VnEconomy > Thời sự 10:52 (GMT+7) - Thứ Sáu, 3/1/2014

Góc nhìn của tôi: Lạm phát năm 2014 có đáng lo ngại?

Nhiều chuyên gia, lãnh đạo doanh nghiệp dự báo CPI năm 2014 sẽ nằm trong mục tiêu đề ra...

Góc nhìn của tôi: Lạm phát năm 2014 có đáng lo ngại?

VnEconomy tiếp tục giới thiệu phần dự báo CPI năm 2014 của 15 người, trong đó có 10 chuyên gia và 5 đại diện doanh nghiệp.

Năm 2013, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 6,04%, đánh dấu mức tăng thấp nhất trong vòng 10 năm trở lại đây.

Theo đánh giá của TS. Cao Sỹ Kiêm, mục tiêu đề ra cho năm 2014 lạm phát khoảng 7%, dù năm 2013 chỉ 6,04%, gần như là một thông điệp “ngầm” cho thấy chấp nhận nới chỉ tiêu lạm phát để kích thích tăng trưởng.

Để có thêm góc nhìn đa chiều, chuyên mục “Góc nhìn của tôi” kỳ này, VnEconomy tiếp tục giới thiệu phần dự báo CPI năm 2014 của 15 người, trong đó có 10 chuyên gia và 5 đại diện doanh nghiệp.

Góc nhìn của tôi: Lạm phát năm 2014 có đáng lo ngại? 1

Khoảng cách dự báo… khá xa

Kết quả cuộc khảo sát cho thấy, 8 chuyên gia, đại diện doanh nghiệp (TS.Vũ Đình Ánh, TS. Lê Đăng Doanh, TS. Nguyễn Trí Hiếu, TS. Cao Sỹ Kiêm, TS. Lê Xuân Nghĩa, ông Đỗ Minh Phú, TS. Vũ Nhữ Thăng, ông Lê Phước Vũ) tin rằng, CPI năm 2014 sẽ tăng khoảng 7%.

Thậm chí, TS.Lê Anh Tuấn, Giám đốc Nghiên cứu của quỹ Dragon Capital còn dự báo CPI năm nay chỉ tăng khoảng 6,4%.

Việc có 9 chuyên gia, đại diện doanh nghiệp (chiếm 60%) đưa ra kết quả trên cho thấy niềm tin của đa số người tham gia cuộc khảo sát tin rằng lạm phát sẽ trong vòng kiểm soát như mục tiêu.

Tuy vậy, 6 chuyên gia, lãnh đạo doanh nghiệp dự báo CPI có thể tăng từ 7% trở lên đến 9% cho thấy quan điểm quan ngại về lạm phát năm nay cũng không nhỏ.

TS. Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện nghiên cứu kinh tế Trung ương và TS. Nguyễn Đức Thành, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) có cùng chung dự báo về CPI năm nay khi cho rằng nó sẽ rơi vào khoảng 7-8%.

Trong khi đó, chuyên gia tài chính - ngân hàng Quách Mạnh Hào và ba đại diện phía doanh nghiệp (ông Nguyễn Thành Long - Chủ tịch Bảo hiểm Bảo Long, ông Văn Đức Mười - Tổng giám đốc Vissan, và ông Mai Hữu Tín - Chủ tịch Hội doanh nghiệp trẻ Việt Nam) lại có góc nhìn thận trọng hơn cả khi dự báo CPI năm nay có thể lên tới 8-9%.

Nhìn lại cả phần dự báo GDP, thì đa số chuyên gia lạc quan tăng trưởng GDP có thể đạt mục tiêu 5,8%, trong khi lạm phát chỉ khoảng 7%. Trong khi đó, đại diện doanh nghiệp tham gia khảo sát đa số thận trọng dự báo mức tăng GDP (khoảng 5,5%), nhưng lại quan ngại lạm phát có thể vượt qua mục tiêu 7%.

CPI năm 2014 có đáng ngại?


Nhìn nhận về con số dự báo có phần “lạc quan” nhất, 6,4%, trao đổi với VnEconomy, TS. Lê Anh Tuấn, Giám đốc Nghiên cứu của quỹ Dragon Capital, cho rằng CPI năm 2013 tăng 6,04% chủ yếu do nhân tố tăng giá y tế và giáo dục. Nếu không có mức tăng mạnh của hai nhóm này thì CPI cả nước năm 2013 khoảng 4%.

Trong khi đó, hai nhóm y tế và giáo dục, theo ông Tuấn, năm 2014 có tăng cũng chỉ bằng 1/3 năm 2013. Do đó, ông dự báo CPI năm 2014 khoảng 6,4%.

“Mức dự báo CPI năm 2014 khoảng 6,4% này đặt trong bối cảnh giá lương thực, thực phẩm tăng tăng cao hơn 2013”, TS. Lê Anh Tuấn nhìn nhận.

Ông Tuấn cũng cho rằng, nếu tín dụng tăng 12-14% thì không thể tạo áp lực lên lạm phát được, vì nó cũng là con số gần tương đương với con số tăng trưởng GDP danh nghĩa trong 2014. Thêm vào đó, việc kinh tế tăng trưởng yếu, dưới mức tiềm năng thì bơm thêm tiền như vậy không thể tạo áp lực mạnh lên lạm phát.

“Lạm phát ở Việt Nam biến động rất mạnh, nhiều khi chỉ phụ thuộc một vài mặt hàng lương thực - thực phẩm. Ví dụ năm 2011, giá thịt heo tăng 100% thì đã tác động không nhỏ đến lạm phát. Do đó, nếu những yếu tố này được điều hành một cách nhịp nhàng thì rủi ro về lạm phát là khá thấp. Do đó, công tác điều hành nên tập trung vào một vài nhân tố nêu trên”, TS.Lê Anh Tuấn nhấn mạnh.

Trong khi đó, trao đổi với VnEconomy, TS. Vũ Đình Ánh cho rằng, mục tiêu lạm phát năm 2014 dưới 7% có nhiều khả năng thực hiện được, không đáng lo ngại nếu có lo ngại thì là lạm phát năm 2015.

“Yếu tố có thể gây đột biến CPI năm 2014 là giá quốc tế, đặc biệt là giá xăng dầu và sự lên giá của USD sau khi Mỹ bỏ chính sách nới lỏng định lượng (QE)”, TS.Vũ Đình Ánh nói.

Theo TS. Lê Anh Tuấn, trận địa lạm phát là xương sống cho các chính sách khác, do đó cần tập trung nguồn lực để điều hành và tránh trường hợp thấy lạm cao, có khi nguyên nhân là do một số mặt hàng lương thực-thực phẩm tăng cao, thì lại quay ngay sang nhìn nhận nguyên nhân cung tiền, và siết tín dụng. Khi đó sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng của nền kinh tế.
  Bình luận (3)
Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết. Đang hiển thị 3/3 bình luận.
  • Trị số lạm phát cao sẽ làm giảm hiệu quả của các khoản đầu tư dài hạn. Các khoản đầu tư dài hạn chính là yếu tố đề cao tính cạnh tranh của sản phẩm của 1 quốc gia.

    Ví dụ, đối với công nghiệp xe hơi. Người ta phải đầu tư nghiên cứu ra cái xe dùng ít nhiên liệu hơn, tiện nghi hơn, dễ bảo trì sửa chữa hơn mà giá xe vẫn không thay đổi đáng kể. Tưởng tượng, trị số lạm phát bình quân 5 năm là 5% thì cái xe mới nghiên cứu ra mất thời gian 5 năm chưa gì đã lỗ 30% (cộng dồn 5 năm lạm phát).

    Vậy, phải sản xuất và bán bao nhiêu xe mới hòa vốn ? Trong quá trình đó, đối thủ cạnh tranh cũng đưa ra 1 loại xe tương tự nhưng lạm phát ở nước họ thấp hơn nước ta, họ có thể giảm giá bán để cạnh tranh trong khi ta không thể giảm giá.

    Lạm phát thấp làm cho lợi nhuận thấp. Vâng, nhưng ngày nay người ta không hưởng thụ lợi nhuận thông qua lạm phát mà thông qua... chất xám. Chỉ cần thay đổi 1 chi tiết nhỏ trong động cơ và làm cho mức tiêu hao nhiên liệu giảm đi 1 lít trên 100 km. Vậy xe cũ có mức tiêu thụ nhiên liệu cao hơn bắt buộc phải giảm giá mới bán được.

    Chúng ta bằng lòng với chỉ số lạm phát "1 con số" mà không quan tâm chỉ số lạm phát của các quốc gia cạnh tranh khác thì có khác gì tự làm yếu chính mình. Theo đó, chúng ta phải bán 10 sản phẩm mới thu được 1 khoản lợi nhuận bằng người ta chỉ bán 9 sản phẩm. Cho rằng sản phẩm do chúng ta làm ra xét về kỹ thuật tương đương với sản phẩm của họ.

    Kết luận, không nên bằng lòng với chỉ số lạm phát "thấp" hiện có. Nên kéo chỉ số lạm phát xuống thấp bằng hoặc thấp hơn các quốc gia trong khu vực đồng thời cố gắng duy trì chỉ số đó không đổi trong thời gian ít nhất là 20 năm. Lạm phát thấp thì mọi khoản đầu tư hoặc tiết kiệm dài hạn mới có tính khả thi, người dân sẽ không còn chọn vàng hay ngoại tệ làm dự trữ nữa.

    Tất cả các quốc gia công nghiệp trên TG đều có chỉ số lạm phát rất thấp, được duy trì lâu dài và mức độ biến thiên qua từng năm không vượt quá 1%. Lạm phát thấp không kích thích tăng trưởng nhưng triệt để hạn chế lãng phí. 2 điều phải chọn 1. Tăng trưởng cao hay lãng phí thấp, cái nào tốt hơn? Bỏ ra 3 đồng đầu tư để thu về 1 đồng và bỏ ra 10 đồng đầu tư cững chỉ để thu về 1 đồng (chênh lệch 7 đồng chính là khoảng cách tăng trưởng đồng thời cũng là lãng phí), cái nào tốt?

    Cho nên, những quốc gia giàu có kia họ lúc nào cũng có sẵn 7 đồng để cho vay trong khi chúng ta tích lũy ra 1 đồng để đầu tư cũng rất khó khăn (lạm phát cao, tiền không đem đầu tư ngay hoặc mua vàng để dự trữ sẽ nhanh chóng mất giá).

    Theo suy nghĩ của tôi, nếu chúng ta có kế hoạch 20 hoặc 40 năm sau VN trở thành 1 quốc gia công nghiệp hóa thì chúng ta nên lựa chọn tăng trưởng cao và duy trì lạm phát thấp hơn tăng trưởng 1 đến 2 % (quãng chênh lệch 1 - 2% này chính là dùng để trả nợ nước ngoài).

    Nếu chúng ta không có kế hoạch đó thì chúng ta nên ưu tiên duy trì lạm phát thấp dưới mức 3%/năm và lấy mức thu nhập trung bình của TG làm mục tiêu phát triển. Phần lớn quốc gia trên TG lựa chọn buông tha công nghiệp hóa và theo đuổi mức thu nhập trung bình của TG.

    Vì sao? Vì nếu kế hoạch công nghiệp hóa không đạt được thì đó là 1 sự lãng phí rất lớn mà 100 năm sau chưa chắc phục hồi được như cũ (lo trả nợ ngập đầu chưa xong lấy đâu mà phát triển).

    Kế hoạch công nghiệp hóa gắn liền với khả năng khống chế lạm phát. TQ khống chế lạm phát bằng cách duy trì dự trữ ngoại hối cao. Các quốc gia tư bản khống chế lạm phát thông qua thị trường chứng khoán (duy trì tổng mức đầu tư trong nước cao).

    Nói cách khác, tiền tiết kiệm phải có chỗ để chảy vào và đảm bảo không bị mất giá. Xét điều kiện TQ ta có thể thấy, thay vì người dân mua vàng/ngoại tệ để dự trữ thì Nhà nước mua và dự trữ thay dân. Xét điều kiện các quốc gia tư bản khác, thay vì người dân gửi tiền tiết kiệm ở ngân hàng thì Nhà nước trực tiếp tạo điều kiện cho họ trở thành nhà đầu tư cũng như đảm bảo an toàn cho các khoản đầu tư của họ.

    Ở cả 2 diều kiện này, VN chúng ta hoàn toàn thả nổi, chính vì thế lạm phát ở VN không thể khống chế được, tức là, chúng ta phải mời các chuyên gia kinh tế ra làm "thầy bói" dự đoán xem lạm phát năm nay SẼ xảy ra ở mức bao nhiêu % rồi dùng chỉ số lạm phát "đoán mò" này làm cơ sở dữ liệu cho kế hoạch phát triển kinh tế những năm tiếp theo.

    Nói trắng ra là chúng ta không có biện pháp khống chế lạm phát chủ động, hoàn toàn trong tình trạng "há miệng chờ sung".

    17:59 (GMT+7) - Thứ Hai, 6/1/2014 Trả lời Thích 11 người thích bình luận này
  • Khi mình dự đoán cái thang nhiệt kế của nền kinh tế. Chẳng hạn như Việt Nam hay dựa vào "Chỉ số giá tiêu dùng" hay "Consumer Price Index-CPI" , ngoài ra CPI được dùng để tính chỉ số lạm phát theo thời kỳ theo kinh nghiệm của Việt Nam. Trên thực tế người ta có thể xác định quyền số trong tính toán chỉ số giá tiêu dùng bằng cách điều tra để tính toán tỷ trọng chi tiêu của từng nhóm hàng hoá, dịch vụ so với tổng giá trị chi tiêu của nước đó.

    Hoặc một số đánh giá khác rất quan trọng đó là chỉ số PMI (Purchasing Managers Index), tức là "Chỉ số Mua hàng Chế biến" là loại dữ kiện kinh tế có tính chất tiên báo hơn là hậu kiểm. Nôm na là chỉ số này đo lường mức độ tin tưởng của giới sản xuất. Trên thế giới chỉ có hai doanh nghiệp của Anh là Ngân hàng Hong Kong Shanghai Bank (HSBC), và công ty tư vấn Markit Group là có trọng lượng uy tín, chuyên định kỳ khảo sát giới quản trị doanh nghiệp chế biến của một nước xem họ đặt hàng những gì, dự tính kinh doanh và việc làm ra sao, để đo lường triển vọng sản xuất sắp tới..v..v...

    Mỹ, Trung Quốc, và các nước khác trên thế giới có tỷ lệ lạm phát thấp thì chủ yếu dựa vào chỉ số PMI này để đo lường cái thang nhiệt kế của kinh tế. PMI này mà cho con số dưới 50 thì đấy là chỉ dấu sa sút của lĩnh vực chế biến. Nôm na là chỉ số này đo lường mức độ tin tưởng của giới sản xuất này mà kém thì phải điều chỉnh lại mức tăng trưởng GDP.

    Tuy nhiên, để có mức tăng trưởng bền vững về sau thì Việt Nam nên có một số chiến lược gia kinh tế chuyên nghiên cứu về kinh tế Trung Quốc hơn là cư chú tâm nghiên cứu dựa vào các tiên đoán vào chỉ số giá tiêu dùng CPI này, cũng như dựa vào tiên đoán của nền kinh tế Mỹ suy ra tác động đến Việt Nam là thiếu cơ sở. Vì Việt Nam trong nhiều năm phát triển kinh tế lại là nạn nhân tổn thất nặng nhất trong giao dịch bán buôn với Trung Quốc vì bán buôn tích cóp thu vét từng đồng USD thặng dư được rổ ngoại tệ từ các nước EU-Mỹ-Nhật thì lại đem ngoại tệ đó nhập siêu cúng hết cho Trung Quốc, việc này Việt Nam cần phải cải cách để tái cân bằng lại.

    Ở đây, một chi tiết đáng chú ý khác khi kinh tế Trung Quốc hết đà tăng trưởng binh quân 10% và sẽ "hạ cánh trung bình" (medium landing), tức là tăng trưởng Trung Quốc giảm manh hơn, chỉ đạt dưới 7%. Hoặc "hạ cánh năng nề" (hard landing), tức GDP của Trung Quốc chỉ đạt mức tăng trưởng cỡ 5,5% trở xuống. Đều đó nghĩa là Bắc Kinh sẽ từng bước nâng giá đồng Nhân dân tệ (CNY) của họ. Đồng CNY phải được tăng giá là khuynh hướng không thể đảo ngược. Riêng đối với Việt Nam, phải tìm ra bài toán đâu là những tác động nếu đồng CNY tăng giá và phải ứng phó ra sao?

    Lý do là trong lĩnh vực đầu tư Trung Quốc cũng là một trong những đối tác hàng đầu của Việt Nam. Khi đồng nhân dân tệ tăng giá, thì khả năng đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc sẽ còn lớn hơn so với hiện nay, và Việt Nam sẽ là một trong những thị trường nằm trong chiến lược phát triển đó của Trung Quốc.

    Riêng trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Khi CNY tăng giá, thì hàng xuất khẩu của Trung Quốc sẽ trở nên đắt hơn, và làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa Trung Quốc. Đây sẽ là một cơ hội đối với ngành xuất khẩu của Việt Nam để thâm nhập vào thị trường Trung Quốc đặc biệt là nếu các khoản trao đổi đó được thanh toán bằng đồng USD. Qua đó Việt Nam có thể hy vọng giảm bớt thâm hụt mậu dịch đối với bạn hàng Trung Quốc.

    Một yếu tố khác khiến Việt Nam cần suy nghĩ đó là với một đơn vị tiền tệ CNY của Trung Quốc tăng giá, trong tương lai xa, bộ máy sản xuất công nghiệp của Trung Quốc sẽ được nâng cao về mặt chất lượng, giá thành của Trung Quốc cao hơn so với các nước chậm phát triển khác như là Việt Nam chẳng hạn, như vậy Trung Quốc sẽ từng bước cải tổ để đưa ngành công nghiệp của họ hướng đến với những sản phẩm có trị giá gia tăng cao hơn.

    Cụ thể là ta cần nhớ rằng trước khi Trung Quốc nâng giá đồng CNY vào năm 2005, ngành dệt may mang về từ 70 đến 75% thặng dư mậu dịch cho Trung Quốc. Sau việc cải tổ tiền tệ bằng cách nâng giá đồng CNY, tỷ trọng này đã giảm đi rất mạnh, đồng thời Trung Quốc đã đẩy mạnh khu vực sản xuất trang thiết bị và điện tử để trở thành một trong những nhà cung cấp chế xuất các thiết bị điện tử, linh kiện máy vi tính, màn ảnh tivi, hay xe hơi..v..v…là công xưởng lắp ráp then chốt của thế giới.

    Nói gọn lại, việc Trung Quốc buộc phải nâng giá đồng CNY không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến cán cân thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc, đến tổng kim ngạch đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam mà về lâu dài nó còn tác động cả đến chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam đang vạch ra như lĩnh vực điện tử, tin học..v..v...mà các công ty ngoại quốc di dời công xưởng từ Trung Quốc sang Việt Nam, cụ thể như Intel hay Samsung..v.v... đang nói đến chuyện bạc tỷ USD trút vào Việt Nam, và đào tạo một thế hệ mới có khả năng rất cao về công nghệ điện tử tin học..v..v...

    Cho nên, một khi Trung Quốc cân bằng lại chính sách phát triển của họ, tức là vừa chú trọng hơn đến tiêu thụ nội địa, vừa nâng cấp cỗ máy sản xuất ra các mặt hàng hết rẻ tiền của họ để cạnh tranh các mặt hàng cao cấp của Việt Nam. Đấy mới là điều đáng ngại mà Việt Nam cần chú ý ông hàng xóm khổng lồ Trung Quốc bên cạnh luôn ngáng chân Việt Nam.

    12:44 (GMT+7) - Thứ Bảy, 4/1/2014 Trả lời Thích 5 người thích bình luận này
  • Về đề tài thời sự đang diễn ra khi các chuyên gia kinh tế Việt Nam bàn về tăng trưởng GDP của Việt Nam về chủ đề "Góc nhìn của tôi: Tín hiệu nới lỏng để “thúc” tăng trưởng?", và "Góc nhìn của tôi: Lạm phát năm 2014 có đáng lo ngại?". Hội đủ các chuyên gia kinh tế đầu ngành của Việt Nam, do nhà báo Duy Cường chủ bút, không chỉ riêng tôi có theo dõi, mà còn có sự chú ý cả một số chuyên gia kinh tế nước ngoài..v..v... Khi nhìn bảng thống kê tăng trưởng GDP của Việt Nam cho năm 2014 có người thì đưa ra con số 5,5%, 5,8%, rồi người khác đưa ra con số 6.0%..v..v... mà chả đưa ra giải thích lý do rõ ràng nào cả thiếu sự thuyết phục.

    Cụ thể mình phải giải thích về bối cảnh tác động bên ngoài. Chẳng hạn là vì lãi suất quá rẻ tại Mỹ-EU-Nhật sau gần 6 năm bơm tiền kích thích kinh tế, Khi ấy, hàng loạt biện pháp kích thích của Âu-Mỹ-Nhật như hạ lãi suất, tăng chi và bơm tiền khiến đồng bạc mất giá, khiến dòng tư bản tài chính "chảy về Đông", tức là từ khối Tây phương tiền chảy qua các nước đang phát triển. Trong số này có bốn nước gọi tắt là B.R.I.C - Brazil ở Nam Mỹ, Liên bang Nga, cùng Ấn Độ và Trung Quốc. Và có cả các nước Đông Nam Á mà Việt Nam nằm trong số đó.

    Khi Ngân hàng Trung ương Mỹ bắn tiếng thông báo là tới lúc trong năm 2014 này sẽ điều chỉnh lại chính sách bơm tiền ào ạt với lưu lượng là mỗi tháng 85 tỷ USD. Dự tính ấy khiến phân lời trái phiếu tại Mỹ bắt đầu tăng và dẫn tới hậu quả bất ngờ là dòng tư bản lại từ các nước đang phát triển chảy ngược về Mỹ và Âu Châu, là nơi có lời hơn, khiến hối suất đồng bạc các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam đều sẽ bị sụt giá chứ không phải hô hào "điều chỉnh tỷ giá".

    Khi kinh tế sa sút tăng trưởng thấp và đồng nội tệ các nước luôn ở thế bị mất giá hay phá giá, thì chẳng quốc gia nào dám liều lĩnh nâng lãi suất để giữ chân giới đầu tư, vì lãi suất cao lại cản trở sản xuất. Hoặc nếu bị lạm phát cao như trường hợp của Việt Nam, thì chẳng ai dám phá giá đồng bạc để kích thích kinh tế hay đẩy mạnh xuất cảng. Nôm na là quốc gia nào mà có nhược điểm riêng như con bệnh đang yếu sẵn như hay bị nhập siêu và khiếm hụt cán cân vãng lai..v..v...thì cơn chấn động này có thể là dịch bệnh nguy ngập thì khó mà có đà tăng trưởng GDP cao được.

    Thứ nữa, khi Việt Nam có cơ hội gọi là "cất cánh" như vậy sau nhiều năm, thì phải nhìn vào phẩm chất của tăng trưởng và tạo điều kiện phát triển vững bền hơn, qua việc cải tổ cơ chế lạc hậu cũ. Không riêng gì Việt Nam mà đa số các nước đang phát triển đi sau lại luôn lạc quan tếu cứ tưởng đà tăng trưởng này sẽ kéo dài mãi, cho nên, dù mức sống người dân các quốc gia đó có cải thiện so với ngày trước, ở Việt Nam vẫn chưa vươn lên trình độ gọi là có lợi tức cao, như các nước tiên tiến khác. Việt Nam đang rơi vào cái bẫy của lợi tức trung bình, chỉ là quốc gia trung bình và nếu không rút tỉa bài học thì Việt Nam sẽ ở lại "cái bẫy của lợi tức trung bình" đó khá lâu.

    Vì cần nhớ rằng, kinh tế Việt Nam đã hết đà tăng trưởng trung bình trên 7%, nếu tăng trưởng cỡ 5,2% là mừng lắm rồi. Lý do có thể giải thích như sau. Hầu hết các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam đều nhận được những ưu đãi vốn vay tín dụng đi từ các tổ chức quốc tế như WB, IMF, ADB..v..v... và các chính phủ nước ngoài tài trợ như Nhật, Mỹ, Hàn Quốc, EU..v..v...hoặc cấp viện với vốn vay trả lãi thấp hơn lãi thị trường, hoặc không hoàn trả lại, hoặc nếu có trả vốn lẫn lời thì thời gian trả rất lâu có thể 20 năm, 40 năm hoặc lâu hơn nữa, những dòng vốn này chủ yếu xây dựng cơ sở hạ tầng như đường xá, cầu cống, cảng biển, hoặc giáo dục, y tế..v..v... mà Việt Nam còn được hưởng nhiều ưu đãi trong bán buôn với quốc tế nên tạo khá nhiều việc làm và tiêu thụ khá nhiều các sản phẩm phục vụ cho các dự án đầu tư hạ tầng cơ sở, như sắt thép, xi măng, các vật dụng trang trí, các thương phẩm khác..v..v... Do đó, trong những năm trước đây lẽ đương nhiên phải có sức tăng trưởng GDP cao như đã thấy là điều tất nhiên. Bây giờ Việt Nam hết được nhận những ưu đó mà còn lăm le bước vào "cái bẫy của lợi tức trung bình" thì đương nhiên sẽ hết đà tăng trưởng cao trên 7% nữa vì hết nhận được ưu đãi vốn vay tài trợ của quốc tế.

    Về vấn đề CPI của Việt Nam được dự báo bi quan nhất là cỡ 8-9%, theo tôi nếu mà vượt qua 2 con số tôi e rằng các công ty thẩm định tài chính như Standard and Poor's, Moody's và Fitch sẽ xuống cấp trái phiếu chính phủ của Việt Nam thêm một cấp nữa. Cụ thể Standard and Poor's xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam hiện nay ở nấc thang điểm BB (dấu trừ, ổn định), Moody's chấm điểm B2 (ổn định), Fitch chấm điểm B (dấu cộng, ổn định). Và như vậy nếu lạm phát gia tăng thì trái phiếu chính phủ Việt Nam sẽ có thể tuột khỏi loại khí cụ đầu tư đáng tin cậy thì càng khó nới trần nợ công để đi vay tiền trên thị trường tài chính quốc tế, mà nếu có đi vay được thì phải trả lãi phân lời hay "yield" rất đắt. Cho nên Việt Nam phải hết sức thận trọng chặn đà lạm phát dưới 2 con số, và phải chấp nhận tăng trưởng GDP thấp hơn một chút rồi điều chỉnh cho hợp lý tránh trường hợp gia tăng nợ công để đầu tư và xuất khẩu bằng mọi giá sẽ thổi lên bong bóng đầu tư là điều không ai muốn thấy cả.

    Sau cùng nếu kinh tế Việt Nam bị sa sút thì điều ấy có nghĩa là lương bổng bị sụt giảm và đồng bạc VND sẽ mất giá, thì cũng không nên bi quan, nếu Việt Nam biết tích cực khai thác điều bất lợi này như một ưu thế cạnh tranh về sau thì phải ưu tiên trước nhất là chấn chỉnh lại cơ chế tài chính và sản xuất và chuẩn bị đầu máy sản xuất cho phục hồi là các doanh nghiệp. Nói gọn lại là khi phải chịu lùi GDP tăng trưởng thì nên nghĩ đến bước tiến và nếu bị sức ép thì nên chuẩn bị sức bật cho đúng phương hướng để có đà tăng trưởng bền vững về dài cho thế hệ sau không bị không bị trói buộc quá nặng về gánh nợ nần.

    00:14 (GMT+7) - Thứ Bảy, 4/1/2014 Trả lời Thích 5 người thích bình luận này
Bình luận của bạn
Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu.
Gõ Telex Gõ VNI
Chọn hình đại diện cho bình luận của bạn?