“Dọn dẹp” hệ thống ngân hàng: Thống đốc đang làm như thế nào?

NGUYỄN HOÀI

16/02/2012 09:57 (GMT+7)

picture Để tạo sự đồng thuận của xã hội, Ngân hàng Nhà nước đã từng bước công khai một số thông tin nhạy cảm mà trước đây nhà điều hành vẫn có thói quen… “đậy” lại.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Điểm lại những động thái điều hành từ trước Tết Nguyên đán đến nay, có vẻ như như Ngân hàng Nhà nước đã sẵn sàng đối mặt với con “ngáo ộp” thanh khoản để kiên trì với mục tiêu chủ đạo: dọn dẹp lại hệ thống ngân hàng và hướng dòng vốn đi vào sản xuất, đặc biệt là khu vực “tam nông”.

Không ngại “ngáo ộp” thanh khoản

Tại buổi họp báo ngày 14/2, thêm một lần nữa, Ngân hàng Nhà nước khẳng định: có “mươi” tổ chức tín dụng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, có nguy cơ đổ vỡ và đang trong quá trình tái cơ cấu, sắp xếp lại”.  

Thực ra, đây là vấn đề đã được nhiều chuyên gia khuyến cáo là nóng bỏng nhất trong điều hành vĩ mô của năm nay. Vậy, Ngân hàng Nhà nước đã từng bước xử lý như thế nào?

Một lãnh đạo cao cấp của Ngân hàng Nhà nước cho biết: “Trước Tết, Ngân hàng Nhà nước đã bơm tiền rất mạnh qua kênh nghiệp vụ thị trường mở (OMO) để giải quyết thanh khoản và sau Tết, lại hút ròng về từ OMO; đồng thời tái cấp vốn cho những trường hợp thật cần thiết”.

Những diễn biến trên OMO gần đây cho thấy, cùng với việc “nới” khối lượng giao dịch, Ngân hàng Nhà nước cũng điều chỉnh kỳ hạn giao dịch một cách linh hoạt: trước Tết, kỳ hạn cho vay là 14 và 21 ngày thì sau Tết, đưa về 7 và 14 ngày.

Sở  dĩ Ngân hàng Nhà nước làm như vậy là bởi, nhu cầu thanh khoản trước Tết bao giờ cũng rất lớn và thời gian nghỉ Tết kéo dài nên khối lượng bơm ra và kỳ hạn cho vay phải phù hợp với thị trường. Còn sau Tết, khi thanh khoản hệ thống tạm dịu lại thì một mặt, nhà điều hành thu tiền về và thu ngắn kỳ hạn dao dịch; mặt khác, tái cấp vốn cho một số đơn vị có nguy cơ đổ vỡ nhằm hướng dòng tiền này vào một mục đích duy nhất: hỗ trợ thanh khoản tức thời, không để chúng gây áp lực lên lạm phát.

Thứ  hai, để tạo sự đồng thuận của xã hội, Ngân hàng Nhà nước đã từng bước công khai một số thông tin nhạy cảm mà  trước đây nhà điều hành vẫn có thói quen… “đậy” lại. Đó là tiến hành phân loại hệ thống tổ chức tín dụng thành 4 nhóm và công khai số lượng các tổ chức tín dụng yếu kém thuộc nhóm 4 để khoanh vùng và chữa trị.

Cách “chữa trị” ở đây trước hết, không cho phép số đối tượng này tăng trưởng tín dụng mà chỉ được phép gói gọn trong giới hạn bằng với năm 2011. Điều này bắt buộc các tổ chức tín dụng diện này muốn tồn tại thì phải cơ cấu lại danh mục, chất lượng tài sản, tăng cường thu hồi nợ để lành mạnh hóa bảng cân đối tài sản và tiết giảm mọi chi phí.

Sau đó, như lời một Phó thống đốc chia sẻ với người viết: “Tất nhiên, chúng tôi vẫn bên cạnh họ, sẵn sàng tái cấp vốn để tránh đổ vỡ nhưng sẽ giám sát từng ngày, từng đồng và kiên quyết không để họ sử dụng tiền tái cấp vốn không đúng mục đích”. Trên thực tế, ở một số đơn vị thuộc nhóm này, Ngân hàng Nhà nước đã thành lập các tổ giám sát túc trực thường xuyên, gia tăng hoạt động thanh tra giám sát.

Dĩ nhiên, song song với quá trình chữa bệnh cho một số tổ chức tín dụng yếu kém để từng bước sắp xếp lại hệ thống, ngoài vai trò của Ngân hàng Nhà nước còn có bóng dáng của các “ông lớn” khác. Không kể đến BIDV trong thương vụ hợp nhất vừa qua, ông Nguyễn Hòa Bình, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Vietcombank cho biết: “Nếu được giao nhiệm vụ, Vietcombank sẵn sàng thuyết phục các cổ đông để hỗ trợ các ngân hàng trong diện phải sáp nhập khi cần thiết”.

Hướng vốn cho sản xuất

Điểm nổi bật trong điều hành của Thống đốc Nguyễn Văn Bình ở những ngày đầu năm là mở ưu đãi cho tín dụng sản xuất và kìm hãm tín dụng đối với những lĩnh vực không ưu tiên thông qua một loạt động thái quan trọng.

Theo trình tự thời gian, ngày 31/1/2012, Ngân hàng Nhà nước ban hành văn bản số 428/NHNN - CSTT về việc xác định lãi suất tiền gửi VND của các tổ chức tín dụng Nhà nước tại Ngân hàng Chính sách xã hội năm 2012 là 12,94%/năm.

Đối tượng phục vụ của Ngân hàng Chính sách xã hội là người nghèo và đối tượng chính sách khác, việc giảm áp lực lãi suất đầu vào cho Ngân hàng Chính sách xã hội trong điều kiện lãi suất thị trường 17% - 19%/năm là cơ sở để ngân hàng này giảm lãi suất tiền vay để thực hiện sứ mệnh một tổ chức tài chính vi mô của chính phủ, trong việc giảm nghèo và góp phần đảm bảo an sinh xã hội.

Cùng với chính sách ưu đãi cho các tổ chức tài chính vi mô, trước đó, Ngân hàng Nhà nước đã cho phép các Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở được huy động vốn với lãi suất 14,5%/năm, cao hơn 0,5% so với tổ chức tín dụng khác, tạo ưu thế về nguồn vốn để các tổ chức này hoạt động.

Thứ hai, ngày 2/2/2012, Ngân hàng Nhà nước ban hành một loạt văn bản cho phép 5 tổ chức tín dụng được hưởng ưu đãi giảm tỷ lệ dự  trữ bắt buộc VND (áp dụng từ tháng 2/2012 đến tháng 7/2012) có tỷ trọng dư nợ cho vay “tam nông” lớn, gồm các ngân hàng thương mại: Mê Kông, Nhà Đồng bằng sông Cửu long, Quỹ Tín dụng nhân dân Trung ương, Agribank và LienVietPostBank.

Mức giảm như sau: “Đối với tổ chức tín dụng có tỷ trọng dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn trên tổng dư nợ bình quân cuối các quý trong năm tài chính liền kề từ 40% đến dưới 70%: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam bằng 1/5 (một phần năm) so với tỷ lệ dự trữ bắt buộc thông thường tương ứng với từng kỳ hạn tiền gửi”.

Như vậy, 5 tổ chức tín dụng nói trên sẽ được giải phóng tới 4/5 khối lượng dự trữ bắt buộc, giúp họ cải thiện nguồn vốn để cho vay nhiều hơn đối với khu vực khuyến khích.

Song song với mở “hầu bao” cho tín dụng sản xuất, Ngân hàng Nhà nước lại rất “hà tiện” với tín dụng không khuyến khích như cho vay bất động sản, chứng khoán và tiêu dùng khi khống chế mức tăng tín dụng khu vực này của năm 2012 là 16%.

Phó thống đốc Nguyễn Đồng Tiến khẳng định: “Năm 2012, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước sẽ không ưu tiên tín dụng cho chứng khoán, bất động sản. Những giải pháp của chính sách tiền tệ hiện nay chỉ tập trung cho ổn định vĩ mô, đưa vốn về sản xuất, doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo nhiều việc làm; không nên quan niệm nới lỏng chính sách tiền tệ để cứu thị trường chứng khoán mà hãy để cho chúng tự vận hành theo quy luật”.

Xét về tổng thể, những động thái gần đây của Ngân hàng Nhà nước đang diễn ra theo một kịch bản định sẵn, tuy nhiên mấu chốt của vấn đề hiện nay vẫn là giảm lãi suất. Trong điều kiện xu hướng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đang giảm mạnh, nếu lãi suất không giảm, sẽ là câu hỏi khó trả lời.

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Pvd

    14:50 (GMT+7) - Chủ Nhật, 19/2/2012

    Từng bước nhưng chắc chắn là cách đang làm của thống đốc NHNN.

    Tôi rất ủng hộ biện pháp sử dụng công cụ hạn chế tăng trưởng tín dụng của thống đốc. Biện pháp này rất hợp lý, mở ra điều kiện phù hợp với thực trạng kênh tín dụng hiện nay. Trước hết là ngăn trặn trực tiếp gia tăng nguy cơ đối với an toàn tín dụng, sau đó là mở ra điều kiện để tiến tới “cơ cấu lại” ngành tín dụng an toàn.

    Trong khi tất cả các kênh đầu tư đều chưa đủ hấp dẫn các nguồn lực tài chính, các nhà đầu tư rất ít lựa chọn cho việc “đầu tư vào đâu?”. Thì việc tín dụng không đáp ứng nổi nhu cầu đầu ra mà là điều vô lý, không bình thường. Cái không bình thường ở đây là đèn an toàn tín dụng đã... “đỏ!”.

    Sau nhiều năm kinh tế tăng trưởng nóng. Đầu tư phi sản xấu nói chung đã quá nóng và đến hồi tất yếu không “chủ động” điều chỉnh thì cũng “tự” lâm vào khủng hoảng. Sau “tự” khủng hoàng của TTCK thì thị trường vàng, tiền tệ đã cơ bản được “chủ động” đưa vào bình ổn và bước đầu thành công.

    Nhưng hiện tại phi sản xuất nói chung và TT tín dụng và BĐS nói riêng vẫn tồn tại nhiều vấn đề. Thực chất là mối quan hệ hai chiều giữa BĐS và tín dụng vẫn chưa được giải quyết triệt để.

    Đa phần theo “công bố”, các NHTM đều giữ mức cho vay BĐS ở mức khá an toàn. Nhưng sự thật, chất lượng của chính sách và tập quán minh bạch của thị trường đã không “đủ” để các nhà đầu tư tài chính và người gửi tín dụng yên tâm. Thậm chí lạm phát 2012 sẽ chỉ là “một con số” (kỳ vọng lãi xuất 14% là thực dương) đã nhận được những đánh giá khả quan và tin tưởng lớn.

    Nhưng tuy vậy, các NHTM vẫn khó trong huy động vì lòng tin của thị trường với tín dụng đã quá suy yếu.

    Thực hiện cải thiện an toàn tín dụng, lấy lại lòng tin của thị trường với ngành chính là mục đích biện pháp của hạn chế tăng trưởng tín dụng.

    Bằng cách hạn chế tăng trưởng tín dụng sau một thời hạn “đã công bố trước!”, đàng hoàng và đĩnh đạc – Thống đốc NHNN – đã buộc các NHTM yếu kém không thể lợi dụng sự thiếu minh bạch để che dấu sự yếu kém về an toàn tín dụng và buộc phải bằng mọi cách khắc phục yếu kém đó.

    Việc (bỏ đi thói quen tiền lệ “giật cục” trong điều hành CS) công bố trước một thời hạn cho hạn chế tăng trưởng tín dụng là hợp lý. Nó đảm bảo cho các NHTM có đủ thời gian chuẩn bị thích nghi với CS mới, không bị “xốc”. Còn NHTM nào không đáp ứng được thì chứng tỏ rằng họ đã thực sự yếu kém, cần phải “cơ cấu lại” – và “bắt buộc” phải cơ cấu lại – nếu không muốn “tự” phá sản.

    Yêu cầu của hạn chế tăng trưởng tín dụng thúc ép các NHTM dù (chạy theo lợi nhuận, bỏ qua an toàn tín dụng) không muốn cũng buộc phải đòi được “nợ cũ” (tất nhiên là ưu tiên thu hồi các khoản nợ mức độ dủi do cao trước) để duy trì thanh khoản. Đồng thời nhu cầu huy động tín dụng với lãi xuất cao để cho vay lãi xuất cao (mạo hiểm cao) cũng lập tức bị hạn chế.

    Như vậy điều kiện “đủ” cho việc bỏ “trần” lãi xuất cả đầu vào lẫn đầu ra tín dụng đồng thời được đáp ứng. Các NHTM chẳng việc gì phải huy động vay với lãi xuất cao và cũng chẳng dại gì cho vay đầu tư mạo hiểm cao. Khi đó NHTM nào huy động lãi xuất cao là đã tự bộc lộ “vấn đề” của mình, do đó chấp nhận lãi xuất cao cũng khó có thể huy động tiếp;

    Đồng thời, đứng trước các khách hàng “sãn sàng” vay với lãi xuất cao ngất, NHTM cũng không thể tùy tiện, buộc phải cân nhắc “xem lại” mức độ an toàn đầu tư của khách hàng có đảm bảo hay không...

    Một “kịch bản” chính sác thì khó. Nhưng hậu quả của hạn chế tăng trưởng tín dụng khá rễ dự đoán. Đầu tiên là khó khăn đến với các nhà đầu tư, đầu cơ tài chính “không đủ thực lực”, sử dụng vốn “của người” là chính. Khó khăn đó là sự “mất mát” của nền kinh tế. Nhưng bù vào chỗ “mất mát” đó, nền kinh tế lại “lấy lại” được thanh khoản cho tín dụng, dòng tiền đầu tư sẽ lưu thông và cung cấp đủ hơn, đồng đều và hợp lý cho tất cả các khu vực sản xuất phát triển ổn định.

    (Thực chất “cơ cấu lại” ngành NH phụ thuộc rất nhiều vào “số phận” lượng vốn mà ngành đã đầu tư vào BĐS.

    Đầu tư bằng vốn “của người” hiện phổ biến nhất trong BĐS thứ cấp nói chung và trong thị trường “đen” của TT BĐS nói riêng. Sự “sụp đổ” của thị trường “đen” BĐS sẽ đem lại những thiệt hại đau xót cho những người cố tình hoặc vô tình tham gia thị trường này bằng cách cho vay với lãi xuất “cắt cổ”. Nhưng loại bỏ nó, thị trường “đen” nói riêng là cần thiết. Và sớm hay muộn thị trường BĐS thứ cấp nói chung cũng phải bằng cách nào đó “tự” cơ cấu lại...

    Kịch bản tốt đẹp nhất cho TT BĐS (và cả cho TT TD) là cuối cùng các nhà đầu tư BĐS có tiềm lực tài chính lớn bằng cách nào đó, có thể “mua lại” toàn bộ các “hàng hóa BĐS” đang bị “tắc” trên TT BĐS thứ cấp với giá “giá gốc”, vừa “chia sẻ” một phần khó khăn với các nhà đầu tư trên TT BĐS thứ cấp, vừa tránh sự “mất giá” sản phẩm đầu ra của ngành, đồng thời tạo điều kiện tiềm lực tiền đề sẵn sàng cho “cơ cấu lại” TT BĐS thứ cấp nói riêng, ngành BĐS nói chung...)

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Tài chính

NVK

10:19 (GMT+7) - Thứ Bảy, 26/5/2012

Giải toả vốn chết ở BĐS? Tại sao? Khi mà mục đích của kinh doanh là kiếm lời? Mà muốn kiếm lời thì phải dựa...

Trong bài: Các ngân hàng đang gặp những khó khăn gì? (4 ý kiến)

pvd

09:50 (GMT+7) - Thứ Bảy, 26/5/2012

Một là: “Các loại vàng miếng bao gồm SJC và các nhãn hiệu khác đã được cấp phép sản xuất trước đây thuộc quyền sở hữu...

Trong bài: Cho 6 tháng để chuyển đổi mua bán vàng miếng (2 ý kiến)

Shani

08:42 (GMT+7) - Thứ Bảy, 26/5/2012

Chẳng hiểu sao, các khoản vay cá nhân của tôi đến giờ vẫn đang chịu lãi suất 22,3%/năm. Khiếp quá... Các DN muốn vay lại...

Trong bài: Đồng loạt giảm các lãi suất điều hành (2 ý kiến)

vinh

04:39 (GMT+7) - Thứ Bảy, 26/5/2012

Theo tôi chính phủ nên quy định sắp tới sẽ buộc nhà đầu tư cá nhân hay tổ chức khi mua bán vàng phải mua...

Trong bài: Cho 6 tháng để chuyển đổi mua bán vàng miếng (2 ý kiến)

Nguyễn Đức Thắng

22:14 (GMT+7) - Thứ Sáu, 25/5/2012

Nguyên nhân gốc rễ của việc rối loạn lãi suất những năm qua chủ yếu là do chính hệ thống ngân hàng gây ra. Điều...

Trong bài: Thống đốc Nguyễn Văn Bình: Xem xét lại lãi suất cơ bản (6 ý kiến)