Hoạt động ngân hàng 2011: VND đã đi đâu?

MINH ĐỨC

29/12/2011 14:53 (GMT+7)

picture Tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán trong 15 năm qua (đơn vị: %, nguồn: VnEconomy tổng hợp).
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Một năm có quá nhiều sự kiện quan trọng, có nhiều đổi thay và xáo trộn trong hoạt động của các ngân hàng thương mại. Nhiều người trong ngành vẫn cho rằng 2011 còn khó khăn hơn cả năm khủng hoảng 2008.

VnEconomy cùng bạn đọc điểm lại 10 sự kiện nổi bật nhất trong năm 2011 này, trong đó "VND đã đi đâu?" là một câu hỏi đặt ra.

1. Tín dụng, cung tiền thấp nhất hơn 15 năm qua

Trên biểu đồ dữ liệu tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán của hơn 15 năm trở lại đây, kết quả của năm 2011 tạo một điểm rơi rõ rệt, thấp hơn cả hai điểm trũng của năm 1998 và 2002. Bản thân năm 2011, kết quả của nó cũng thấp hơn hẳn các chỉ tiêu đề ra.

Đầu năm, triển khai Nghị quyết số 11 của Chính phủ, chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm nay giới hạn dưới 20%, tổng phương tiện thanh toán khoảng 15% - 16%. Thế nhưng, kết quả ước tính lần lượt chỉ là 12% và 10%.

Ngân hàng Nhà nước nhấn mạnh kết quả đó ở giá trị kiềm chế lạm phát, ở khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế cải thiện. Tuy nhiên, mặt trái của hai tỷ lệ quá thấp đó đến nay vẫn chưa được phân tích một cách rõ ràng và cụ thể. Còn trên thực tế, đó là hai trở ngại lớn đối với nỗ lực giảm lãi suất, với khả năng tiếp cận vốn của các doanh nghiệp.

2. Chuyển giao hai nhiệm kỳ Thống đốc

Năm 2011 khá đặc biệt khi chứng kiến sự chuyển giao giữa hai nhiệm kỳ Thống đốc. Tính chất đặc biệt của nó có ở nhiều thay đổi trong quản lý và điều hành chính sách tiền tệ.

Ngày 3/8, hệ thống chính thức đón nhận người đứng đầu mới là ông Nguyễn Văn Bình. Ngay trong những ngày đầu, dưới sự điều hành của tân Thống đốc, thị trường ghi nhận những thay đổi cơ bản. Đó là siết lại trật tự hệ thống về lãi suất và tỷ giá, hướng đi mới trong bình ổn thị trường vàng và sự vào cuộc giảm lãi suất cho vay; chính thức triển khai lộ trình tái cơ cấu hệ thống.

Thay đổi cụ thể hơn là việc bỏ những rào cản quan trọng trong Thông tư 13 và 19 có hiệu lực trong năm 2010; mở lại cơ chế cho vàng tài khoản; “giải phóng” cho 4 nhóm đối tượng thoát rổ tín dụng phi sản xuất; khởi động cơ chế phân bổ chỉ tiêu tín dụng thay vì cào bằng…

3. Căng thẳng trần lãi suất

Không mới, trần lãi suất huy động VND 14%/năm là câu chuyện của năm 2010 chuyển giao. Nhưng đến năm 2011 nó diễn biến phức tạp và căng thẳng. Từ tháng 8 trở về trước, hiện tượng phá trần trở nên phổ biến gây méo mó, bất ổn trong hoạt động của các ngân hàng thương mại. Từ tháng 8 trở về sau, trần lãi suất được làm nghiêm, gắn với những quyết định xử phạt xôn xao trên thị trường, trong đó có cả dư luận về cái gọi là ngân hàng “cài bẫy” ngân hàng.

Thế nhưng, thời điểm cuối năm, chính thức và bên lề, thông tin ngân hàng vượt trần lãi suất lại rộ lên và một lần nữa đặt ra yêu cầu vào cuộc, giám sát gắt gao từ Ngân hàng Nhà nước.

Là một giải pháp hành chính mang tính tình thế, cho đến nay trần lãi suất vẫn chưa thể được điều chỉnh hay gỡ bỏ, dù khi tiếp nhận vị trí đứng đầu Ngân hàng Nhà nước, Thống đốc Nguyễn Văn Bình đã đưa ra thông điệp sẽ gỡ bỏ.

4. Nước rút hạ tỷ trọng tín dụng phi sản xuất

Ngày 1/3/2011, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Chỉ thị số 01/CT-NHNN, trong đó quy định đến 30/6/2011 tỷ trọng dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất so với tổng dư nợ tối đa phải là 22% và đến 31/12/2011 tối đa là 16%.

Chỉ thị này lập tức tác động mạnh đến hoạt động của các ngân hàng thương mại, thường trực và căng thẳng cho đến hết năm. Đó là một cuộc đua nước rút hạ tỷ trọng tín dụng phi sản xuất, mà phản ứng là sự “đóng băng” tín dụng tiêu dùng tại nhiều ngân hàng, sự chao đảo của thị trường bất động sản và sự suy giảm kéo dài của thị trường chứng khoán…

Một tháng trước hạn 31/12 với rào cản 16% nói trên, Ngân hàng Nhà nước có động thái “nới lỏng” khi mở cơ chế cho loại trừ 4 nhóm đối tượng thoát nhóm tính dư nợ phi sản xuất.

5. Tỷ giá và “cam kết không quá 1%”

Ngày 7/9/2011, tại hội nghị toàn ngành, Ngân hàng Nhà nước đưa ra thông điệp: dư sức để can thiệp những biến động trên thị trường ngoại hối, và nếu điều chỉnh tỷ giá thì từ đó đến cuối năm không quá 1%. Đến nay, cam kết này được giữ vững, tỷ giá USD/VND có sự ổn định tương đối trong khoảng nửa cuối năm 2011. Những cơn sốt tỷ giá vào cuối năm và ám ảnh của “con ngáo ộp” tín dụng ngoại tệ đến thời điểm này có thể nói đã được loại trừ.

Có một điểm trong thông điệp ngày 7/9 ít được dư luận chú ý là từ “dư sức” mà Ngân hàng Nhà nước dùng đến. Phía sau từ “dư sức”là sự gia tăng rất nhanh và mạnh của dự trữ ngoại tệ trước đó, kết quả của loạt giải pháp triển khai quyết liệt từ đầu năm, từ áp trần lãi suất huy động USD, kết hối và mở rộng kết hối, đến những chuyển biến vĩ mô với trạng thái thặng dư khá lớn của cán cân tổng thể…

6. Tái cấu trúc và sự cụ thể hóa đầu tiên

Ngày 6/12, Ngân hàng Nhà nước chính thức công bố kế hoạch hợp nhất ba ngân hàng thương mại là SCB, Ficombank và TinNghiaBank. Lần đầu tiên trong lịch sử thị trường đón nhận vụ hợp nhất diễn ra một cách nhanh chóng như vậy. Đây cũng là sự cụ thể hóa đầu tiên trong lộ trình thực hiện tái cơ cấu hệ thống ngân hàng mà Trung ương Đảng đề ra, cũng như Ngân hàng Nhà nước đã định hình triển khai.

Về hình thức, sự kiện này cho thấy nhà điều hành đang quyết tâm và nhanh gọn trong việc củng cố lại hệ thống. Còn thử thách và kết quả của việc hợp nhất vẫn ở phía trước. Ngày 23/12, ngân hàng hợp nhất đã tiến hành đại hội cổ đông; ngay sau đó Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản chính thức chấp thuận về mặt pháp lý việc thành lập và hoạt động của ngân hàng mới.

Liên quan đến sự kiện này, tái cấu trúc và sự lo ngại “hiệu ứng Tăng Sâm” là dòng chảy nổi bật trong hoạt động ngân hàng 2011. Phía sau đó là những đồn đoán, là sự dịch chuyển của dòng tiền gửi, gắn với cơ chế trần lãi suất, gây những xáo trộn nhất định trên thị trường.

7. Bất ổn thị trường liên ngân hàng

Tháng 10/2011, thị trường liên ngân hàng bước vào những bất ổn khi lần đầu tiên trong lịch sử xuất hiện hiện tượng áp cơ chế bảo đảm, thế chấp trong giao dịch giữa các thành viên. Cơ chế này lập tức tạo một không khí ngột ngạt và ảnh hưởng tới sự điều hòa các dòng vốn trong hệ thống, căng thẳng thanh khoản tại một số thành viên. Quan trọng hơn, giá trị lớn nhất của thị trường này là niềm đã bị đánh mất khi các thành viên nghi ngờ lẫn nhau, khi phát sinh những món nợ đồng lần

Đi cùng với cơ chế đó, lãi suất huy động vàng và ngoại tệ “lạ” biến động và tăng nhanh, khi một số thành viên cần có tài sản để thế chấp gọi vốn trên thị trường liên ngân hàng. Đáng chú ý là cho đến nay vẫn chưa có một sự can thiệp triệt để nào từ Ngân hàng Nhà nước được công bố, để trả lại môi trường vốn có cho thị trường này, cũng như vai trò của nó trong điều hòa các dòng vốn.

8. Xuất hiện “yếu tố nhóm” trong hệ thống

Tại phiên chất vấn Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trước Quốc hội ngày 24/11, có một câu hỏi được đặt ra: liệu có “lợi ích nhóm” trong những điều chỉnh chính sách tiền tệ gần đây? Câu hỏi này xuất phát từ “yếu tố nhóm” định hình trong chủ trương của Ngân hàng Nhà nước.

Cụ thể, ngay sau khi tiếp nhận vị trí lãnh đạo cao nhất ngành, bước đi đầu tiên của Thống đốc Nguyễn Văn Bình là thành lập nhóm 12 ngân hàng lớn với tên gọi được nhắc đến là “G12”, gồm những thành viên lớn và mạnh trong hệ thống. Sự kiện này lập tức tạo sự phân biệt trong hệ thống, cả trong tâm lý khách hàng và người gửi tiền. Có ngân hàng trong nhóm đã quảng bá rộng rãi thông điệp “G12” như một “chứng chỉ” trong bối cảnh tâm lý người dân ít nhiều xáo trộn từ thông tin tái cấu trúc hệ thống…

Ngoài ra, năm 2011 cũng đón nhận sự trở lại của vàng tài khoản, mở riêng cho 5 ngân hàng thương mại lớn trong giải pháp bình ổn thị trường vàng mà Ngân hàng Nhà nước triển khai. Nhóm nay cũng được gắn với tên gọi “G5” trong các thông tin bình luận liên quan.

9. Thử thách lớn trong bình ổn thị trường vàng

Một năm thị trường vàng có quá nhiều biến động, kịch tính và cả những bất cập. Lần đầu tiên trong lịch sử giá vàng trong nước có thời điểm vượt trên giá thế giới tới 4 triệu đồng/lượng và duy trì trạng thái vượt trội đó kéo dài, thách thức các nỗ lực rút ngắn của Ngân hàng Nhà nước.

Như ở sự kiện trên, việc mở lại vàng tài khoản ở nước ngoài cho 5 ngân hàng lớn, phối hợp cùng SJC là giải pháp trọng tâm mà Ngân hàng Nhà nước đưa ra. Dù “liều thuốc” cấp hạn mức nhập vàng đã không còn được dùng đến, áp lực đối với tỷ giá cũng được xử lý đáng kể, nhưng chênh lệch giữa giá vàng trong nước với thế giới vẫn là bài toán chuyển giao cho năm 2012.

Đáng chú ý là trong năm 2011, dự thảo nghị định quản lý kinh doanh vàng trở thành một câu chuyện dài, gắn với nhiều biến động và phản ứng trên thị trường. Liên quan, ngày 25/11, trả lời trước Quốc hội, Thống đốc Nguyễn Văn Bình chính thức tuyên bố vàng SJC trở thành vàng của Ngân hàng Nhà nước, trong lộ trình tăng cương quản lý thị trường rất nhạy cảm này.
 
10. Câu hỏi: VND đã đi đâu?

Cuối cùng, điểm nổi bật mà VnEconomy đặt ra để điểm lại hoạt động của hệ thống ngân hàng năm 2011 là câu hỏi: VND đã đi đâu?

Bất động sản ồ ạt giảm giá, giá cổ phiếu trên sàn chứng khoán được cho là rẻ rúng, giới hạn tăng trưởng tín dụng tại nhiều nhà băng đã hết năm vẫn còn khá lớn… Nhưng vấn đề là tiền và tiền mặt. Trong khi đó, liên tiếp các tháng 9, 10 huy động vốn của hệ thống ngân hàng sụt giảm; riêng tháng 11, 12 và báo cáo chung cả năm đến nay vẫn chưa thấy dữ liệu được công bố.

Trả lời câu hỏi trên là một vấn đề lớn. Yếu tố tham khảo là: tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng năm nay tạo đáy như vậy; nhập siêu vẫn lớn với 9,5 tỷ USD mà tính chuyển đổi của VND rất hạn chế để có thể chảy trực tiếp sang nước bạn; lượng vàng nhập khẩu qua các đợt bình ổn năm 2011 cũng ngốn một lượng tiền lớn đang tích tụ và trú ẩn trong dân cư thay vì đi vào sản xuất kinh doanh…

Và cùng với câu hỏi trên, một câu hỏi liên đới là “Bao giờ lãi suất VND mới thực sự giảm?” - câu hỏi được chuyển tiếp cho năm 2012, dù trong năm 2011 chủ trương giảm lãi suất cho vay xuống 17 - 19% đã là một câu chuyện dài.

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Nguyễn Đỗ Việt

    15:00 (GMT+7) - Thứ Năm, 5/1/2012

    Có một lý do thiếu tiền mà chưa thấy ai nhắc đến đó là thiếu tiền so với kỳ vọng.

    Vay quá dễ nên vung tay đầu tư vượt khả năng của mình, khi bị thắt chặt tín dụng nhiều công trình dang dở do thiếu tiền làm tiếp; sử dụng đòn bảy quá lớn nên thiếu tiền trả gốc và lãi cho khoản vay “khống” gấp 2-3 lần sức của mình; hàng không bán được nên thiếu tiền thanh toán cho các nhà thầu; nợ cũ không trả được trong khi ngân hàng thúc ép nên thiếu tiền đảo nợ, ngân hàng huy động vốn khó khăn trong khi nợ khó đòi gia tăng nên thiếu tiền cho thanh khoản, ngân hàng ngột ngạt thiếu tiền vì không thu được nợ trước sức ép giảm tỷ lệ cho vay phi sản xuất xuống 16%, người dân quen tiêu tiền triệu nay tiêu tiền trăm cũng cảm thấy thiếu tiền…

  • Nguyễn Minh Quý

    17:58 (GMT+7) - Thứ Tư, 4/1/2012

    Tiền VND nằm ở:
    1. Ngân hàng nhà nước tăng dự trữ bắt buộc nên số tiền ở tại hệ thống ngân hàng tăng lên.
    2. Lạm phát tăng cao làm giảm giá trị đồng tiền.
    3. Giảm đầu tư công của Chính phủ nên tiền ảo và thu nhập xã hội giảm, chi tiêu giảm.
    4. Kinh tế khủng hoảng, khó khăn nên luân chuyển tiền tệ giảm tạo cảm giác ít tiền.
    5. Người dân tiết kiệm chi tiêu.
    Mua bán vàng không ảnh hưởng gì đến việc khan hiếm tiền VNĐ.

  • Dinh An

    12:31 (GMT+7) - Thứ Sáu, 30/12/2011

    Tiền không đi đâu cả nhưng tiền chỉ có thế thôi. GDP năm 2011 tăng 5.89%, lạm phát tăng trên 18% mà tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng tăng có 6-8% thì thiếu VND là đúng rồi.

  • Lee

    09:46 (GMT+7) - Thứ Sáu, 30/12/2011

    Ồ! Bạn Nhân hiểu có nhầm ko nhỉ? SJC bán vàng thu tiền thì tiền đó chắc sẽ vẫn ở trên thị trường, trong túi SJC. SJC sẽ ko để tiền chết một chỗ đâu nên họ sẽ giao dịch. Tiền đó sẽ lại vào NH một phần mà. Hoặc nếu không họ sẽ bán VND để mua USD từ ngân hàng, từ chợ tự do nên VND sẽ ko mất đi.

    NHNN hút tiền về chống lạm phát. Có khả năng lắm chứ? Tiền VND đang dư thừa mà. Phải hút về chứ? Nếu không thì lạm phát sao giảm nổi?

    DN và dân tự hợp tác trong huy động và sử dụng vốn. Điều này đúng rồi nha! Vì rất nhiều DN đang huy động trực tiếp từ dân cư với lãi suất khá ổn hơn vay ngân hàng. Từ 17 đến 19%/năm thôi. Có khi còn thấp hơn ý chứ!

    Mà chung quy lại! Vẫn là do chính sách điều hành không nhất quán, mang tính chủ quan, duy ý chí. Áp đặt mệnh lệnh hành chính vào thị trường. Theo quy luật thị trường thì nó sẽ tác động lại một lực tương ứng đấy!

    Hãy cẩn trọng trong cả chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa trong năm 2012 này!

  • Nhat Dinh

    09:35 (GMT+7) - Thứ Sáu, 30/12/2011

    Bài này hay ở cái đồ thị. Nhìn đồ thị một cái là biết vì sao từ 2007 đến nay lạm phát hoành hành như vậy.

  • Pvd

    09:32 (GMT+7) - Thứ Sáu, 30/12/2011

    Dân không cất giữ tiền, nhà nước cũng không cất giữ tiền, không ai cất giữ tiền cả – Chắc chắn là như vậy – Vì nếu tiền được cất giữ, lạm phát phải giảm.

    Toàn bộ tiền đang lưu thông trên thị trường. Trong khi đó đầu tư tài chính trực tiếp đang xu hướng giảm, tiền qua ngân hàng giảm, chứng khoán thì “chảy ra”...

    Rõ ràng tiền đã gia tăng trên thị trường đen. Đặc thù của thị trường đen thì ai cũng rõ: chấp nhận mạo hiểm và đòi hỏi lợi nhuận cao.

    Rõ ràng vẫn đang tồn tại những khu vực trong nền kinh tế đang khát vốn, chấp nhận lãi suất cao hơn “lãi suất thực cho vay cao nhất” của NHTM. Không phải vậy thì chí ít thì cũng là dòng tiền đang bị “kẹt lại” tại những nơi ấy, chưa có đường mở để quay lại thị trường chính thống.

  • Tran Trong Triet

    09:16 (GMT+7) - Thứ Sáu, 30/12/2011

    Cung tiền giảm, bất động sản đóng băng, giá vàng nhảy múa tăng kỷ lục, lãi suất lập đỉnh, doanh nghiệp khát vốn, huy động vốn giảm mạnh, VND chảy về NHNN, NHTM thiếu hụt thanh khoản, chứng khoán ế giá rẻ như rau. Tất cả là hệ lụy của những năm tăng trưởng tín dụng quá nóng và nền kinh tế chủ yếu dựa vào vốn ngân hàng.

  • Nguyễn Nam

    00:05 (GMT+7) - Thứ Sáu, 30/12/2011

    9 tháng đầu năm 2011, doanh thu của SJC là 110.212 tỷ VNĐ, ước tính thêm 3 tháng cuối năm là khoảng 150.000 tỷ VNĐ. Nói ngược lại tức là khoảng 150.000 tỷ VNĐ đã chạy vào kho tiền của SJC, hỏi tại sao nền kinh tế lại thiếu tiền mặt như vậy.

  • Le Huong

    17:48 (GMT+7) - Thứ Năm, 29/12/2011

    Thật là buồn lắm cho công tác qlý của chính fủ ,tôi nói lại chính fủ co nghe ko ,tiền đang nằm trong doanh nghiệp cổ fần hoá vì sao vậy năm 2009, 2010 , nhà nước chủ trương cho cổ fần hoá ào ạt nhằ huy động vốn ,như vậy nhà ncs ko tính đcj doanh nghiệp cổ fần cả ko khí bán cho nhà đầu tư [ chỗ này gọi la vốn vô hình ko co tiền vẫn định giá 10 ngàn ,bán lấy tiền gửi tiết kiệm 19% năm2011 tha hồ lợi nhuận ko fai làm gì ,vốn huy động khổng lồ của ngân hàng thì fải trả lãi khổng lồ ,để có lãi suất khổng lồ thì đẩy vốn cho vay lên cao , ở đây là nơi fát sinh lạm fat cao ma chính fủ ko biết ,ai chết ? xin thưa doanh nghiệp sản xuất chết vì vốn nhỏ ko có dự trữ fai vay ngân hàng lãi suất cao , một hang hoá sản xuất ra fải ganh các chi fí điện tăng giá ,xăng dầu tăng giá ,nguyên liệu đầu vào tăng giá ,lãi suất ngan hàng cao dẫn đén giá thành cao gây lạm fát , giá cao ko co người mua dẫn đến giảm fát , giảm fát fải bơm tiền , bơm tiền bằng nhiều cách ví tặp trung hạ lãi suất huy động cho nhân dân rút tiền ra , dừng bán vàng thì tiền mới chảy vào kinh doanh ,chưng khoán , bất động sản , thế mới thấy VND lộ ra chứ , điểm nữa fát hành tiền hợp ly va thu vào hơp ly ,cho tăng giá điện nhà nước fải thu vào đảm bảo an ninh tiền tệ ko để EVN tiêu bừa qua mặt , xăng dầu cũng vậy ,cán bộ doanh nghiệp nhà nước lương fai binh đẳng công bằng, nha nước fải thu đảm bảo an sinh, ko để tình trạng như vưa qua , con nhiều nưa gop ý vừa kẻo dài quá

  • Văn sỹ

    16:52 (GMT+7) - Thứ Năm, 29/12/2011

    Tiền trong lưu thông cũng như mạch máu trong cơ thể người vậy, luôn có hệ số cung tiền, cái này phụ thuộc vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc...Tuy nhiên tổng luợng tiền ở ngoài xã hội không giảm đi nhiều, tuy nhiên lượng tiền lưu thông giảm rất mạnh (cái này tác động tới hệ số nhân tiền). Cái này giống như nước trên cánh đồng được dồn vào dòng sông chảy, sông bơm lên đồng tạo thành vòng kín, chứ giờ nó ở trong các ao nhỏ được be kín rất it lưu thông tạo sự khô khan.

  • Hải Vân

    16:47 (GMT+7) - Thứ Năm, 29/12/2011

    Vòng quay vốn. Trước đây dòng vốn quay với tốc độ rất cao nên thấy tiền ngoài xã hội rất nhiều nay, vòng quay chậm chạp thậm trí chôn vào tài sản rồi chưa ra.

    Số tiền chôn vào T.sản về lý thuyết vẫn ở ngân hàng vì người bán được chuyển vào tải khoản để dùng việc khác. Tuy nhiên, một phần ko lấy ra được do trả nợ ngân hàng rồi ko vay ngược ra được vì NH phải hạn chế tăng trưởng tín dụng và cho vay BDS theo chỉ tiêu của CP nên NH có tiền đưa về nhưng vẫn bị hạn chế thanh khoản. Một phần nữa là chính số tiền đó đã mất khoảng 20% vô hình do lạm phát.

    Suy ra tiền mất do:

    - Lạm phát 20% nên mất 20% tổng giá trị tiền đang lưu thông.

    - Vòng quay vốn chậm lại nên ko có thặng dư như nhưng năm trước nên thấy rất ít.

    Đó là những lý do giải thích vì sao ko thấy tiền đâu.

  • David Lee

    16:44 (GMT+7) - Thứ Năm, 29/12/2011

    Theo tôi nghĩ lạm phát có nhiều nguyên nhân chứ không phải do dư tiền trong lưu thông, một ví dụ đơn cử như giá lương thực thế giới gia tăng, đây là điều ko thể tránh khỏi được...

    Thôi sang năm mới hy vọng vào Thống đốc mới với nhiều giải pháp mới...

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Tài chính

Conandoyle

11:28 (GMT+7) - Thứ Năm, 23/2/2012

Theo mình, có lẽ Eximbank đã có ý định từ lâu nên mới ra văn bản một cách tự tin như vậy. Nhưng 30 chưa phải...

Trong bài: Sacombank và giả thiết không có màu hồng (8 ý kiến)

Ngoc Thuy

11:16 (GMT+7) - Thứ Năm, 23/2/2012

Việc giảm lãi suất và đáp ứng nhu cầu vốn cho doanh nghiệp mới là vấn đề đáng quan tâm. Hiện nay nhiều doanh nghiệp...

Trong bài: Ngân hàng cổ phần đầu tiên giảm lãi suất (2 ý kiến)

Hai

10:29 (GMT+7) - Thứ Năm, 23/2/2012

Tôi thấy việc một số ngân hàng,nhất là các NH lớn bắt đầu giảm lãi suất cho vay là dấu hiệu rất tích cực, tạo...

Trong bài: Ngân hàng cổ phần đầu tiên giảm lãi suất (2 ý kiến)

Phạm Ngọc Phú

10:19 (GMT+7) - Thứ Năm, 23/2/2012

Tôi ủng hộ ý kiến Ngân hàng Nhà Nước phải vô tư trong việc này; không ủng hộ bên đi thôn tính cũng như bên...

Trong bài: Sacombank và giả thiết không có màu hồng (8 ý kiến)

Mai Thiên Bình

10:01 (GMT+7) - Thứ Năm, 23/2/2012

NHNN nên chú trọng vào việc làm cách nào tăng tổng cung thanh khoản, hạ giá vốn cho vay mà vẫn kiểm soát được lạm...

Trong bài: Ngân hàng Nhà nước sẽ làm rõ các thông tin về Sacombank (1 ý kiến)