Thời tiết nắng nóng khiến chúng ta thường gặp những "trục trặc" về sức khỏe. Các ca đột quỵ, huyết áp, tim mạch, tiêu hóa, hô hấp và các bệnh mạn tính gia tăng. Có một cách làm tiê

Thời tiết nắng nóng khiến chúng ta thường gặp những "trục trặc" về sức khỏe. Các ca đột quỵ, huyết áp, tim mạch, tiêu hóa, hô hấp và các bệnh mạn tính gia tăng. Có một cách làm tiêu tan mệt mỏi vào mỗi lúc cuối ngày khá hiệu quả mà không phải ai cũng biết, đó là dùng trà dược.

Gọi là trà bởi vì cách sử dụng của nó cũng tương tự như pha trà uống thường ngày, chứ không nhất thiết trong thành phần phải có trà thực thụ. Người ta thường căn cứ vào tính chất công việc, thời tiết và thể chất của người dùng để lựa chọn loại trà dược cho phù hợp nhằm thu được hiệu quả cao nhất.

Ngày nóng uống trà dược chống mệt - Ảnh 1.
Có lẽ chưa bao giờ trên thị trường dược phẩm cổ truyền ở ta, các loại trà dược lại phong phú như bây giờ. Trà dược có thể hiểu một cách đơn giản theo hai nghĩa: nghĩa hẹp, là chỉ một loại chế phẩm dùng trà hoặc lấy trà làm chủ phối hợp với các vị thuốc khác nhằm mục đích phòng chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khỏe con người. Theo nghĩa rộng, là chỉ một dạng thực - dược phẩm bao gồm một hay nhiều loại dược liệu hoặc thực phẩm được chế biến và sử dụng giống như trà uống hằng ngày trong dân gian, nhưng kỳ thực không hề có chút lá trà nào trong thành phần, người ta gọi là "dĩ dược đại trà" (lấy thuốc thay trà).

Ngày nóng uống trà dược chống mệt - Ảnh 2.
Như vậy, trà dược là một dạng thuốc thang đặc biệt được sử dụng dưới dạng nước hãm (xung tễ) hoặc nước ngâm (bào tễ). Nhưng, hiện nay nhờ công nghệ phát triển người ta còn bào chế trà dược hòa tan bằng cách đưa dung dịch trà thuốc đã được xử lý theo quy trình pha chế thích hợp vào máy sấy phun sương để làm khô thành dạng bột trà dược dễ sử dụng và bảo quản. 

Tùy theo sự lựa chọn, bào chế, phối ngũ, liều dùng, cách dùng các vị thuốc khác nhau mà tạo nên các tác dụng riêng biệt góp phần tạo ra nét đặc trưng của từng loại trà dược. Nhưng tựu trung lại, theo quan niệm của y học cổ truyền, cũng không ngoài hai phương diện chính là "bổ" và "tả", hay gọi tắt là "trà bổ" và "trà bệnh".

"Trà bổ" có công năng bồi bổ chính khí, nâng cao sức đề kháng của cơ thể, tùy theo khí huyết âm dương, tạng phủ hư yếu ít nhiều mà bù đắp cho phù hợp. "Trà bệnh" có công năng loại bỏ các nguyên nhân gây bệnh, điều hòa chức năng của các tạng phủ, giải quyết các rối loạn bệnh lý nhằm phục hồi chức năng sinh lý của các tổ chức, cơ quan trong cơ thể.

Ngày nóng uống trà dược chống mệt - Ảnh 3.
Ngoài một số loại có "thâm niên" khá dài như trà nhân trần, trà actiso, trà khổ qua, trà thanh nhiệt lương huyết... trên thị trường đã xuất hiện thêm khá nhiều những "chú lính mới" do các cơ sở sản xuất trong nước tung ra như trà nhân sâm tam thất, trà dưỡng lão, trà thanh nhiệt tiêu thực, trà linh chi, trà giảo cổ lam, trà trinh nữ hoàng cung, trà hạ áp, trà kỷ tử... với mẫu mã khá đẹp và hấp dẫn. Đó là chưa kể đến các loại trà nhập ngoại, chủ yếu là từ Trung Quốc và Nhật Bản, như trà nhân sâm các loại, trà linh chi, trà bạch cúc, trà ích thọ, trà bản lam căn, trà tam diệp...

Ngày nóng uống trà dược chống mệt - Ảnh 4.
Theo các chuyên gia, để trà dược phát huy hiệu quả cao nhất, khi sử dụng cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản:

- Phải điều độ, không thái quá, không bất cập. 

- Phải tùy theo thể chất, tuổi tác, bệnh trạng... mà phân biệt âm dương, biểu lý, hàn nhiệt, hư thực rồi trên cơ sở đó chỉ định lựa chọn, bào chế và sử dụng cho phù hợp.

- Dược thiện kết hợp, trà dược vừa là đồ uống (thực phẩm) nhưng lại vừa là thuốc (dược phẩm), cho nên khi dùng phải chú ý kết hợp chặt chẽ và hợp lý tùy theo tính chất và giai đoạn của bệnh tật.

- Tam nhân chế nghi, nghĩa là phải tùy người, tùy theo điều kiện địa lý và môi trường sống và tùy theo mùa, tùy thời gian mà lựa chọn và sử dụng sao cho đạt được hiệu quả cao nhất và dự phòng được các tác dụng không mong muốn.


Phương Thảo

Mặc dù tôm khô là món ăn phổ biến trong nhiều bữa ăn Việt, nhưng với cách chế biến độc đáo từ nguồn nguyên liệu tươi sống trên những cánh đồng ngập mặn, tôm khô Cà Mau lại mang một

Mặc dù tôm khô là món ăn phổ biến trong nhiều bữa ăn Việt, nhưng với cách chế biến độc đáo từ nguồn nguyên liệu tươi sống trên những cánh đồng ngập mặn, tôm khô Cà Mau lại mang một hương vị khác lạ. Vị ngọt của đất, vị mặn của biển, uốn cong mình dưới ánh mặt trời tự nhiên hào sảng, tạo nên món đặc sản nổi tiếng của vùng đất mũi.

Tháng 6/2017, tôm khô Cà Mau được Kênh giới thiệu ẩm thực, đặc sản Việt Nam và thế giới của Tổ chức Kỷ lục Việt Nam – VietKings, bình chọn là một trong top 10 đặc sản quà tặng của Việt Nam- bên cạnh các đặc sản như Trà Shan tuyết Suối Giàng (Yên Bái), Bánh đậu xanh (Hải Dương), Mè xửng (Thừa Thiên Huế), Tỏi Lý Sơn (Quảng Ngãi), Rượu Bàu Đá (Bình Định), Yến sào (Khánh Hòa), Cà phê Buôn Mê Thuột (Đắk Lắk), Sâm Ngọc Linh (Kon Tum) và Mật ong (Gia Lai).

Tôm khô Cà Mau: Mang hương thơm của ánh nắng miền Tây… - Ảnh 1.
Chính sự kết hợp hài hòa giữa rừng và biển, sự đan xen giữa hệ sinh thái mặn, ngọt và lợ, tạo cho vùng bán đảo Cà Mau một hệ sinh thái đa dạng, phong phú, nơi được xem là xứ sở của nhiều đặc sản đặc trưng nổi tiếng: Mật Ong U Minh, khô bổi U Minh, Ba Khía Rạch Gốc,… Trong đó, rất thích hợp để làm quà tặng cho người thân sau mỗi chuyến hành trình có một thứ mà du khách không thể bỏ qua đó là tôm khô. Mang mùi thơm của nắng miền Tây, chút vị ngọt đậm đà nơi đầu lưỡi, màu đỏ cam tự nhiên hấp dẫn khiến ai ai cũng phải xuýt xoa.

Tôm khô Cà Mau: Mang hương thơm của ánh nắng miền Tây… - Ảnh 2.
Nguyên liệu để làm tôm khô cũng khá đa dạng như tôm sắt, tôm chì, tôm bạc, tôm đất, tôm giang… Tùy theo loại và cỡ tôm lớn nhỏ mà có giá bán khác nhau. Nghề làm tôm khô tưởng chừng không quá khó khăn này lại không hề đơn giản. Phải thức khuya dậy sớm theo con nước và không thể chủ động về số lượng tôm nguyên liệu. Để tạo nên con tôm khô thường phải trải qua 4 giai đoạn chính là: luộc, phơi, đập và tách vỏ. 

Khâu luộc là quan trọng nhất, quyết định chất lượng con tôm, nếu lạt, khó bảo quản lâu, còn mặn quá sẽ làm mất hương vị đặc trưng của tôm. Con tôm sau khi bắt lên, rửa sạch tôm cho vào chảo luộc có pha chút muối. Lửa bếp phải thật lớn ngọn, phải đảo đều cho tôm khoảng 5 phút để con tôm vừa chín thì vớt ra ngay. Nếu để lâu, thịt tôm sẽ mất độ dai và dính sát vào vỏ. Thường người ta luộc tôm vào buổi hừng sáng để con tôm có rộng thời gian phơi cho được nắng. Con tôm phơi được nắng là chỉ phơi trong hai ngày, nếu kéo dài hơn, tôm khô sẽ có mùi tanh và bị mất màu.

Tôm khô Cà Mau: Mang hương thơm của ánh nắng miền Tây… - Ảnh 3.
Đến giai đoạn cuối, thông thường bà con sẽ lựa riêng một phần tôm để đập và tách vỏ, còn lại một phần để khô nguyên vỏ. Tôm khô nguyên vỏ được làm từ loại tôm đất sông tại vùng Năm Căn. Những con tôm tươi ngon được phơi khô nguyên vỏ có màu vàng suộm hấp dẫn, phần thịt dày dặn, săn chắc rất thích hợp để dữ trữ dùng dần, rất tiện lợi mà lại còn bổ dưỡng. 

Ưu điểm của loại tôm khô nguyên vỏ so với loại tôm đã bóc vỏ là phần thịt bên trong không quá khô, cứng mà giữ được vị ngọt tự nhiên của nó. Tuy nhiên bạn sẽ phải bóc lớp vỏ này khi nấu hoặc khi ăn. Tôm khô nguyên vỏ Cà Mau sau khi phơi hoặc sấy khô có màu vàng cam nhạt chứ không đậm như loại đã lột vỏ, vì nó không hề được tẩm ướp thêm phụ gia hoặc phẩm màu nên màu sắc rất tự nhiên. Mùi vị của tôm khô nguyên vỏ rất thơm, chỉ cần mở bao bì ra là có thể thấy mùi tôm khô lan tỏa hấp dẫn.

Tôm khô Cà Mau: Mang hương thơm của ánh nắng miền Tây… - Ảnh 4.
Có nhiều cách để thưởng thức tôm khô mà trong đó cách "bóc bỏ miệng" là ngon nhất! Cái độ dai dai của con tôm hòa trong cái mằn mặn của muối biển chưa kịp tan ra thì cái vị ngọt tự nhiên của con tôm đã thấm vào đầu lưỡi lan xuống vòm họng, để rồi khi nhai hết con tôm, cái vị ngòn ngọt ấy vẫn còn vương vấn cổ họng, khiến người ta muốn bóc thêm con nữa ăn ngay. Ngoài ra, những món ngon được làm từ tôm khô thì nhiều lắm, có thể kể một vài món phổ biến như: tôm khô củ kiệu, gỏi xoài tôm khô, bắp xào tôm khô, tôm khô kho quẹt,…


Băng Hảo

Gõ từ khóa và nhấn Enter