VnEconomy > Bất động sản 14:58 (GMT+7) - Thứ Bảy, 31/3/2012

Bài toán vốn cho bất động sản: Khó nhưng vẫn giải được

Với nhiều dự án, nếu dừng cấp vốn, không chỉ chủ đầu tư “chết” mà chính ngân hàng cũng “chết” luôn...

Bài toán vốn cho bất động sản: Khó nhưng vẫn giải được

Không ít dự án bất động sản bị đình trệ, chậm tiến độ vì chủ đầu tư "đói vốn".

Hầu hết giới trong nghề cho rằng, việc tín dụng bị thắt chặt là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng ảm đạm của thị trường bất động sản hiện nay.

Tuy nhiên, có không ít ý kiến cho rằng, lý do đó là có song không phải là quyết định, bởi bằng chứng là người có nhu cầu tìm mua nhà để ở vẫn rất lớn, tức lượng tiền trong dân sẵn sang đổ vào bất động sản cũng không hề nhỏ. Đặc biệt tại thị trường Hà Nội, khi mà tín dụng bất động sản chưa bằng một nửa Tp.HCM, thì nhận định trên lại càng có cơ sở.

Vấn đề còn lại là làm sao huy động được dòng tiền nhỏ lẻ nhưng lại rất tiềm năng đó?

Tại hội thảo “Tìm vốn cho bất động sản” do tập đoàn FLC tổ chức ngày 30/3, đã có những đánh giá thẳng thắn và gợi mở hướng đi tìm vốn cho doanh nghiệp bất động sản từ các chuyên gia địa ốc, tài chính…

Theo GS. Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, dù đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau, song vốn vẫn là vấn đề “nóng” và nan giải nhất hiện nay của các chủ đầu tư lẫn giới đầu cơ bất động sản. Ngay cả khi lãi suất đã giảm chút ít, có vẻ chính sách tiền tệ đang tốt hơn cho thị trường, nhưng khả năng dòng vốn đổ vào bất động sản lại là chuyện khác.

Bởi lẽ, theo ông, ngay cả khi chiếc van tín dụng đã được mở (có hạn), song với mức lãi suất gửi khoảng 13%, lãi suất vay khoảng 20% như hiện nay vẫn là một thách thức lớn đối với bất kỳ một nhà đầu tư bất động sản nào. Chỉ có những trường hợp khó khăn quá mới dám vay với mức lãi suất đó.

Trong khi đó, ở phía ngân hàng, gần đây nguồn vốn trung và dài hạn vẫn là vấn đề nan giải, chủ yếu vẫn là vốn ngắn hạn.

Chính vì vậy, theo GS. Đặng Hùng Võ, khi mà doanh nghiệp bất động sản được cho là “dựa dẫm” quá nhiều vào nguồn vốn ngân hàng thì đây chính là thời điểm thị trường bất động sản thể hiện rõ nhất khuyết tật vốn có của nó.

Tuy nhiên, theo chuyên gia này, trên thực tế áp lực về vốn hiện nay chủ yếu lại tập trung ở giới đầu cơ, khi khảo sát cho thấy, có đến 60% vốn cho thị trường là đến từ lực lượng này, thậm chí tại thị trường Hà Nội lên tới 80%.

Do vậy, khi thị trường khó khăn, dù giá công bố từ chủ đầu tư không giảm nhiều, thì giá chào bán thứ cấp lại giảm mạnh, một vài dự án lên tới 30 - 40%, do giới đầu cơ không “chịu được nhiệt” về áp lực vốn.

Đã thế, các chủ thể trên thị trường đã có một thời gian khá dài không tập trung vào việc hạ giá bất động sản, nên đến thời điểm này, ai cũng bảo vệ quan điểm của mình về giá, trong khi người bán và người mua lại đứng trên hai hệ quy chiếu khác nhau.

Ở góc độ chủ đầu tư, ông Trịnh Văn Quyết, Chủ tịch Hội đồng Quản trị FLC Group cho rằng, việc giá bất động sản ở Việt Nam tăng nhanh những năm gầy đây và đứng ở mức cao so mặt bằng thu nhập của người dân là bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến lãi suất vay, giá nguyên vật liệu, dich vụ xây dựng, thuế, phí… tăng cao.

Bên cạnh đó, tình trạng thiếu minh bạch và không được kiểm soát tốt của thị trường bất động sản khiến tình trạng đầu cơ, thao túng, làm giá nhà đất diễn ra phổ biến. Nhà, đất dự án bị đẩy qua nhiều kênh phân phối, mua bán lòng vòng trước khi đến tay khách hàng có nhu cầu khiến giá cả cũng bị đội lên.

Những lý do đó khiến cho trong bối cảnh hiện nay, một bộ phận không nhỏ người dân vẫn do dự, chưa chịu mở túi tiền của mình mua nhà để ở hay đầu tư, từ đó khiến dòng vốn cho bất động sản bị ảnh hưởng không nhỏ.

Tuy nhiên, với quan điểm của mình, TS. Nguyễn Thị Mùi, nguyên  thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ Quốc gia lại cho rằng, bài toán vốn cho bất động sản hiện nay tuy khó, nhưng không có nghĩa là không giải được.

Theo bà, vốn cho bất động sản hiện nay được xác định đến từ 4 nguồn chính: ngân hàng, trong dân, kiều hối và FDI, trong đó vốn từ ngân hàng và dân được cho là những nguồn chính yếu. Trong khi đó, dù chưa có thống kê chính xác nhưng nhìn chung, phần lớn các doan nghiệp bất động sản có năng lực tài chính thấp.

Do vậy, để giải bài toán vốn, theo bà Mùi, cần phải gỡ được những ách tắc từ chính các ngân hàng và bản thân các doanh nghiệp, chủ đầu tư bất động sản.

Về phía các chủ đầu tư, hơn lúc nào hết phải bắt tay vào xử lý số tài sản, dự án mà mình đang nắm giữ để từ đó xác định “sống hay là chết”, tức là làm sao phải bán được hàng. Muốn vậy chủ đầu tư và khách hàng phải tìm được tiếng nói chung về giá bán, tức doanh nghiệp phải làm sao kích cầu được.

Đặc biệt, theo chuyên gia Nguyễn Thị Mùi, lượng tiền mặt mà dân đang nắm giữ hiện không hề nhỏ, nhu cầu mua nhà của họ cũng chưa phải là giảm đi. Để thị trường lâm cảnh đóng băng như hiện nay, ngoài yếu tố thắt tín dụng, còn có nguyên nhân không nhỏ là người dân vẫn chưa có niềm tin vào một thị trường vốn đã mang lại bao điều tiếng về sự thiếu minh bạch, nhạy cảm và ẩn chứa đầy rủi ro.

Còn với các ngân hàng thương mại, việc hạn chế tín dụng, theo TS. Mùi chỉ là một cách nói trong bối cảnh phải thắt chặt tín dụng phi sản xuất, tập trung cho sản xuất kinh doanh mà thôi. Do đó, cả phía ngân hàng và cơ quan quản lý cần có cái nhìn thân thiện hơn với tín dụng bất động sản, bởi nếu đầu tư vào một dự án tốt, tính thanh khoản cao thì đó vẫn là kênh đầu tư hiệu quả.

Chuyên gia này cho hay, hiện trên thực tế không phải ngân hàng đang quay lưng với bất động sản. Bởi, với những dự án cho vay đang triển khai dở dang, nếu dừng cấp vốn, không chỉ chủ đầu tư “chết” mà chính ngân hàng cũng “chết” luôn, vì chắc chắn không thu hồi được dư nợ.

“Lãnh đạo ngân hàng Vietinbank mới đây cũng đã phải ngồi lại mổ xẻ từng dự án bất động sản để quyết định cho vay dự án nào, không cho vay dự án nào. Tăng đâu, giảm đâu chúng tôi đều phải cân nhắc vì chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm nay chỉ 17% mà thôi”, bà Mùi cho hay.

Tuy nhiên, với tư cách là người đang trực tiếp công tác trong ngành ngân hàng, TS. Nguyễn Thị Mùi đã “bật mí” một lời giải về vốn đáng chú ý, đó là chỉ cần các ngân hàng thương mại tiết giảm chi phí thì lãi suất sẽ giảm ngay.

Bởi lẽ, nếu lãi suất (gửi) của ngân hàng giảm xuống, nhà đầu tư có tiền sẽ phải tính toán, cân nhắc lại kênh đầu tư của mình. Nếu gửi tiền vào ngân hàng, đầu tư chứng khoán… không có lợi nhuận cao, họ sẽ chuyển sang bất động sản. Khi đó, thị trường bất động sản ngay lập tức sẽ phản ứng theo chiều tích cực.

Đối với cơ quan quản lý, TS. Nguyễn Thị Mùi cũng khuyến nghị, nhà nước cần nhanh chóng xây dựng được cơ chế, chính sách cho thị trường, vừa quản lý, giám sát vừa tạo điều kiện cho thị trường hoạt động thuận lợi theo hướng sang lọc, loại bỏ các doanh nghiệp có năng lực yếu kém.

Đặc biệt, các cơ quan quản lý phải đẩy mạnh hơn nữa việc cung cấp thông tin cho người mua. Nếu thông tin trên thị trường bất động sản vẫn ở tình trạng “tù mù” thì lòng tin của người dân không những cải thiện mà sẽ giảm đi.

Cùng với đó, việc quảng bá, giới thiệu dự án của doanh nghiệp cũng cần phải được chính xác, trung thực… thì việc giải bài toán vốn cho bất động sản xem ra cũng không phải quá khó như nhiều người vẫn nghĩ.
  Bình luận (2)
Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết. Đang hiển thị 2/2 bình luận.
  • Tôi xin đề xuất một phương án giải quyết bài toán vốn cho thị trường bất động sản:

    Vấn đề nhà ở là vấn đề của cả xã hội, do vậy cần được giải quyết bằng con đường xã hội hóa thì mới làm được. Xin giới thiệu mô hình "hợp tác xã tiết kiệm nhà ở":

    Ăn, mặc, ở, đi lại, học tập và chữa bệnh đó là nhu cầu thiết yếu của mỗi người dân. Người Việt Nam rất coi trọng chỗ ở, các cụ xưa có câu: “có an cư mới lạc nghiệp”, điều đó khẳng định tầm quan trọng về chỗ ở đối với mỗi con người.

    1. Tình hình thực tế hiện nay:

    Tại các đô thị lớn ở Việt nam, nhu cầu về nhà ở là rất lớn, nhưng với thu nhập ở mức trung bình hoặc khá của người dân hiện nay thì việc có thể mua cho gia đình một căn nhà ở các đô thị quả thật không dễ dàng vì giá bất động sản liên tục biến động theo chiều hướng tăng cao.

    Nguồn tài chính để người dân mua nhà hiện nay phổ biến được thực hiện bằng 2 cách sau:

    Tích lũy dần thu nhập để có đủ tiền mua nhà, nhưng tốc độ tích lũy tiền để mua nhà không theo kịp bất động sản tăng giá. Khi giá căn hộ là 500 triệu đồng thị họ mới chỉ tích lũy được 200 triệu đồng; khi họ tích lũy được 500 triệu đồng thì giá căn hộ đã lên đến 1 tỷ đồng…giá trị đồng tiền họ tích lũy được đã bị thiệt hại do lạm phát, do giá nhà tăng cao. Với hình thức mua nhà này người dân sẽ rất khó mua được nhà và bị thiệt đơn thiệt kép.

    Có tiền tích lũy một phần, phần còn lại phải vay (vay người thân, bạn bè, vay ngân hàng…): Vay người thân, bạn bè thường không phải trả lãi nhưng hay được quy ra USD hoặc vàng. Thực tế thời gian qua những khoản vay này đã trở thành một gánh nặng quá lớn cho người mua nhà do giá vàng, giá USD tăng cao; vay tiền ngân hàng để mua nhà việc vay tiền này thường kèm theo điều kiện phải thế chấp ngôi nhà mua, lãi suất cho vay lên đến trên dưới 20%/năm, đồng thời phải chứng minh được nguồn thu nhập đủ đảm bảo duy trì sinh hoạt của gia đình và có tích lũy đủ để thanh toán nợ gốc và lãi cho ngân hàng theo định kỳ, điều này không phải ai cũng đáp ứng được.

    Trong cuộc sống thường có những biến động không lường trước được như: ốm đau, mất việc… sẽ ảnh hưởng đến việc trả nợ, nếu không trả được nợ thì sẽ bị ngân hàng xiết nợ ngôi nhà thế chấp (sẽ có nguy cơ mất cả số tiền tích lũy trước đã bỏ ra để thực hiện việc mua nhà). Mua nhà theo cách thức này có nhiều rủi ro cho người mua nhà và không phải ai cũng có đủ điều kiện để thực hiện. Do vậy số lượng người mua được nhà là thấp.

    Vấn đề nhà ở hiện nay tại các đô thị lớn ở Việt Nam thật sự đã trở thành một vấn đề xã hội bức xúc cần được giải quyết. Chính quyền, các tổ chức đoàn thể xã hội, các doanh nghiệp và người dân rất quan tâm giải quyết, đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm giúp người dân có nhà ở như thực hiện trương trình tiết kiệm nhà ở, cho vay mua nhà trả dần, thực hiện góp vốn cùng doanh nghiệp để xây nhà…những biện pháp nêu trên cũng đã giúp cho một bộ phận nhỏ người dân có được nhà ở nhưng so với nhu cầu chung về nhà ở tại các thành phố lớn thì còn quá ít.

    Thực tế hiện nay đa số người dân sống tại các đô thị lớn ở Việt Nam gặp khó khăn khi muốn sở hữu một căn nhà để ở, nhất là trong tình hình đồng tiền liên tục bị mất giá, giá bất động sản không ngừng biến động tăng cao thì việc có thể mua được một căn nhà đối với nhiều người chỉ là một giấc mơ khó có thể trở thành hiện thực.

    Vậy có giải pháp nào giúp cho số đông người dân ở các thành phố có thể sở hữu nhà ở sau một thời gian nhất định, giải pháp đó phải hạn chế được những ảnh hưởng bất lợi từ việc đồng tiền bị mất giá, giá bất động sản biến động tăng cao không ngừng. Đây là vấn đề được đặt ra và sẽ được giải quyết bằng giải pháp thành lập và hoạt động các hợp tác xã tiết kiệm nhà ở theo đề án này.

    2. Mục đích thành lập và hoạt động của HTX nhà ở:

    2.1 Mục đích hoạt động của hợp tác xã nhà ở: nhằm giúp các thành viên tham gia hợp tác xã sau một thời gian sẽ sở hữu được một căn hộ để ở, nhằm khắc phục những bất cập của người dân hiện nay khi muốn sở hữu một căn nhà. Hợp tác xã nhà ở sẽ hoạt động không vì mục đích lợi nhuận.

    3. Hoạt động của hợp tác xã nhà ở:

    3.1 Hợp tác xã nhà ở được thành lập và hoạt động theo luật hợp tác xã.

    3.2 Thành viên tham gia hợp tác xã nhà ở (xã viên hợp tác xã): Là người dân có nhu cầu mua căn hộ.

    3.3 Cách thức hoạt động:

    - Thành viên tham gia sẽ nộp tiền nhiều lần cho hợp tác xã, số tiền nộp mỗi lần tùy thuộc vào số tiền mà thành viên có. Số tiền mà thành viên nộp mỗi lần sẽ được quy ngay ra số m2 sàn căn hộ chung cư tiêu chuẩn (SCHCCTC) theo giá thị trường tại thời điểm nộp.

    - Sàn căn hộ chung cư tiêu chuẩn sẽ được phân ra một số loại: căn cứ vào diện tích Căn hộ, chất lượng của căn hộ, vị trí căn hộ (vị trí trên bản đồ và vị trí tầng).

    - Số tiền do các thành viên đóng cho hợp tác xã sẽ được sử dụng ngay vào việc mua căn hộ chung cư tiêu chuẩn (từng thành viên không đủ mua 1 căn hộ, nhưng nhiều thành viên góp vào thì có thể thực hiện được). Ngồn mua căn hộ: có thể là căn hộ đang sử dụng, căn hộ vừa xây xong, căn hộ đang xây dựng, tối thiểu mỗi lần mua từ 1 căn hộ trở lên.

    VD: Ngày 15/02/2011 thành viên A nộp 55 triệu đồng, tại thời điểm này giá sàn căn hộ tiêu chuẩn là 25 triệu đồng/m2. Với số tiền đó quy ra (SCHCCTC) là 2,2 m2; ngày 25/9/2011 thành viên A lại nộp tiếp 330 triệu đồng, giá của (SCHCCTC) lúc này là 30 triệu đồng/m2 với số tiền đó quy ra (SCHCCTC) là 11 m2 tại thời điểm này thành viên A đã có 13,2 m2 (SCHCCTC); ngày 05/6/2012 thành viên A nộp tiếp 1120 triệu đồng giá của (SCHCCTC) lúc này là 28 triệu/m2 với số tiền đó quy ra (SCHCCTC) là 40 m2 tại thời điểm này thành viên A đã có 53,2 m2 (SCHCCTC); ngày 20/8/2013 thành viên A nộp tiếp 640 triệu đồng giá của (SCHCCTC) lúc này là 32 triệu đông/m2 với số tiền đó quy ra (SCHCCTC) là 20 m2 tại thời điểm này thành viên A đã có 73,2 m2 (SCHCCTC). Lúc này hợp tác xã nhà ở có thể bàn giao cho thành viên A một căn hộ có diện tích khoảng trên dưới 70 m2 (SCHCCTC), chênh lệch thừa thiếu sẽ được thanh toán bằng tiền theo giá (SCHCCTC) hiện tại và thành viên A có thể xin ra khỏi hợp tác xã (mục đích đã thực hiện xong).

    Điều lệ của từng HTX sẽ quy định chi tiết các nội dung:

    - Căn cứ vào điều lệ mẫu HTX để xây dựng.

    - Quy định chức năng và hoạt động của HTX.

    - Bộ máy quản lý và chức năng nhiệm vụ bao gồm:

    Ban chủ nhiệm, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm.
    Người đại diện theo pháp luật
    Ban kiểm soát.
    Kế toán.
    Hội đồng mua nhà và bàn giao nhà.

    - Quy định mức góp tiền lần đầu và quá trình góp tiền tiếp theo của xã viên khi tham gia HTX tiết kiệm nhà ở.

    - Quy định cách tính ra SCHCCTC tại thời điểm góp tiền của xã viên.

    - Quy định quan hệ giữa xã viên và HTX.
    - Quy định quan hệ giữa xã viên với xã viên trong HTX.
    - Quy định các loại SCHCCTC.
    - Các quy định khác.

    4. Tài chính của HTX nhà ở:

    - HTX chỉ được phép dùng tiền đóng góp của xã viên để mua căn hộ.

    - Tiền đóng góp của các Xã viên tại một thời điểm nếu chưa đủ để mua được một căn hộ tiêu chuẩn sẽ được gửi vào ngân hàng có kỳ hạn phù hợp, nhằm tạo thu nhập tối đa cho đồng vốn góp. Khi vốn góp đủ để mua từ 1 căn hộ tiêu chuẩn trở lên phải thực hiện mua ngay căn hộ nhằm hạn chế tối đa rủi ro do trượt giá.

    - Những căn hộ đã mua nhưng chưa phải bàn giao cho thành viên sẽ dùng để cho thuê theo giá thị trường (có ưu tiên cho thành viên thuê nhưng vẫn theo giá thị trường).

    - Số tiền cho thuê thu được là nguồn thu nhập chính được dùng để trang trải các chi phí cho hợp tác xã hoạt động. Hàng năm được quyết toán sau khi trừ đi các chi phí thì số tiền còn lại sẽ ưu tiên dùng để mua căn hộ tiêu chuẩn. số sàn m2 căn hộ mua thêm được này sẽ được tinh chia cho các thành viên theo nguyên tắc như chia cổ tức (căn cứ vào số lượng (SCHCCTC) hiện có và thời gian nắm giữ của từng người.

    - HTX tiết kiệm nhà ở sẽ tự cân đối được tài chính, việc chi tiêu của HTX (loại trừ tiền mua căn hộ) chỉ được phép giới hạn trong thu nhập từ cho thuê nhà. Như vậy HTX sẽ không bị lỗ, đảm bảo sự tồn tại và hoạt động của HTX có tính bền vững cao.

    5. Đề xuất xin miễn thuế:

    5.1 Miễn thuế VAT cho HTX khi chuyển nhượng nhà ở từ HTX sang cho xã viên: Khi xã viên góp đủ số diện tích sàn theo nhu cầu của mình sẽ được HTX chuyển giao căn hộ cho xã viên. Đề nghị nhà nước thực hiện miễn thuế khi chuyển dịch sở hữu căn hộ từ HTX sang cho xã viên vì những lý do sau:

    - Đây không phải là hoạt động kinh doanh để kiếm lợi nhuận, việc tham gia HTX của xã viên nhằm mục đích là sau một thời gian góp vốn để có nhà ở.

    - Nên coi việc chuyển nhượng căn hộ từ HTX sang cho xã viên là việc chuyển dịch trong nội bộ HTX.

    - Làm giảm chi phí cho xã viên khi nhận nhà từ HTX, nếu thu thuế VAT của HTX thì tất yếu khoản thuế này sẽ được tính vào chi phí của xã viên khi nhận nhà.

    5.2 Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với HTX:

    - Hoạt động của HTX không vì mục tiêu lợi nhuận.

    - Nếu HTX có thu nhập lớn hơn chi phí thì số tiền chênh lệch này sẽ được bổ sung vào vốn để mua thêm SCHCCTC và được tính cho xã viên, tạo điều kiện giúp cho xã viên giảm bớt chi phí và rút ngắn thời gian được sở hữu nhà.

    6. Lợi ích về mặt xã hội:

    -Tạo ra một công cụ tiết kiệm mới, giúp người dân có ý thức tiết kiệm để có thể sở hữu một căn nhà. Giúp bảo toàn được giá trị đồng vốn của người dân dành giụm để mua nhà.

    - Tạo điều kiện cho hàng triệu người có thể sở hữu nhà ở. Sẽ làm thay đổi điều kiện sống tốt hơn cho một bộ phận không nhỏ dân số ở các thành phố.

    - Hạn chế được những hành vi vi phạm pháp luật (nhất là trong lĩnh vực kinh tế) các cụ xưa có câu: “túng thì phải làm liều”, một khi các bức xúc về nhà ở đã có hướng để giải quyết, người dân có điều kiện để sở hữu nhà, họ nhìn thấy cái đích để có thể sở hữu được một căn nhà thì sẽ giảm bớt các bức xúc của xã hội.

    - Tăng quỹ nhà ở trong toàn xã hội một cách vững chắc từ nguồn lực tài chính thực chất của người dân, cơ hội để người có nhu cầu thuê nhà được dễ dàng hơn và với chi phí hợp lý hơn.

    - Doanh nghiệp bất động sản tạo ra sản phẩm là nhà ở, có điều kiện để phát triển bền vững vì dựa trên nhu cầu thực có khả năng thanh toán của người dân. Hiện nay đầu ra cho thị trường nhà ở bị đầu cơ thao túng nhiều dẫn đến các cơn sốt nóng, sốt lạnh thất thường gây bất ổn xã hội. Nếu đề án HTX tiết kiệm nhà ở được triển khai sâu rộng trong xã hội thì nguồn vốn xây dựng nhà ở sẽ dồi dào và vững chắc hơn, có thể nói hình thức này sẽ xã hội hóa được vốn xây dựng nhà ở (đại bộ phận người dân có nhu cầu về nhà ở có thể tham gia được).

    - Giúp định hướng cho người dân ở các thành phố sống trong các chung cư cao tầng, tăng quỹ đất để phát triển cơ sở hạ tầng trong các đô thị. Sẽ góp phần làm thay đổi bộ mặt kiến trúc để các thành phổ trở nên hiện đại hơn.

    09:00 (GMT+7) - Thứ Ba, 3/4/2012 Trả lời Thích
  • Sẽ phải có ngân hàng chết, và doanh nghiệp bất động sản chết. Hoặc tất cả các ngân hàng đầu tư quá nhiều tiền vào bds bây giờ không thu hối được thì phải bị cách ly.

    Còn tiếp tục bơm vốn vào, các ngành nghề kinh doanh khác lại thiếu vốn. Lại lạm phát.

    Tiếp tục "bao cấp" các doanh nghiệp bds và ngân hàng đã làm liều và cẩu thả trong thời gian qua thì dân tiếp tục "chết" vì lạm phát.

    Chính phủ buộc phải lựa chọn một trong hai options: một là để thị trường "giết bớt" các doanh nghiệp bds và ngân hàng làm ăn vô trách nhiệm cẩu thả trong thời gian qua để "cứu" dân; hai là, tiếp tục "hi sinh quyền lợi dân chúng" để bao bọc các doanh nghiệp nói trên.

    17:24 (GMT+7) - Thứ Bảy, 31/3/2012 Trả lời Thích 1 người thích bình luận này
Bình luận của bạn
Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu.
Gõ Telex Gõ VNI
Chọn hình đại diện cho bình luận của bạn?