vay vốn như ở thị trường 1 đòi hỏi phải trải qua 6 bước: lập hồ sơ vay, phân tích tín dụng; ra quyết định tín dụng, giải ngân, giám sát tín dụng và thanh lý hợp đồng, rất tốn kém thời gian.

Và như thế, sẽ không thể phù hợp vì giá trị tài sản đảm bảo không đủ so với quy mô vay mượn hàng nghìn tỷ đồng/lần với nhau; không đáp ứng kịp thời vì mỗi giao dịch xảy ra rất nhanh trong từng giờ, từng ngày.

Thứ hai, một loại tài sản khác có thể thế chấp là giấy tờ có giá (trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, trái phiếu hay kỳ phiếu ngân hàng), thậm chí là giấy tờ đảm bảo hay quyền đòi nợ của khách hàng đang vay vốn và thế chấp tại ngân hàng mình nhưng, phương án này cũng không khả thi.

Bởi lẽ, một là, nếu đã sở hữu trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước thì ngân hàng sẽ mang lên giao dịch trên OMO, chứ ít khi thế chấp cho ngân hàng khác để vay vốn. Chưa kể, trong cơ cấu tài sản của những ngân hàng yếu thanh khoản thì loại tài sản này chiếm tỷ trọng rất thấp, nếu như không nói là không có, ngoại trừ trường hợp bắt buộc mua tín phiếu Ngân hàng Nhà nước như từng xảy ra năm 2008 theo Quyết định 346/QĐ-Ngân hàng Nhà nước của Ngân hàng Nhà nước.

Hai là, nếu có ngân hàng nào đã mua kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng của nhau thì họ mang thế chấp ngay tại ngân hàng mà mình cầm nợ để vay tiền, chứ không thể còn để mang thế chấp ở ngân hàng khác.

Ba là, đối với thế chấp bằng quyền đòi nợ hoặc giấy tờ đảm bảo của khách hàng vay vốn tại ngân hàng mình, cũng không ổn. Chẳng hạn, ngân hàng B muốn đem giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất trị giá 10 tỷ đồng của khách hàng A đã thế chấp vay vốn tại ngân hàng mình, để đem thế chấp vay vốn của ngân hàng C thì trước hết, B phải xác nhận khoản vay của A là nợ tốt ở nhóm 1 và sau đó, phải được sự đồng ý của khách hàng A thì C mới đồng ý nhận vật thế chấp cho B. Đối với giấy tờ có giá là quyền đòi nợ cũng tương tự như vậy.

Trên thực tế, rất hiếm trường hợp A đồng ý cho B mang giấy tờ của mình đi thế chấp ở ngân hàng C vay vốn và giả định, A có đồng ý thì B cũng không thể làm như vậy vì sẽ mất uy tín với A và thị trường.

Xuất phát từ thực tế trên, những ngày này chủ nợ và con nợ đang thương thảo với nhau để tiếp tục giãn nợ hoặc trả dần; đồng thời, kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước về tình trạng chung để nhà điều hành có giải pháp. Theo nhiều ý kiến, Ngân hàng Nhà nước không nên phân biệt: ưu tiên tái cấp vốn cho các khoản nợ thị trường 1 và coi nhẹ khoản nợ trên thị trường 2. Bởi xét cho cùng, khi yếu thanh khoản thì thị trường nào cũng đáng lo như nhau. Hơn nữa, một ngân hàng có khoản nợ 5 nghìn tỷ đồng, nếu được tái cấp vốn để trả 1 tỷ đồng cho thị trường 1 để giữ lời hứa, trong khi thất hứa với 4 nghìn tỷ đồng ở thị trường 2 thì hóa ra, đang có chuyện “tham bát bỏ mâm” ở đây. Có ý kiến đề nghị, một hành động sớm và dứt khoát của Ngân hàng Nhà nước lúc này sẽ vô cùng cần thiết, để loại bỏ ngay biểu hiện “thất tín” đang manh nha trong hệ thống ngân hàng và không để chúng nhiễm vào quan hệ giữa ngân hàng với người dân.

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Sonpn

    15:58 (GMT+7) - Thứ Tư, 30/11/2011

    Các anh/chị, các báo đài, thậm chí cả các cơ quan hữu quan đã bàn nhiều đến chuyện các ngân hàng vay mượn lẫn nhau nhưng không trả, việc tái cơ cấu, việc sát nhập hay giải thể...

    Vấn đề này theo tôi chỉ dừng ở mức quan sát và trao đổi mang tính chất tượng trưng.

    Điều quan trọng là đi tìm căn cơ, nguồn gốc của căn bệnh, các yếu tố nào làm cho căn bệnh có cơ hội phát triển và lây lan rộng như hiện nay. Chỉ khi nào bắt đúng bệnh và tìm ra đúng chủng lọai thuốc, đúng liều thì mới có thể loại bỏ được bệnh tật và cả mầm mống bệnh tật để tránh tái phát trong tương lai.

    Ở vấn đề này thì tôi chưa thấy, chưa được đọc hay nghe bất cứ thông tin nào được cho là đầy đủ và cặn kẽ. Phải chăng chúng ta đang lo lắng thái quá về căn bệnh này và chìm trong sự dày vò với căn bệnh mà quên mất rằng thời gian là thứ quý giá nhất đang dần trôi đi một cách lãng phí.

    Theo tôi nguyên nhân chính của căn bệnh này (tình trạng này) là do hoạt động của một số ngân hàng hiện nay là yếu kém. Nguyên nhân của sự yếu kém là do khả năng dự báo, phân tích, đánh giá và cách thức giải quyết vấn đề của ban điều hành ngân hàng còn hạn chế, điều này dẫn tới tính ổn định trong hoạt động kinh doanh bị ảnh hưởng (không dự báo được tình hình kinh tế xã hội, nguy cơ thay đổi cơ chế chính sách, cơ chế điều hành chưa hợp lý, chiến lược kinh doanh còn bất cập...).

    Ngoài ra, nguyên nhân sâu xa và nguy hiểm là đạo đức nghề nghiệp của một số cá nhân bị xuống cấp, trình độ, kỹ năng nhân viên thẩm định có vấn đề điều này dẫn tới tình trạng nợ xấu, nợ khó đòi của các ngân hàng hiện nay khá cao, tôi loại trừ nguyên nhân khách quan nhưng trong đó theo tôi nguyên nhân chủ quan là không ít.

    Đồng thời với đó, chính sách thắt chặt tiền tệ của chính phủ, thông tin báo đài về việc tái cơ cấu, sát nhập, giải thể, bảo hiểm tiền gửi... xuất hiện hàng ngày trên báo, truyền hình, trên báo mạng làm người dân ít nhiều giảm niềm tin vào hệ thống ngân hàng, nhất là những ngân hàng nhỏ, thương hiệu còn yếu, việc người dân rút tiền từ ngân hàng nhỏ đi gửi ngân hàng lớn hơn là khá phổ biến.

    Điều này dẫn tới các ngân hàng có quy mô nhỏ, thương hiệu còn yếu, chất lượng tín dụng không tốt sẽ bị mất thanh khoản do các khoản cho vay không thu hồi về đúng hạn trong khi các khoản tiền gửi bị rút đi nhiều hơn gửi vào.

    Để nâng cao chất lượng hoạt động của các ngân hàng thì cần có sự tham gia mạnh mẽ và quyết liệt của cơ quan quản lý nhà nước. Tuy nhiên, việc giải quyết phải được đánh giá một cách đầy đủ, chính xác các nhân tố ảnh hưởng để vừa giải quyết được vấn đề vừa tránh các rủi ro do các yếu tố tâm lý dẫn tới sự đổ vỡ dây chuyền.

    Quan trọng hơn nữa chính là sự nỗ lực của chính các ngân hàng, củng cố hoạt động (chất lượng nhân sự, chất lượng dịch vụ, khả năng điều hành quản lý, quyết liệt thu hồi nợ xấu, nâng cao chất lượng tín dụng...) để tự cứu mình trước khi cầu cứu sự hỗ trợ từ chính phủ, cơ quan nhà nước...

    Lời kết: Không thể phủ nhận những đóng góp tích cực của hệ thống các ngân hàng nhỏ, họ đã góp phần giúp người dân, doanh nghiệp tiếp cận đến các sản phẩm của ngân hàng một cách tích cực (được phục vụ chu đáo, tận tình, chính sách phục vụ tốt...). Khách hàng có thêm nhiều sự lựa chọn với cùng một loại hình sản phẩm dịch vụ... Việc nâng cao chất lượng hoạt động của các ngân hàng này là cần thiết để ổn định thị trường tài chính tiền tệ - huyết mạch của nền kinh tế.

  • Jonevoo

    13:27 (GMT+7) - Thứ Tư, 30/11/2011

    Anh Nguyễn Hoai đã đưa vấn đề này ra trong bối cảnh lúc này thật là phải, chắc chắn NHNN hiện đang lo khả năng hoạt động của hệ thống sẽ ra sao nếu chuyện vay trả đồng lần trên thị trường interbank (TT2) không có lối thoát về thanh khoản. Nhưng lối thoát nào đây?

    Đây là hệ quả tất yếu của hệ thông sau thời gian dài không kiểm soát và làm nghiêm của NHNN đ/v các NHTM. Qui định và công văn thì có nhưng trên thực tế kiểm soát không tốt để các NHTM hoạt động nhiều chiêu không hay sau nhiều năm sẽ tạo nên nhiều rủi ro tiêm ẩn cho hệ thống.

    Tôi vẫn phải bảo vệ ý kiến hơn 1 lần trên các diễn đàn rắng với hệ quả quản trị điều hành yếu kém kéo dài và không chuyên nghiệp của cơ quan QLNN ngành để giờ tìm cách khắc phục hay thoát khỏi hậu quả này là bất khả thi!

    Sự lộn sộn trên TT2 không phải mới đây, mà gần chục năm nay rồi, đặc biệt từ khi có sự bổ xung các NHTMCP chuyển đổi bởi các vị làm ăn mới nổi đi kinh doanh NH. Cộng với việc để mặc cho họ quản trị theo kiểu làm ăn bên ngoài: NHNN có xoi được hết các giao dịch như ma trận của việc vay mượn cả TT1 và TT2?

    Xin thưa rủi ro nằm ở đó.

    Rồi còn các giao dịch nội bộ trong hệ thống riêng của các vị làm ăn đó đã được thực hiện bởi việc dùng các NH như một công cụ an toàn và dễ dàng bất chấp các nguyên tắc quản trị rủi ro mà chỉ có ngành NH mới có và bắt buộc cần phải tuân thủ, dạ thưa quí vị nếu không giữ nghiêm các qui định tài chính thì lấy đâu ra các cứu cánh cho quí vị lúc này đây!?

    CHắc chắn hơn nữa là không ít các vị HĐQT các NH hiện đang ở bên miệng núi lửa mà các vị do không chuyên nghiệp hay do mưu toan dục tốc hay do muốn dựng cột chống trời... đã tự mình tạo ra, đó chính là sân chơi đã được họ tạo ra đúng như Ngạn ngữ có câu: "muốn là được". Còn lại cơ quan QLNN đến khi hữu sự lại được vời đến cầu viện.

    GIải pháp chắc là nhiệm vụ của người có trách nhiệm nhưng chúng ta chỉ có thể chia sẻ: 1. điều phải xảy tới thì ít lâu nữa sẽ tới. 2. cái phải làm thì NHNN hãy làm, muộn còn hơn không.

    Văn hóa Ngân hàng gần đây đã bị xã hội hóa quá mức và thực sự là phải điều chỉnh theo đúng thông lệ và tập quán của nó. 1 chuyên gia NH lâu năm của nền Kinh tế phát triển nói rằng NH chứ không phải doanh nghiệp thông thường nó phải có giới hạn cho quản trị điều hành giống như đạo đức nghề nghiệp để giữ chứ không sẽ rất nguy hiểm cho nền kinh tế, giờ thì tôi đã hiểu!

  • Trần Công Minh

    10:37 (GMT+7) - Thứ Tư, 30/11/2011

    Tôi rất đồng tình với ý kiến bạn Xuân Đức là cứ mạnh tay cắt bỏ các khối u để cơ thể lành mạnh hơn.

  • Nguyễn Minh Khôi

    10:09 (GMT+7) - Thứ Tư, 30/11/2011

    Trích:

    "Tổng giám đốc một ngân hàng lại không đồng tình với chủ trương này. Ông cho rằng: “Đã khó khăn thanh khoản thì thị trường nào cũng đáng lo ngại như nhau. Bởi lẽ, ngân hàng A cho ngân hàng B vay tiền thì A cũng huy động ở thị trường 1. Nếu B không trả đúng hạn thì A sẽ không có tiền trả cho dân cư và lúc đó cũng gặp khó khăn thanh khoản. Trong kinh doanh ngân hàng làm gì có chuyện đồng nào mua mắm, đồng nào mua muối!”.

    ---

    Ông Tổng GĐ này nói sai hoàn toàn rồi, vì khi ông cho doanh nghiệp vay ông cũng quy định cụ thể là tài trợ mua NVL là chỉ được mua NVL, còn trả lương hoặc nộp thuế là ông No OK ngay.

    Chủ trương của NHNN là hoàn toàn chính xác, người dân gửi vào ngân hàng là khoản tiền tiết kiệm ảnh hưởng đến an sinh xã hội nếu như không được ưu tiên trả. Còn Ông huy động là để ông kinh doanh kiếm cháo gà ăn thì ông phải chịu rủi ro chứ sao lại lý sự cùn là như nhau được?

  • Xuân Đức

    09:41 (GMT+7) - Thứ Tư, 30/11/2011

    "Phá sản là sáng tạo". Có người đã nói như thế.

    Đành rằng để ngân hàng phá sản sẽ gây đổ vỡ cho một số đối tượng liên quan. Nhưng ngược lại, liệu cố níu kéo, hà hơi tiếp sức cho các ngân hàng hấp hối thì tổn thất có nhỏ hơn là để chúng phá sản?

    Về kinh nghiệm trong việc điều hành nền kinh tế thị trường thì các nước phương Tây họ đi trước VN nhiều nhiều thế kỷ. Không phải vô cớ mà ở đó, qua hàng trăm năm, người ta vẫn để các doanh nghiệp nói chung và ngân hàng nói riêng phá sản.

    Vì ngân hàng ở VN được hà hơi nên đã lây bệnh sang các ngân hàng khác, ví dụ thông qua việc vay trên thị trường 2 (liên NH), rồi đến hẹn không trả được, khiến ngân hàng cho vay cũng bị mất thanh khoản lây, dẫn tới cảnh "nợ đồng lần" như hiện giờ. Nay thì vay liên ngân hàng phải có tài sản thế chấp, vì niềm tin bị đổ vỡ. Mà trong nền kinh tế thì niềm tin có ý nghĩa sống còn! Hậu quả là thay vì một vài ngân hàng NHỎ mất thanh khoản sẽ dẫn tới nhiều ngân hàng, trong đó có cả ngân hàng LỚN mất thanh khoản.

    Tương tự như Vinashin, nếu để nó phá sản thì chỉ mình nó và một số đối tượng liên quan chịu thiệt hại. Đến giờ vấn nạn của Vinasshin liệu đã có hồi kết?

    Từ Vinashin, đến các ngân hàng mất thanh khoản, tới EVN và còn nhiều doanh nghiệp nữa, căn bệnh cứ lan rộng mãi. Nó lan rộng một phần vì chúng biết là sẽ không bị phá sản! Đám cháy vì thế cứ loang ra, thay vì được khoanh lại để dập tắt hẳn?

    Đôi khi phải chấp nhận cắt bỏ cái bàn chân bị hoại tử hoàn toàn, để cứu phần còn lại của cơ thể. Vì càng cố cứu thì nó càng lây lan sang các bộ phận còn đang mạnh khỏe.

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Tài chính

NVK

10:19 (GMT+7) - Thứ Bảy, 26/5/2012

Giải toả vốn chết ở BĐS? Tại sao? Khi mà mục đích của kinh doanh là kiếm lời? Mà muốn kiếm lời thì phải dựa...

Trong bài: Các ngân hàng đang gặp những khó khăn gì? (4 ý kiến)

pvd

09:50 (GMT+7) - Thứ Bảy, 26/5/2012

Một là: “Các loại vàng miếng bao gồm SJC và các nhãn hiệu khác đã được cấp phép sản xuất trước đây thuộc quyền sở hữu...

Trong bài: Cho 6 tháng để chuyển đổi mua bán vàng miếng (2 ý kiến)

Shani

08:42 (GMT+7) - Thứ Bảy, 26/5/2012

Chẳng hiểu sao, các khoản vay cá nhân của tôi đến giờ vẫn đang chịu lãi suất 22,3%/năm. Khiếp quá... Các DN muốn vay lại...

Trong bài: Đồng loạt giảm các lãi suất điều hành (2 ý kiến)

vinh

04:39 (GMT+7) - Thứ Bảy, 26/5/2012

Theo tôi chính phủ nên quy định sắp tới sẽ buộc nhà đầu tư cá nhân hay tổ chức khi mua bán vàng phải mua...

Trong bài: Cho 6 tháng để chuyển đổi mua bán vàng miếng (2 ý kiến)

Nguyễn Đức Thắng

22:14 (GMT+7) - Thứ Sáu, 25/5/2012

Nguyên nhân gốc rễ của việc rối loạn lãi suất những năm qua chủ yếu là do chính hệ thống ngân hàng gây ra. Điều...

Trong bài: Thống đốc Nguyễn Văn Bình: Xem xét lại lãi suất cơ bản (6 ý kiến)